www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu

Vĩnh Trường – Vơ Trung Tín (HD 63-64)

     Thông thường theo tập quán dân ta “Gái th́ giữ việc trong nhà, khi vào canh cửi khi ra thêu thùa”. Người đàn bà chỉ quanh quẩn lo việc bếp núc, nuôi dưỡng con cái (phúc đức tại mẫu là lời thế gian- Gia Huấn Ca) quản trị gia đ́nh để cho người chồng ra gánh vác công việc quốc gia đại sự, ǵn giữ biên cương… v́ vy có rất ít phụ nữ nổi bật trên chính trường. Đấy không phải v́ phụ nữ nước ta không có tài làm chính trị, mà bởi v́ ngày xưa phụ nữ luôn bị kềm kẹp trong cái câu “tam ṭng tứ đức”, luôn sống trong cái cảnh “khuê môn bất xuất”.
     Do đó,
nhân vật nữ nào được nổi bật th́ ất phải là kiệt xuất lắm. Lịch sử nước ta cũng đă ghi nhận nhiều bậc nữ lưu anh thư như Hai Bà Trưng, Bà Triệu… đă oanh liệt cầm quân đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cỏi, nền độc lập, và tự chủ của quốc gia mà tổ tiên ta bao nhiêu đời đă gầy dựng được, như Ca Dao Tục ngữ cũng có nói đến: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”. Và cách đây khoảng 1000 năm, lịch sử Đại Việt đă biết đến một phụ nữ kiệt xuất có tài kinh bang tế thế: đóThái Hậu Ỷ Lan.
    
Vào thời nhà Lư, một bậc nữ lưu danh tiếng vào bậc nhất với tài chính trị và quân sự không thua ǵ các đấng quân vương, đă hai phen đăng đàn nhiếp chính, tỏ rỏ tài trị quốc an bang ưu việt, làm rúng động cả thiên triều Trung Quốc thời bấy giờ phải nể mặt đàn bà nước Nam.
    
Hoàng Thái Hậu nhà Lư, vợ thứ của vua Lư Thánh Tông, mẹ của vua Lư Nhân Tông. Bà là một người đàn bà thông minh đảm lược đă có công ổn định triều chính, xây dựng đất nước giầu mạnh nhất là về Phật giáo. Bà đă góp sức cùng với Lư Thường Kiệt để lănh đạo dân quân Đại Việt đánh tan tành quân nhà Tống vào thế kỷ 11 cách đây 1000 năm. Tuy nhiên, để có thể có quyền hành nhiếp chính đất nước, bà đă mưu kế phế truất và sát hại Thái hậu nhiếp chính tiền nhiệm là Thượng Dương Thái hậu. Việc làm này đă gây nên nhiều tranh căi cho các nhà nghiên cứu lịch sử nước nhà.

Thân thế và sự nghiệp
    
Theo truyền thuyết, bà có tên là Lê Thị Khiết, sinh ngày 7/3 năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗi (sau đổi là Siêu Loại. Đời Nguyễn thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Thân phụ của bà là Lê Công Thiết làm một chức quan nhỏ ở kinh thành Thăng Long; và mẹ tên là Vũ Thị T́nh, một người làm ruộng tại hương Thổ Lỗi. T nhỏ đă có tiếng là người con gái xinh đẹp, chăm ngoan, hiếu học và thông minh (được cha và sư chùa làng dạy chữ)
    
Đến năm bà được 10 tuổi, th́ mẹ bị bịnh mất sớm; cha lấy mẹ kế họ Đồng, nhưng ít lâu sau ông cũng qua đời. Kể từ đó, bà chung sống với người mẹ kế.

Vào cung, được vua sủng ái
    
Sử chép rằng, thời bấy giờ vua Lư Thánh Tông đă 40 tuổi mà chưa có con trai nối ngôi, ḷng lấy làm lo lắng, bèn đi cầu tự ở khắp nơi. Xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt.
     Mùa xuân năm Giáp Th́n 1064, vua Lư Thánh Tông đi cầu tự và mở hội tuyển cung nữ ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Khi đi qua hương Thổ lỗi, ngài vén rèm nh́n ra, thấy thần dân đang sụp lạy, duy từ xa có người con gái ng
ồi tựa vào cây lan và vẫn điềm nhiên xem việc ngự giá của vua không có quan hệ ǵ đến ḿnh. Lư Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đ̣i người con gái có vẻ "kiêu căng" đang đứng kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: “Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nh́n mặt rồng".
     
Vua thấy cô gái tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ th́ đoan trang dịu dàng, lời nói phong nhă, đối đáp phân minh, lễ nghĩa rành rành. Vua yêu v́ sắc, trọng v́ nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh thành Thăng Long.
     Nhà vua lấy ngay h́nh ảnh của kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ ấy làm hiệu
và phong cho nàng vào bậc Phu nhân, gọi là Ỷ Lan phu nhân, người đương thời cũng như người bao thế kỷ qua nhân đó mà gọi là Nguyên phi Ỷ Lan. Nhà Vua cho xây dựng một cung điện riêng để nàng ở (nay là đ́nh Yên Thái, phường Hàng Gai, Hà Nội) đặt tên là cung Ỷ Lan.

Sinh con trai được phong làm Phi
    
Khi vào Cung, không lấy việc trau chuốt nhan sắc mong chiếm được t́nh yêu của vua, mà chăm chỉ lo công việc, hướng dẫn các cung nữ, phi tần trong việc thêu thùa, dệt may; xếp đặt mọi việc trong cung nên chẳng bao lâu được mọi người trong cung và các triều thần tôn trọng, vị nể, nhà vua rất yêu mến. Ỷ Lan lại khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách nên chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan, triều thần bái phục người có tài.
    
Năm 1066, Ỷ Lan sinh hạ Hoàng Tử Càn Đức. Nhà vua rất mừng rỡ ngày hôm sau, lập làm Hoàng thái tử, phong Ỷ Lan làm Thần phi. Ít năm sau (1068), lại sinh thêm một người con trai nữa (không rơ tên, sau được phong tước Sùng Hiền hầu). Ỷ Lan thần phi liền được phong làm Nguyên phi, đứng đầu hoàng phi trong cung, chỉ dưới Thượng Dương hoàng hậu.
     Nhà vua v́ đặc biệt quư trọng Nguyên phi Ỷ Lan, vào năm 1068 đă cho đổi gọi nguyên quán của Ỷ Lan là làng Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại (nghĩa là vượt lên trên đồng loại). Địa vị của Ỷ Lan trong hoàng tộc càng trở nên vững vàng.
     Ỷ Lan không phải chỉ là cô gái đẹp mà c̣n là người tài cao, sắc sảo và rất có bản lĩnh. Hoàng đế Lư Thánh Tông quả đúng là người có con mắt nh́n người rất tinh tường.
Tài làm chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan được thể hiện ngay cả khi bà c̣n là Nguyên Phi.

Làm Nhiếp chính lần thứ nhất
    
Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069), vua Lư Thánh Tông thân chinh cầm quân đi đánh Chiêm Thành ở phương Nam. Tin cậy, trước khi đi nhà vua trao quyền điều khiển chính sự ở triều đ́nh cho Ỷ Lan nguyên phi (không phải cho Hoàng hậu Thượng Dương, cũng không phải cho Tể tướng Lư Đạo Thành) nghĩa là gần như cho bà làm vua khi vua vắng mặt.
     Cũng ngay năm ấy, nước Đại Việt không may bị lụt lớn, mùa màng thất bát, dân đói khổ sinh nạn trộm cướp, nhiều nơi loạn lạc. Thử thách quá lớn đối với vị nữ nhiếp chính c̣n rất trẻ. Nhưng nhờ có kế sách trị nước đúng đắn, quyết đoán táo bạo, nguyên phi quyết định mở kho lấy thóc cấp cho dân bị nạn, qua đó dân đói đă được cứu sống hết trộm cướp, loạn lạc đă được dẹp yên, dân chúng ca ngợi công đức của Ỷ Lan coi như Phật bà Quan âm tái thế.
    
Vua đánh giặc lâu không thắng
lại lo lắng t́nh h́nh trong nước, bèn giao binh quyền cho Lư Thường Kiệt, đem một cánh quân nhỏ quay về, dọc đường về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên) nhà vua nghe quan lại và dân ca ngợi Nguyên phi có tài trị nước, ḷng dân cảm hóa ḥa hợp, trong cơi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi bà là Quan Âm, ḷng lấy làm xấu hổ mà nói: "Nguyên phi là đàn bà mà c̣n làm được như thế, ta là nam nhi đi đánh Chiêm-thành không thành công, thế ra hèn lắm à?". Nói rồi quyết chí cho quân quay lại đánh Chiêm tiếp và thắng trận. Lần này ngài đă bắt được vua Chiêm là Chế Củ và 5 ngàn tù binh. Năm sau (1070), Chế Củ xin đem đất ba châu: Địa Lư, Ma Linh, Bố Chính (tức vùng Quảng B́nh, Quảng Trị) để chuộc tội.
    
Mùa thu tháng 8 Năm Canh Tuất, vua Lư Thánh Tông, cho xây dựng Văn Miếu (c̣n tồn tại đến nay), đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế và đưa Hoàng Thái Tử đến đấy học. Như vậy Văn miếu ngoài việc thờ các bậc Tiên hiền của đạo Nho, c̣n mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học tṛ đầu tiên là Thái tử Lư Càn Đức, con trai vua Lư Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi. Năm sau xây tháp và chùa Chùa Phật Tích c̣n gọi là chùa Vạn Phúc là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (c̣n gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xă Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá lớn nhất Việt Nam. Việc nầy được cho là có công sức lớn của Ỷ Lan v́ bà không chỉ là người sùng đạo Phật mà cũng rất trọng Nho giáo và việc học hành.

Mưu đoạt quyền bính
     Tháng Giêng năm Nhâm Tư (1072), vua Lư Thánh Tông lâm bệnh nặng rồi
đột ngột qua đời, Thái Tử Càn Đức lên ngôi mới có 6 tuổi, tức là vua Lư Nhân Tông, tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi làm Hoàng Thái Phi, tôn mẹ đích là Thượng Dương hoàng hậu, làm Hoàng thái hậu, và để cho Thái hậu Thượng Dương cùng dự việc triều chính, có Thái sư Lư Đạo Thành giúp đỡ công việc.
    
Trong khi vua c̣n nhỏ, t́nh h́nh trong nước không ổn định, Chiêm Thành đă mang quân chiếm lại 2 châu cũ; Vương An Thạch là tể tướng nhà Tống cho rằng nước ta đang suy yếu nên sai Thẩm Khởi và Lưu Gi tập hợp quân mă, đóng thuyền bè tại Quế Châu chuẩn bị sang xâm chiếm.
     
Trong triều Lư nảy sinh bè cánh: quyền hành nằm trong tay Thái sư Lư Đạo Thành và Thái hậu Thượng Dương. Mẹ đẻ của Nhân Tông là Nguyên phi Ỷ Lan không được dự vào việc triều đ́nh, bèn dựa vào Lư Thường Kiệt để lấy lại quyền nhiếp chính.
     Lư Thường Kiệt khi đó làm Thái uư, chức vụ ở dưới Lư Đạo Thành. Ông ngả theo Nguyên phi Ỷ Lan để chống lại phe Dương
Thái Hậu dựa vào Lư Đạo Thành. Sử không chép rơ về diễn biến việc tranh chấp quyền lực giữa hai bên, nhưng tới tháng 6 năm 1072 tức là 4 tháng sau khi Nhân Tông lên ngôi, phe Ỷ Lan và Lư Thường Kiệt thắng thế, trong đó ngoài tác động của Ỷ Lan ở bên trong với vua Nhân Tông, c̣n có vai tṛ của vơ tướng Lư Thường Kiệt.
    
Ỷ Lan mun giành lại quyền chính, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quư người khác hưởng, thế th́ sẽ để mẹ già vào đâu?”. Năm Quư Sửu (1073) Vua sai đem giam Dương Thái Hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông, sau đó Lư Đạo Thành bị giáng chức làm Tả gián nghị đại phu, ra trấn thủ Nghệ An. Ỷ Lan được tôn làm Linh Nhân Hoàng Thái Hậu nm quyền buông rèm nhiếp chính.
    
Việc xử chết Dương thái hậu và giáng chức Đạo Thành, một ḿnh Ỷ Lan không thể thực hiện mà phải có vai tṛ của Lư Thường Kiệt, người nắm quân đội trong tay, trong khi Lư Đạo Thành vốn là quan văn và tuổi tác đă cao. Từ đó Lư Thường Kiệt giữ vai tṛ Thái úy, Tổng Chỉ Huy quân đội để đảm bảo an ninh đất nước.

Làm Nhiếp chính lần thứ hai
    
Đoạt được quyền nhiếp chính và trở thành Hoàng Thái Hậu, năm 1074, không nghĩ đến hiềm khích cũ, Ỷ Lan lại cho vời Lư Đạo Thành về triều rồi trao chức Thái Phó B́nh Chương Quân Quốc Trọng Sự, để cùng với Tướng Phụ Chính là Lư Thường Kiệt ra tài ổn định và phát triển đất nước. Nhờ vậy mà quân đội nhà Lư đủ sức “phá Tống, b́nh Chiêm
    
Chưa hết, trước khi đánh quân Tống, Lư Thường Kiệt đă mang quân đánh Chiêm vào năm 1075 và giành được chiến thắng. Nên nhớ rằng, việc “Phá Tống, b́nh Chiêm” của Lư Thường Kiệt diễn ra thành công khi ấy vua Nhân Tông chỉ là một cậu bé lên mười. Và như thế, việc triều đ́nh tất nhiên do Thái Hậu Ỷ Lan lănh đạo. Ỷ Lan chỉ là một người đàn bà sống trong cái xă hội do đàn ông thống trị xưa kia, th́ quả thật, nếu không có thực tài chính trị để điều hành đất nước, th́ bà cũng không dễ ǵ lănh đạo nổi hai nhân vật kiệt xuất như Lư Thường Kiệt và Lư Đạo Thành.
    
Sử c̣n chép rằng, ở địa vị tột đỉnh của hiển vinh, Thái Hậu Ỷ Lan
cũng không quên nỗi đau khổ của nông dân. Khi Lư Thánh Tông mất, con bà lên ngôi, Vào mùa xuân năm Quư Mùi (1103) bà đă làm được nhiều việc có ích cho dân. Ở nông thôn bấy giờ có nhiều phụ nữ v́ nghèo mà phải bán ḿnh, đem thân thế nợ, không thể lấy chồng được, bà Ỷ Lan đă lấy tiền bạc trong quốc khố chuộc những người ấy và đứng ra dựng vợ gả chồng cho họ.
    
Thái Hậu Ỷ Lan rất hiểu rằng đối với người nông dân th́ “con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên đă nhiều lần nhắc nhở vua Nhân Tông phạt nặng những kẻ ăn trộm trâu và giết trâu.Tháng hai năm Đinh Dậu (1117), giai đoạn trước khi bà mất, bà c̣n nhắc nhở vua một lần nữa: “Gần đây, người kinh thành và làng ấp có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn, mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đă từng mách việc ấy và nhà nước đă ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước”.
     Lời khuyên vua trên đây chứng tỏ Thái Hậu Ỷ Lan
luôn quan tâm theo dơi và lo lắng đến đời sống nông dân. Không chỉ có thế, kinh tế Đại Việt bấy giờ cái chính vẫn là nông nghiệp, bởi vậy chăm lo cho nông dân cũng chính là chăm lo cho nền kinh tế đất nước. Tuy việc con trâu bề ngoài là chuyện nhỏ, nhưng lại có ư nghĩa chiến lược rất lớn vậy.
     Vâng lời mẹ, vua Lư Nhân Tông hạ lệnh truy bắt và trừng trị những kẻ chuyên nghề ăn trộm trâu. Không những thế việc giết trâu ăn thịt những ngày giỗ đám cũng bị hạn chế. Chính quyền nhà Lư quy định ở Thăng Long cũng như tại các địa phương trong cả nước cứ ba nhà lập một “bảo” kiểm soát lẫn nhau và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tội lạm giết trâu ḅ.

    
Ngoài những đóng góp nói trên, Thái Hậu Ỷ Lan c̣n có một đóng góp vô cùng quan trọng mà không thể nào không nhắc tới, đó là bà đă sinh ra và đào tạo được một minh quân cho đất nước như Lư Nhân Tông.
    
Các bộ sử đều ghi lại việc đất nước phát triển phồn thịnh về mọi mặt dưới thời Lư Nhân Tông. Đặc biệt về giáo dục, vào năm 1075, triều đ́nh cho mở khoa thi tam trường để lấy người văn học ra làm quan.  Đây là kỳ thi đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn 10 người trong đó thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076, triều đ́nh lập Quốc Tử Giám, được xem là trường đại học đầu tiên của nước ta. Nền giáo dục Nho Học của nước Việt bắt đầu từ đó.
     Ta thấy trong giai đoạn này, vua Nhân Tông chỉ độ 10 tuổi, Lư Đạo Thành lo việc nội chính, Lư Thường Kiệt th́ lo đánh giặc ngoại bang, trên th́ có Thái Hậu Ỷ Lan lănh đạo. Sử gia Trần Trọng Kim nhận định về giai đoạn này như sau: “…trong th́ sửa sang được chính trị, ngoài th́ đánh nhà Tống, phá quân Chiêm. Ấy cũng nhờ có tôi hiền tướng giỏi cho nên mới thành được công nghiệp như vậy”. Và lẽ dĩ nhiên, để có được cái “tôi hiền tướng giỏi” đó, th́ người lănh đạo tối cao là Thái Hậu nhiếp chính phải có thực tài lănh đạo.
     Ỷ Lan đă thi hành những biện pháp dựng nước, yên dân, khiến cho thế nước và sức dân mạnh hẳn lên. Bởi vậy, năm 1077 khi Tống triều cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược, với toàn quyền điều khiển triều đ́nh, Ỷ Lan đă huy động cả dân tộc cầm vũ khí đánh bại quân thù
; không như bọn vong nô CS hin tại hèn vi gic, ác vi dân chỉ lo tham ô ich kỷ, bán nưc cu vinh.

Lư Thường Kiệt Phạt Tống:
    
Từ nhà Đinh, nhà Lê trở đi, Tàu khựa vẫn luôn lăm-le có ư muốn xâm-lược nuc ta. Đến đời vua Thần-tông nhà Tống (1068-1078) quan Tể-tướng là Vương an Thạch cải-tổ việc chính-trị nước Tàu, đt ra nhiu lut l mi trái với chế-độ và phong-tục cũ, sách nhiu ngưi dân, ai ai cũng đều oán hận. Nguyên do nhà Tống bấy giờ suy yếu bị nước Bắc-liêu và nước Tây-hạ ức hiếp, hằng năm phải đem vàng bạc và lụa vải sang cống hai nước ấy, mà trong nước th́ không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần-tông mới dùng ông Vương an Thạch làm Tể-tướng để sửa-sang mọi việc.
    
Vương an Thạch lại có ư muốn lập công ở ngoài biên, để tỏ cái công-hiệu việc cải-tổ của ḿnh. Bấy giờ viên quan Tri Châu ở Ung-châu là Tiêu Chú biết ư Vương an Thạch, mới làm sớ tâu về triều rằng: nếu không đánh lấy đất Giao-Châu th́ về sau thành một điều lo cho nước Tàu.
    
Vua nhà Tống nghe lời tâu ấy, bèn sai Lưu Gi làm Tri-châu Châu Quế ra sức chuẩn bị cho việc tấn công Đại Việt theo ư Vương an Thạch. Lưu Gi sai người vẻ  họa đồ các khe ng̣i, các đồn-lũy, chế tạo binh-khí, đóng thuyền bè, xây dựng đường giao thông, cơ sở chứa lương thực, huấn luyện binh sĩ, cho quân đóng trại sát biên giới Tống-Việt. Việc thứ hai là phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Sợ Đại Việt biết, ông cấm hẳn mọi việc buôn bán, giao dịch giữa các biên dân Việt-Trung.
    
Đặc biệt, nhà Tống đă biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.
     Mọi sự chuẩn bị chinh phạt của nhà Tống đều được cố gắng giữ bí mật. Tuy
vy t́nh báo của Đại Việt vẫn sm biết và nắm được ư đồ của quân Tống.
    
Lan Thái Phi và Thái úy Đại Việt là Lư Thường Kiệt chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đ̣n phủ đầu nên quyết định thực hiện một  cuc tn công quân Tng vào cuối năm 1075 đầu năm 1076, phá hủy các căn cứ hậu cần chuẩn bị cho chiến tranh của nhà Tống.
    
Năm Ất-măo (1075) Đại Việt đă huy động 10 vạn quân, bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đ́nh lẫn quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Đại Vit. sang đánh phá căn cứ Ung Chau của Tống.
     Đạo quân của triều đ́nh ở phía Đông do đích thân Lư Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái tiến vào đất Tống nhằm tới châu Khâm.
    
C̣n đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tôn Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỹ từ Quảng Nguyên, Cao Bằng; Hoàng Kim Măn từ Môn Châu, Đông Khê; Thân Cảnh Phúc từ Lạng SơnVi Thủ An từ Quảng Ninh đồng nhắm tới châu Ung. Đạo quân phía Tây sẽ "dương Tây" để đạo quân phía Đông bất ngờ "kích Đông".
    
Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Vi Thủ An dẫn 700 quân từ Tô Mậu (Quảng Ninh) đánh vào Cổ Vạn, chiếm được trại. Tin tức nầy đến tận ngày 21 tháng 12 mới tới được triều đ́nh nhà Tống. Tiếp theo, các mũi quân phía Tây lần lượt đánh chiếm trại Vĩnh B́nh, Thái B́nh, các châu Tây B́nh, châu Lộc trại Hoành Sơn.
    
Quân Tống bị thu hút vào phía Tây, nên lơ là phía Đông. Khi đạo quân phía Đông của Đại Việt tập kích, quân Tống đă không chống đỡ nổi. Ngày 30/12/1075, châu Khâm bị chiếm. Ngày 2/1/1076, châu Liêm thất thủ. Sau đó, Lư Thường Kiệt dẫn quân đến châu Ung cùng đạo quân phía Tây quyết tâm hạ thành châu Ung.
    
Từ ngày 10/12/1075, cánh quân đầu tiên do Tôn Đản chỉ huy đă kéo đến Ung Châu.. Ngày 18/1/1076, Các cánh quân của Lư Thường Kiệt cũng tới thành Ung Châu. Tướng giữ thành là Tô Giám thấy thế quân Đại Việt mạnh nên đă áp dụng triệt để chính sách cố thủ để chờ viện quân.
    
Một lực lượng cứu viện của Tống do Trương Thủ Tiết chỉ huy đă đi ṿng theo đường Quí Châu tới Tân Châu rồi đến ải Côn Lôn giữa châu Tân và châu Ung. Cách Ung 40 km th́ lực lượng ny bị Lư Thường Kiệt cho quân đón đánh. Trương Thủ Tiết, Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn là các chỉ huy của lực lượng viện binh nhà Tống đều bị giết tại trận vào ngày 4 tháng Giêng âm lịch (tức 11 tháng 2 năm 1076).
     Thành Ung kiên cố lại có Tô Giám là tướng giỏi, nên quân Đại Việt đánh phá hơn 40 ngày không hạ được. Sau, quân Đại Việt bắt dân Tống, sai lấy túi đất đắp vào chân thành để leo lên đánh. Ngày
1/3/1076, sau 42 ngày kiên cường kháng cự, thành Ung thất thủ. Tô Giám tự sát. Quân Đại Việt giết hết dân trong thành, tổng cộng 5 vạn người. Lư Thường Kiệt ra lệnh tiêu hủy thành lũy, phá kho tàng dự trữ trong vùng Tả Giang và lấy đá lấp sông chặn đường cứu viện của quân Tống
    
Quân nhà Lư đánh các châu Liêm, Khâm và Ung, thành công tiêu diệt khoảng 7-10 vạn quân và dân nhà Tống, và bắt được hàng ngàn người đem về Đại Việt cùng nhiều của cải. Sau khi hoàn thành mục tiêu phá hủy các căn cứ hậu cần của đối phương, quan quân nhà Lư rút về nước.

Chi
ến Tranh vi Nhà Tng năm 1077
    
Tống-triều được tin quân nhà Lư sang đánh-phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, lấy làm tức-giận lắm, bèn sai Quách Qú làm Chiêu-thảo-sứ, Triệu Tiết làm phó, đem 9 tướng quân cùng hội với nước Chiêm-thành và Chân-lạp chia hai đường thủy bộ sang đánh nước Nam ta. Ln ny họ điều động cả bộ binh lẫn thủy binh nhằm chuẩn bị đánh Đại Việt.
    
Tháng chạp năm bính-th́n (1076) quân nhà Tống khởi binh xâm lược Đại Việt. Ngày 8-1-1077 quân xâm lược Tống tiến vào nước ta theo hai ngả ở biên giới phía Bắc và một ngả theo đường biển Đông Bắc vào địa-hạt nước ta. Triu đ́nh nhà Lư cngThường Kiệt đem binh đi cự địch. Lư Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược pḥng thủ: ông dùng các đội quân của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nhằm quấy rối hàng ngũ của quân Tống. Các tướng Lưu Kỹ, pḥ mă Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đem quân chặn đánh, vừa tiêu hao vừa làm tŕ hoăn bước tiến của chúng. Địch phải tiến quân vất vả, nhất là trước các cửa ải Quyết Lư, Chi Lăng Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, đồng thời Lư Kế Nguyên chặn đánh thủy binh nhà Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy trên sông Bạch Đng nhằm ngăn chặn kế hoạch hội quân của nhà Tống từ Quảng Đông xuống... Sau kế hoạch ngăn chặn quân Tống tại vùng núi phía Bắc, Lư Thường Kiệt lui đại quân về phía Nam Sông Cầu. Được sự giúp sức của dân, Lư Thường Kiệt đă xây dựng một pḥng tuyến trên sông Như Nguyệt (Một đoạn của khúc sông Cầu) để biến nơi đây là nơi diễn ra trận đánh quyết định của cả cuộc chiến.

L
c lưng đôi bên:
    
Toàn bộ quân Tống huy động khoảng 30 vạn, trong đó có cả bộ binh, kỵ binh và thủy binh. Theo kế hoạch, bộ binh và kỵ binh tập trung ở Ung Châu, theo đường bộ đột nhập biên giới vùng Đông Bắc Đại Vit. Thủy binh sẽ từ cửa biển Khâm, Liêm vượt biển tiến vào cửa sông Bạch Đằng để phối hợp với bộ binh.
    
Quân Tống khoảng 100.000 quân b chiến 10.000 kỵ binh, 200.000 dân phu, đồng thời có sự hỗ trợ từ lực lượng thủy binh. Quân đội có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn trang bị tốt với máy bắn đáhỏa tiễn. Chỉ huy là Quách Quỳphó chỉ huy là Triệu Tiết cùng với nhiều tướng khác được điều về từ miền Bắc Tống. Trong số này 4,5 vạn là quân rút từ miền biên giới Liêu Hạ, do 9 tướng chỉ huy. Số c̣n lại là trưng tập ở các lộ, đặc biệt là các lộ dọc đường từ kinh đô đến Ung Châu.
    
Về phía Đại Việt, sau chiến dịch đánh đ̣n phủ đầu và rút quân về nước, đoán biết ư đồ của Tống sẽ sang đánh trả thù, Triu đ́nh đă ráo riết chuẩn bị để sẵn sàng đối phó với quân Tống. Một mặt răi gián điệp giả dạng sư săi dùng giấy tờ tu hành thu được ở Khâm, Liêm đ hoạt đng trong vùng đt địch. Mt khác bố trí lực lượng quân đội ở những vị trí hiểm yếu nhất để bảo vệ lảnh th và chủ quyn Quc Gia.
     L
ực lượng nghênh chiến của quân Đại Việt gồm đánh chặn từ xa và tuyến pḥng thủ sâu trong ni địa được bố trí thành hai tuyến: một ngay biên giới do các lực lượng của những thủ lĩnh dân tộc thiểu số chỉ huy và một tuyến pḥng thủ ở bờ Nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) kéo dài khoảng 30 km suốt từ chân dăy núi Tam Đảo ngă ba sông Cà Lồ - sông Cầu tới Vạn Xuân (Phả Lại); lợi dụng tối đa các địa h́nh tự nhiên như băi lầy, g̣ cao và cả các chiến lũy bằng đất, gỗ, rào tre. Đoạn sông ny được chọn lựa xây dựng pḥng tuyến có vị trí  chiến lược: núi cao ở cả hai bên bờ, đoạn sông có chiều ngang khá rộng hơn 100 mét, vắt ngang con đường giao thông quan trọng tiến vào Thăng Long và là con đường thuận lợi nhất để quân Tống vượt qua sông và tiến về Thăng Long. V́ địa thế quan trọng này, Lư Thường Kiệt quyết định lập một pḥng tuyến chính tại đây nhằm đánh một trận chiến quyết định.
    
Đại bộ phận Thủy Binh có khoảng 400 chiến thuyền và hơn 20.000 quân, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của hai Hoàng Tử Hoằng Chân và Chiêu Văn tập trung ở Vạn Xuân, tức là ở khu vực cực Đông của chiến tuyến sông Cầu. “Vạn Xuân là một vị trí chiến lược trọng yếu ở vào đầu mối của tất cả các đường thủy vùng Đông Bắc. Từ Vạn Xuân, thủy binh ta có thể vượt sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu tiến sâu vào địa bàn vùng Đông Bắc, có thể xuôi sông Bạch Dằng, sông Thái B́nh ra biển, có thể theo sông Đuống về Thăng Long”.
    
Tướng Lư Kế Nguyên chỉ huy mt lực lượng thủy binh tinh nhuệ khác đóng giữ ở vùng duyên hải  Đông Bắc, canh pḥng vùng biển phía Đông Bắc, với nhiệm vụ chận đánh đạo thủy quân của Dương Tùng Tiên, phá thế hợp vây của quân Tốngtriệt bớt một phần lương thảo cung cấp cho quân Tống. Lư Thường Kiệt là tổng chỉ huy chung và trực tiếp chỉ huy đánh đạo quân bộ chiến của đối phương. Quân chủ lực của nhà Lư gồm thủy binh, bộ binh pḥng thủ và chiến đấu tại sông Như Nguyệt có 60.000 quân và một số lực lượng không tham gia trực tiếp vào trận đánh dùng để hăm chân và quấy rối tiếp vận phía sau ước lưng khoảng trên 15.000.

Chiến trường
    
Ngày 11 tháng Chạp năm Bính Th́n (nhằm ngày 8/1/1077), Quách Quỳ và Triệu Tiết dẫn quân vượt qua ải Nam Quan tiến vào vùng Lạng Sơn và đánh xuống phía kinh đô Thăng Long.
    
Ngay từ đầu, quân Tống đă gặp phải sự chống cự hết sức mạnh mẽ của thổ binh do Thân Cảnh Phúc chỉ huy, quân Tống buộc phải tổ chức phá ải Quyết Lư. Tại đây Thân Cảnh Phúc đă bố trí mấy ngàn quân có cả voi chiến, để cố thủ cửa ải. Quân Tống cố sức công kích nhưng đều bị đẩy lùi. Quân Đại Việt dựa vào thế đất hiểm, có tổ chức pḥng ngự vững chắc, đánh trả hết sức quyết liệt. Quách Quỳ buộc phải cử tướng Trương Thế Cự chỉ huy một đạo tinh binh lên tiếp ứng.
    
Thấy cầm cự lâu không có lợi, Thân Cảnh Phúc đă điu động lui quân về tuyến sau cố thủ cửa ải Chi Lăng. Biết ải Chi Lăng không những là đất hiểm mà c̣n được xây đắp kiên cố. Quân Tống cho một đội tiền quân tiến công vào chính diện. C̣n hai đạo quân mạnh do Yên ĐạtThế Cự chỉ huy đi ṿng qua phía tây núi Cai Kinh, theo đường đất đánh bọc vào sau Chi Lăng, tạo nên thế hai mặt trước sau cùng đánh. Từ trên thành lũy và trên sườn núi cao, quân Đại Việt dùng n, và máy bắn đá bắn vào đội h́nh xung phong của quân Tống, đồng thời Tượng binh xông ra phản kích. Quân Tống bị thương vong rất nhiều.
    
Nhưng lực lượng chênh lệch quá lớn, lợi dụng đêm tối Thân Cảnh Phúc đă chỉ huy quân rút theo đường tắt, lui về pḥng giữ căn cứ Động Giáp, chuyển sang đánh du kích phía sau lưng quân Tống.
    
Trong lúc đại quân của Quách Quỳ đang tiến công sang, th́ đạo quân do Nhâm Khởi chỉ huy từ Vĩnh An đánh ngược lên Tô Mậu. Vị thủ lĩnh trấn giữ tại đây, chống cự không nổi, đầu hàng quân Tống. Nhâm Khởi cho quân theo hữu ngạn sông Lục Nam đánh xuống núi Nham Biền để trực tiếp bảo vệ sườn cánh trái của đạo quân Quách Quỳ. Đạo hữu quân do Khúc Trân chỉ huy, từ Quảng Nguyên đánh xuống Môn Châu. Hoàng Kim Măn chấn giữ châu này đầu hàng quân Tống.
    
Đạo quân Triệu Tiết (phó tướng) là một lực lượng đột kích chiến lược trên hướng thứ yếu, có sự yểm trợ trực tiếp của hữu quân Khúc Trân phía sườn phải, nhanh chóng vượt biên giới xuống B́nh Gia, Vạn Nhai. Tại những nơi này quân Đại Việt chỉ có những lực lượng nhỏ án ngữ bởi thế Triệu Tiết nhanh chóng vượt qua, tiến thẳng xuống Nhă Nam và bến Như Nguyệt
    
Đến ngày 18-1-1077 Quân Tống đến bờ Bắc sông Như Nguyệt, đối diện với tuyến pḥng thủ chủ lực của quân Đại Việt. Quân Tống không đánh ngay mà đợi đạo thủy quân tới để phối hợp tác chiến vượt sông nên chia quân đóng dọc theo b sông, tập trung ở các vị trí quan trọng: phó tướng Triệu Tiết đóng tại khu vực thôn Mai Thượng, xă Mai Đ́nh, Hiệp Ḥa, tỉnh Bắc Giang khoảng đối diện bến Như Nguyệt. Quân chủ lực do Quách Quỳ chỉ huy đóng tại phía Đông cách Triệu Tiết chừng 30 km khoảng đối diện với Thị Cầu. Các bộ phận khác đóng tại các vị trí cần thiết, tại các ngọn núi quan trọng như núi Phượng Hoàngnúi Tiên, pḥng trường hợp bị quân nhà Lư tấn công hoặc có thể tổ chức vượt sông nếu hoàn cảnh thun tin.
    
Chiến lũy được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày mấy tầng làm dậu. Dưới băi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành một tuyến pḥng ngự dài 30km, xác định các khu pḥng ngự then chốt, bố trí binh lực thành các lực lượng "trú chiến" rất vững chắc. Quân của nhà Lư đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Mỗi trại binh có thể có thêm thủy binh phối hợp. Đại Quân do chính Lư Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể điu động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long.

Trận thủy chiến Đông Kênh
    
Đạo thủy quân Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy, khoảng 5-6 vạn cùng vài trăm chiến thuyền loại lớn tiến vào hải phận Đại Việt để phối hợp với đạo quân của Quách Quỳ theo kế hoạch đă định trước.
     T
ừ Khâm Châu Đạo quân nầy đi theo hướng Tây Nam một ngày đến Vĩnh An ở địa đầu nước ta. Từ Vĩnh An thuyền đi theo sông Đông Kênh vào cửa Bạch Đằng lên Vạn Xuân rồi đến Thăng Long.
    
Sông Đông Kênh  là dăi nước khá rộng ven biển giữa đất liền và các hải đảo vùng biển Đông. Lực lượng thủy binh do Lư Kế Nguyên chỉ huy dựa vào thế hiểm của miền biển Vĩnh An lập thế trận mai phục dài tới hàng chục dặm.
     Thủy quân T
ng tiến theo đội h́nh hàng dọc. Đi đầu là quân trinh sát và tiên phong, sau đó là thuyền lương. Dương Tùng Tiên không phát hiện được quân ta mai phục ở sông Đông Kênh, nên ra lệnh cho quân tiến gấp vào sông Bạch Đằng.
    
Đợi cho hạm đội Tống đă lọt vào trận địa mai phục, Lư Kế Nguyên phát lệnh tấn công. Các thủy đội của ta đồng loạt tấn công mạnh vào đội h́nh hành quân của địch. Bị đánh bất ngờ, Dương Tùng Tiên chống đỡ không nổi. Các tướng thuộc hạ như Bùi Cảnh, Trương Thuật, Bành Tôn, vv… tuy rất hăng hái nhưng cũng không tiến lên được, lại bị tổn thương nhiều. Trận thủy chiến diễn ra quyết liệt, quân Tống thua to, dù hạm đội của họ tuy lớn, có nhiều thuyền chiến nhưng chỉ là loại thương thuyền nặng nề chậm chạp, thủy binh là quân ô hợp. Thủy binh của Đại Việt là những chiến binh thiện chiến, dùng thuyền nhỏ nhẹ, cơ động, lại dựa vào thế hiểm để lập thành thế trận mai phục dài tới vài chục dặm.
    
Quân Tống thua lớn hơn trăm chiến thuyền bị đánh ch́m, hàng vạn quân bị giết và bị bắt. Từ Vĩnh An, giặc điên cuồng mở đường máu để tiến lên, nhưng cả mười trận liều lĩnh đều bị đánh bại cả mười. Dương Tùng Tiên phải ra lệnh cho các chiến thuyền c̣n lại chạy về phía Đông tập họp lại ở cửa sông Đông Kênh án binh bt đng, rồi lui về Liêm Châu để khỏi bị tiêu diệt.
     Thắng lợi của trận thủy chiến Đông Kênh đă làm thất bại hoàn toàn kế
liên hợp thủy bộ  chiến lược của Quách Quỳ, và đă khiến cho mưu đồ chung của Quách Quỳ và Triệu Tiết bị hoàn toàn sụp đổ. Đại binh của nhà Tống lâm vào thế bế tắc và khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng. Kế hoạch vượt sông Cầu không sao thực hiện được.

Quân Tống tấn công lần thứ nhất:
    
Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ ở bờ Bắc sông Như Nguyệt, muốn thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đă đề ra. Nhưng v́ thủy binh chưa đến, Quách Quỳ cho quân đóng trại tại bờ Bắc sông Như Nguyệt đối diện với pḥng tuyến của quân nhà Lư để chờ thủy binh hỗ trợ cho việc vượt sông.
    
Quách Quỳ đâu biết rằng cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy đă bị thủy quân Đại Việt do Lư Kế Nguyên chỉ huy đă liên tục tập kích thảm bại tại sông Đông Kênh, thủy quân Tống buộc phải rút lui về vùng biển Liêm Châu, lập thủy trại cố thủ.
     Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội
tp, khoảng đầu tháng 2 năm 1077, Quách Quỳ dự định tổ chức vượt sông mà không có sự hỗ trợ của thủy quân. Tuy nhiên v́ trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh của nhà Lư án ngữ khiến ông không dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, tướng Miêu Lư đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳ rằng quân Lư đă trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông.
    
Quách Quỳ chấp thuận và tướng Vương Tiến bắt cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lư khoảng 2.000 người vượt sông. Lợi dụng được yếu tố bất ngờ, cuộc vượt sông đă thành công, đội xung kích của quân Tống đă chọc thủng được pḥng tuyến của quân Lư. Sẵn đà thắng, Miêu Lư vi tiến nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi, cách Thăng Long khoảng 8 km th́ bị phục kích chặn đánh dữ dội, đồng thời mt đi kỵ binh Đại Vit cũng tung quân đột kích cạnh sườn quân Tống tại cầu Gạo, núi Thất Diệu, địch bị rối loạn đội h́nh, một phần lớn bị tiêu diệt, phần c̣n lại vội vă tháo chạy về phía Bắc.
    
Miêu Lư cùng những binh sĩ c̣n sống chạy về phía Như Nguyệt nhưng đến nơi th́ cầu phao đă bị phá hủy và gặp quân nhà Lư đón đánh tiêu diệt gần hết, dù quân Tống đóng bên bờ kia có cố gắng cho bè sang hỗ trợ. Thất bại của Miêu Lư đă làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận và định xử tử viên bại tướng này.

Quân Tống tấn công lần thứ hai:
    
V́ thủy binh quân Tống khi ấy đă bị chặn lại ngoài biển nên không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn công lần hai mà không có sự hỗ trợ của thủy binh. Lần này, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn với sức chưa khoảng 500 quân để vượt sông. Quân Tống ồ ạt đổ sang bờ Nam nhưng họ phải vừa ra sức chặt lớp chiến rào tre, vừa phải chống lại các đợt phản công mănh liệt của quân nhà Lư mà số binh tiếp viện lại không qua kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng. Đợt tấn công lần hai lại kết thúc với thất bại.
    
Việc này đă khiến Quách Quỳ thấy rằng, nếu không có thủy binh hỗ trợ sẽ không thể vượt sông được, buộc phải ra lệnh đưa quân về thế pḥng thủ và tuyên bố rằng: "Ai bàn đánh sẽ chém!", bỏ hn ư định đánh nhanh thắng nhanh của nhà Tống. Họ chỉ dám thỉnh thoảng dùng máy bắn đá bắn sang bờ Nam.
    
Với t́nh thế này, cộng với nhiều khó khăn v́ các lư do về t́nh h́nh nhà Tống, sự quấy rối của dân binh địa phương, và việc thiếu lương thực do các cơ sở tiếp vận đă bị phá hủy trong cuộc tấn công năm 1075 của Lư Thường Kiệt, và vic tiếp vận cho 10 vạn bộ  binh và 1 vạn kỵ binh vốn dĩ cần ít nhất 40 vạn dân phu, quá sức 20 vạn dân phu mà quân Tống đang có; đă khiến họ trở nên bị động và suy giảm sức chiến đấu.

Quân nhà Lư phản công:
    
Hai tháng sau đợt tấn công cuối cùng, quân Tống lâm vào t́nh cảnh tiến thoái lưỡng nan: họ ngày càng mệt mỏi, hoang mang v́ tin tức chờ măi không thấy thủy binh đâu. Và thêm sự không hợp khí hậu Đại Việt, dù đă có thầy thuốc đi theo nhưng dịch bệnh vẫn làm cho nhiều binh sĩ đau yếu và một số chết, nhưng lại không dám rút lui v́ đó là một sự nhục nhă và tội lớn với triều đ́nh nhà Tống. Dù vậy, thế của quân Tống vẫn c̣n mạnh, họ vẫn cố thủ ở bờ Bắc Như Nguyệt t́m cách dụ quân nhà Lư tấn công.
    
Lư thường Kiệt hết sức chống giữ quân gic, nhưng sợ quân ḿnh có ngă ḷng chăng, Một đêm, Ông cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát (đn th 2 vị Tưng của Triu Quang Phục) ở phía Nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần nhân đọc vang bài thơ

     "Nam quốc sơn hà"
    
Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư
     Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
     Như hà nghịch lỗ lai xâm-phạm
    
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    
Dịch:
     Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
     Rành rạch định phận tại sách trời
     Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
     Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời

    
Sau này, bài thơ ny được coi như "Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Việt Nam. Nhờ thế tinh thần binh sĩ thêm hăng hái. Lư Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tấn công, ông nghiên cứu cách bố pḥng của quân Tống và tổ chức các đợt tấn công theo kiểu tập kích chia cắt quân Tống.
     Trư
c tiên, ông mở một đợt tấn công vào khối quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu nhằm kéo sự chú ư của toàn bộ quân Tống về hướng này dù biết rằng Quách Quỳ có một khối quân khá lớn và bố pḥng rất cẩn thận. Một đêm tháng 3 Ông lệnh cho hai Tướng là hai Hoàng THoàng Chân và Chiêu Văn (con của Vua Lư Thái Tông) dùng 400 chiến thuyền chở khoảng 2 vạn quân từ Vạn Xuân ngược ḍng sông Như Nguyệt bất ngờ đánh vào trại quân của Quách Quỳ từ hướng Đông.
    
Từ Vạn Xuân, Hoằng Chân và Chiêu Văn đă bất ngờ cho quân ngược sông Cầu, ồ ạt tấn công vào doanh trại của Quách Quỳ. Thủy binh của ta vừa đánh vừa phô trương thanh thế, cốt tập trung sự chú ư của giặc. Thời gian đầu họ chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu. Sau cơn hốt hoảng, Quách Quỳ dốc toàn lực để đánh trả. Khối quân của Triệu Tiết cũng vội vă dồn về để trợ chiến. Giặc rất hí hửng, bởi chúng muốn vượt sông Cầu để t́m diệt quân chủ lực của ta, nhưng không sao vượt được th́ giờ đây, chính quân chủ lực của ta đă xuất hiện ngay ở bờ Bắc. Một trận ác chiến đă diễn ra.
    
Tất cả các thuộc tướng cao cấp của Quách Quỳ như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lư Tường, Diên Chủngđều có mặt trong chiến địa, quân Tống lấy lại hàng ngũ phản công, đẩy quân Lư lên thuyền để rút đi. Đồng thời quân Tống c̣n cho máy bắn đá bắn với theo, đánh ch́m một số chiến thuyền. Trận này quân Lư thiệt hại nhiu, hai vị Hoàng T Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng mấy ngh́n quân đều anh dũng hy sinh. Hai vị Hoàng Tử không c̣n nữa, nhưng cuộc chiến đấu của họ đă tạo điều kiện cho đại binh của Lư Thường Kiệt dễ dàng vượt sông Cầu.
    
Trong khi mọi sự chú ư của quân Tống đều đổ dồn về phía trại quân Quách Quỳ, th́ Lư Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân vượt sang bờ Bắc tn công vào doanh trại của Triệu Tiết.
     Triệu Tiết đóng tại Bắc Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quang đăng, chính giữa là trại quân chính gọi là Dinh, hai bên trái phải là khu đất Miễu và Trại, bố trí theo kiểu dă chiến không lũy tường, chỉ tổ chức pḥng ngự tạm. Triệu Tiết có chừng 3 đến 4 vạn quân chiến đấu, nhưng một số đă được điều đi tiếp ứng cho trại quân Quách Quỳ đang bị tấn công. Chính v́ vậy, khi cánh quân của Lư Thường Kiệt tập kích, quân của Triệu Tiết nhanh chóng bị đánh bại, thương vong trên một nửa quân số đến gần hết. Số quân Tống chết nằm la liệt tại g̣ đóng quân, về sau cư dân địa phương gọi đó là g̣ Xác hay cánh đồng Xác.
    
Chiến thắng Như Nguyệt lần thứ 2 này vào cuối mùa xuân 1077 là trận quyết chiến chiến lược có ư nghĩa kết thúc chiến tranh. Lúc này, quân Tống đă ở vào t́nh cảnh thế cùng lực kiệt. Nếu c̣n đóng quân th́ rơ ràng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng rút lui th́ mất thể diện của "thiên triều'. Biết rơ ư chí xâm lược của giặc đă bị đè bẹp, Lư Thường Kiệt liền chủ động đề nghị "giảng ḥa", thực chất là mở một lối thoát cho quân Tống. Đó là chủ trương kết thúc chiến tranh mềm dẻo của Lư Thường Kiệt: "dùng biện sĩ bàn ḥa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”.
    
Vua Tống thấy quân ḿnh không tiến lên được, mà lại đóng ở chỗ chướng-địa, quân-sĩ trước sang hơn 8 vạn, sau chết đến quá nửa, cho nên cũng thuận hoăn binh lui về. Quân Tống rút đến đâu, Lư Thường Kiệt cho quân theo sát lấy lại đất đai đến đấy. Quân ta nhanh chóng thu hồi các Châu Môn, Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang. Riêng châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) là miền đất có nhiều tài nguyên, nhất là mỏ vàng, nên nhà Tống có âm mưu chiếm đóng lâu dài. Nhưng rồi bằng những biện pháp đấu tranh kiên quyết, nhà Lư cũng lấy lại được vào năm 1079.

B́nh Chiêm:
    
T
háng 10, năm Quư Mùi (1103) Lư Giác - một quan chức của nhà Lư người Diễn Châu nổi lên làm phản. Lư Giác cho đắp thành Châu Diễn chống lại triều đ́nh. Trước t́nh h́nh đó nhà Lư cử Lư Thường Kiệt đem quân đi dẹp loạn. Quân của Lư Giác thua chạy trốn vào Chiêm Thành.
    
Lư Giác đă đầu hàng vua Chiêm là Chế Ma Na và xúi giục Chiêm thành đem quân cướp phá, lấy lại ba châu do Chế Củ đă dâng trước đây.
    
Trước t́nh h́nh đó, Lư Thường Kiệt lại một lần nữa xin Triu đ́nh được xuất quân đánh Chiêm Thành, bảo vệ toàn vẹn lănh thổ của đất nước, mặc dù lúc này ông đă 84 tuổi. Với tài thao lược của một vị Tướng đă từng nhiều lần đánh Tống, b́nh Chiêm, chỉ trong một thời gian ngắn Lư Thường Kiệt đă đánh tan quân Chiêm buộc vua nước ấy là Chế Ma Na phải nộp lại đất Quảng B́nh, Quảng Trị (xưa Chế Củ đă dâng nộp cho ta); từ đấy đất nước mới trở lại thái b́nh.

Mất
    
Và trước khi mất mấy tháng (tháng 2 năm Đinh Dậu, 1117), Ư Lan Thn Phi c̣n đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa băi. Vốn là người sùng đạo Phật, và là "người tu tại gia"; về già, Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan càng để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Tính đến năm 1115, bà đă cho xây cất 150 ngôi chùa, đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương Dương Xá, Gia Lâm.
     Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan qua đời vào ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), thọ khoảng 73 tuổi. Sau đó, triều đ́nh làm lễ hỏa táng, và dâng tên thụy là Phù thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Mùa thu, tháng 8 (âm lịch), chôn Linh Nhân Hoàng Thái Hậu ở Thọ lăng, thuộc phủ Thiên Đức (nay là đất huyện Tiên Sơn, thuộc Bắc Ninh).


Tài Đ
c của Ỷ Lan Thn Phi
    
Có thể nói rằng, dù trong sự nghiệp của bà đă có một vết đen và vụ bức tử Thượng Dương và hơn 70 cung nữ, thế nhưng dân gian vẫn xem bà như “Quan Âm tái thế”, hay là “Cô Tấm” trong truyện cổ tích. Huống chi câu chuyện bức tử nói trên chỉ được sử sách chép lại có mấy ḍng, hoàn toàn không nói rơ bối cảnh và nguyên nhân sâu xa thật sự của vụ việc. Thái Hậu Ỷ Lan xuất thân chỉ là một thôn nữ nhà nghèo mà lại tự rèn luyện có được một kiến thức hết sức uyên thâm, đó là một tấm gương tự học lớn. Bà không chỉ giỏi việc nước, mà c̣n đảm việc nhà khi đă đào tạo cho vạn dân một vị minh quân như vua Lư Nhân Tông.
     Bài học lớn nhất rút ra từ sự nghiệp chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan có lẽ là việc: V́ lợi ích chung, bà đă biết gác lại hiềm khích cá nhân để huy động mọi lực lượng nhằm chống kẻ thù xâm lược. Khi giặc Tống xâm lăng, vua Nhân Tông chỉ mới lên 10 tuổi, Thái Hậu Ỷ Lan phải thay vua lănh đạo quân dân chiến đấu chống kẻ thù.
     Bà đă gác lại tư thù để dùng người có thực tài như Lư Đạo Thành làm B́nh Chương Quân Quốc lo chuyện nội chính. Chiến công hiển hách của Lư Thường Kiệt ngoài mặt trận sẽ không thể có được nếu như không có một hậu phương vững chắc và thống nhất, mà cái hậu phương vững chắc và thống nhất đó đă có được nhờ vào tài điều hành của Thái Hậu Ỷ Lan và tài trị nước của ông Lư Đạo Thành.
     Ai dám nghĩ một cô gái hái dâu quê mùa mà có được cái tài chính trị đến như vậy? Cái tài chính trị đó có thể tóm lược qua câu trả lời của bà khi được vua Thánh Tông hỏi về việc trị quốc, được sử
sách chép lại như sau: “Muốn nước giàu dân mạnh, điều quan trọng là phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh”.
     Tài năng đó, đức độ đó đă góp phần khẳng định bản lĩnh của phụ nữ Việt nam, đă đưa Thái Hậu Ỷ Lan vào hàng ngũ những nhà lănh đạo chính trị kiệt xuất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, và đặc biệt là đă để lại cho hậu thế một bài học quư giá về việc biết sử dụng hiền tài, và khi cần thiết th́ biết gác lại hiềm khích riêng tư để phục vụ cho lợi ích chung của đất nước.
     Ngoài việc xây dựng chùa
chin, Ỷ Lan Thái Phi c̣n có công đóng góp quan trọng trong việc t́m hiểu, xác định nguồn gốc đạo Phật ở nước ta. Theo Thiền Uyển Tập Anh, cuốn sách cổ về đạo Phật nước ta, nêu rơ qua cuộc đàm đạo giữa Thái Phi Ỷ Lan với các vị quốc sư thời Lư Nhân Tông tại chùa Trấn Quốc đă tạo cơ sở cho việc h́nh thành cuốn sách nói về đạo Phật thời Lư và các thời trước nữa. Sách c̣n ghi sau khi đàm đạo với quốc sư Thông Biện về những tôn chỉ của đạo Thiền, Ỷ Lan đă viết bài kệ, c̣n gọi là Kệ Sắc Không.

    
BÀI KỆ SẮC KHÔNG
     Sắc thị không, không tức sắc,
     Không thị sắc, sắc tức không
     Sắc không quân bất quản,
     Phương đắc khế chân tông.

    
     Bản dịch:
     Sắc là không, không tức sắc,
     Không là sắc, sắc tức không.
     Sắc không đều chẳng quản,
     Mới được hợp chân tông.

    
Với bài kệ trên Thái Phi Ỷ Lan đă được các nhà nghiên cứu văn học Việt xếp vào hàng tác gia văn học thời Lư-Trần.

Được tôn thờ
     Cảm ơn đức cao dày của Hoàng thái hậu Ỷ Lan, nhân dân đă tôn vinh bà như là "Quan Âm bồ tát" tái hiện, hoặc đồng hóa với "cô Tấm" trong truyện cổ tích, hoặc với "Phật mẫu Man Nương"
     Bà được tôn thờ ở một số nơi, nhưng đáng kể hơn cả là "di tích Chùa Bà Tấm" ở quê hương bà (Dương xá, Gia Lâm, Hà Nội). Ngôi chùa có tên là "Linh Nhân
Từ Phúc Tự" (dân gian thường gọi là "chùa Bà Tấm"), được bà cho xây dựng vào năm 1115. Đến khi bà qua đời (1117), ngôi đền thờ bà cũng được xây dựng tại đây. Từ đó đến nay, khu đền chùa này là nơi thờ Phật, và cũng là nơi tưởng niệm bà.

Vĩnh Trường
– Vơ Trung Tín (HD 63-64)

Sách tham khảo
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kư toàn thư
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài G̣n, 1968.
Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại (tập 2, "Lược truyện về Ỷ Lan").
Thái Hậu Ỷ Lan: Nữ chính trị gia kiệt xuất Việt Nam - Lê Phước trong Tạp Chí Văn Hóa/R



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved