www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Tị Nạn Nước Ḿnh

Thầy Ngô Trọng B́nh

     Gần mười hai giờ đêm ngày mùng Hai tháng Mười Hai năm 1975, chiếc xe chở các gia đ́nh người Pháp đi lên một cái đồi cát thấp. Khu nhà công chức xây từ thời Việt-Nam Cộng-Ḥa nằm an phận trên mặt đất cát khá bằng phẳng. Ở giữa là cái sân cát rộng răi. Chiếc đèn manchon treo lưng chừng cột cờ tỏa ánh sáng cho vừa đủ thấy cảnh vật chung quanh. Xe đậu giữa sân. Một người lính mở cánh cửa sau xe cho mọi người leo xuống. Người của mỗi gia đ́nh đứng trên xe đưa các túi hành lư cho người nhà dưới đất. Một cán bộ nam và một nữ bộ đội ra hiệu cho toán người Pháp theo họ. Lúc bấy giờ ông Giáo Lê mới nhận thấy rằng các người tỵ nạn Trung-Hoa và Cao-Miên đă đến nơi từ lâu, v́ các căn nhà chung quanh sân đă có người lố nhố trong đó. Từ các cửa sổ và cửa ra vào mỗi căn có ánh nến chập chờn. Bước trên con đường nhỏ đầy cát, toán người Pháp đi qua ba dăy nhà trước khi đến một cái sân thứ nh́ hẹp hơn sân kia. Người cán bộ chỉ dăy nhà bên này sân, nói to bằng giọng xứ Quảng:
     “Đây là khu nhà dành cho người Pháp. Mỗi gia đ́nh hăy tự ư chọn một căn. Mang hành lư vào nhà xong, mỗi nhà cho hai người lên nhà bếp bên kia cột cờ để lĩnh chiếu nằm, nến về thắp đêm nay, và phần cơm cho gia đ́nh. Phải cho nhà bếp biết rơ tên và số người của gia đ́nh ḿnh, để người ta ghi nhận, phát phần cơm và chiếu cho đúng. Ăn xong, mọi người đi ngủ. Đừng ra ngoài hàng rào. Quanh đây có bộ đội canh gác rất an ninh. Mọi người yên trí. Ban đêm muốn đóng cửa th́ đóng cho khỏi gió máy. Sáng mai sẽ có cán bộ đến làm việc với từng gia đ́nh. Chào tất cả.”
     Khiêm và bà Giáo Lê lên nhà bếp. Đó là một căn nhà ở đầu một dăy chót. Tại đó có các người đàn bà ăn mặc thường dân và một người đàn ông ăn mặc kiểu cán bộ. Người này giới thiệu:
     “Tôi tên là Ấu, thủ kho của trại tập trung này. Trại thuộc quận Hải-Lăng, tỉnh Quảng-Trị. Các chị này được chính phủ thuê để nấu cơm cho các gia đ́nh trong trại. Hàng ngày, mỗi gia đ́nh được phát theo đầu người hai bữa ăn trưa và tối, gồm có một nồi cơm, một nồi canh rau, và một lon cá; ngoài ra, mỗi nhà được một ấm nước chè và một bánh xà-pḥng nội hóa. Bữa tối phát gấp rưỡi, để dành ăn sáng hôm sau. Nồi, ấm, và lon phải rửa lấy ngoài giếng cạnh cột cờ, giữ cẩn thận dùng trong thời gian ở đây. Khi nào tỉnh gửi hàng hóa đến, như đường, sữa, chè, nến, xà-pḥng, tôi sẽ phát cho mỗi gia đ́nh. Nhưng đó là trên nguyên tắc. Tôi cho biết trước là hàng hóa ở đây, trừ xà-pḥng và nến ra, tất cả khan hiếm lắm. Ngoài kia có chợ Hải-Lăng. Hiện tại, chưa được lệnh cho người trong trại ra ngoài, nên có tiền cũng không mua bán ǵ được.”
     Dưới ánh nến le lói, gia đ́nh ông bà Giáo Lê ngồi ăn cơm trên cái bàn dài ngay cạnh cửa sổ nh́n ra sân trại. Gạo xấu nhưng khá hơn gạo bên Lào nhiều. Nồi canh rau muống tra muối cứng quèo. Lon cá ṃi có tám con, mỗi con bằng hai ngón tay, kho mặn chát, bốc mùi tanh, chứng tỏ cá không tươi. Tuy nhiên, v́ đói bụng, cả nhà ăn uống thật nhanh. Ăn xong, trong khi bà Giáo Lê và Thúy-Hiên đi rửa nồi và lon, ông Giáo Lê cùng các con sắp xếp căn nhà đang ở. Đây là loại nhà có kiểu xây cất giống y như tất cả các căn nhà công chức, quân nhân ở khắp bốn vùng chiến thuật nước Việt-Nam Cộng-Ḥa. Nhà khá dài, tường gạch trát ciment quét vôi vàng, mái tôle bằng ciment uốn cong, gồm một pḥng lớn và một nhà bếp. Cuối nhà có cửa sau. Ông Giáo Lê đóng chặt cửa đó lại. Mái nhà bếp cũng bằng tôle ciment uốn cong. Có nền gạch cao để nấu bếp. Cầu tiêu chồm hổm. Không có buồng tắm, mà chỉ có cái bể chứa nước mưa lấy từ ống máng trên mái nhà. Không có nước máy. Trong căn pḥng lớn duy nhất, có hai cái giường gỗ, một cái sát tường có cửa sổ nh́n xuống bếp, một cái ở giữa pḥng. Ông Giáo Lê cho trải chiếu trên hai giường, rồi đóng cửa sổ và cửa xuống bếp lại, v́ giữa nhà bếp và nhà trên là cái sân không có mái che trống trải. Mặt nhà trông ra sân trước có một cửa sổ và cửa ra vào. Ông Giáo Lê cũng đóng chặt cửa sổ đó lại. Bên ngoài là hành lang có mái che và những cây cột chống vuông bằng gỗ. Dăy người Pháp ở có ba khối nhà. Mỗi khối có ba căn. Bên kia sân là dăy nhà cuối cùng. Tất cả các căn nhà bên dăy đó đều đóng cửa, trừ căn nhà đầu tiên, sát cạnh hàng rào thép gai cao độ một thước rưỡi. Trong căn nhà đó có bóng cán bộ cộng sản. Bên ngoài là con đường đất. Bà Giáo Lê và Thúy-Hiên từ ngoài giếng trở về. Ông Giáo Lê đóng nốt cửa ra vào lại.
     Cả nhà chia nhau buông màn ngủ trên hai cái giường gỗ. Hai đứa con gái và hai đứa con trai nhỏ ngủ trên chiếc giường sát cửa sổ bếp. Ông bà Giáo Lê và Khanh ngủ giường giữa. Khiêm trải chiếu nằm dưới đất một ḿnh. Mẫu nến gắn cạnh bàn tỏa ánh sánh lờ mờ, được một lúc th́ tắt. Khe cửa sổ lấp loáng ánh đèn, rồi lại tối đen. Buổi sáng mùa đông mặt trời lên muộn. Gia đ́nh ông bà Giáo Lê thức dậy với những tiếng động nổi lên mỗi lúc một ồn ào trong trại tập trung Hải-Lăng. Tiếng người nói giọng Cao-Miên trộn với tiếng địa phương thuộc tỉnh Quảng-Trị cho họ thấy ḿnh không c̣n ở bên nước Lào nữa, mà đang nằm trên mảnh đất của quê hương miền Trung-Việt. Có tiếng đập nhẹ lên cánh cửa. Bà Giáo Lê vén màn, bước khỏi giường, đi ra mở cửa. Một người đàn ông Việt-Nam mặt mũi khá sáng sủa, độ ba mươi tuổi, ăn mặc theo kiểu cán bộ cộng sản, mỉm cười với Bà Giáo Lê. Bà cũng gật đầu chào người ấy.
     “Chào anh. Anh gọi cửa có việc ǵ đấy?”
     Bằng giọng Bắc-Việt mang âm hưởng rất đặc biệt của Thanh-Hóa với dấu hỏi, dấu nặng, dấu sắc thật mềm mại, người cán bộ nói:
     “Chào chị. Tôi tên là Luận. Tôi ở trong nhóm cán bộ coi sóc trại tập trung này. Tôi đi kiểm điểm nhân số của từng gia đ́nh. Chắc chị cũng người Thanh-Hóa giống tôi. Nghe giọng nói có thể đoán được.”
     Bà Giáo Lê khẽ gật đầu dè dặt. Bà luôn luôn có thái độ đó với tất cả các người cộng sản. Cán bộ Luận khẽ nói:
     “Tôi bị bắt buộc phải rời quê vào đây làm việc. Gia đ́nh tôi trước kia là thành phần địa chủ. Con cháu địa chủ không được ở lại quê nhà, mà phải đi lung tung, rất vất vả. Chị ở chỗ nào tại Thanh-Hoá”.
     “Quê ngoại tôi ở ngay tỉnh Thanh-Hóa. Quê bố tôi tại Ty-Thôn, thuộc huyện Nông-Cống.”
     “Như vậy tôi cùng quê với chị. Thôi, để lần sau ta nói chuyện nhiều hơn. Bây giờ chị cho tôi biết tên từng người trong gia đ́nh chị.”
     “Anh muốn biết tên Tây hay tên Ta?”
     “Tên thường gọi trong nhà, cho chúng tôi dễ dùng. Sau này, chị sẽ khai lư lịch chính thức với văn pḥng cán bộ ở khu nhà giữa. Văn pḥng của tôi và các bộ đội canh gác ở bên kia sân trước nhà chị ở.”
     Bà Giáo Lê bèn cho anh Luận biết tên các con mà bà tự ư đổi khác đi từ đứa lớn nhất đến đứa nhỏ nhật như sau: Hùng, Hiền, Khải, Cương, Ty, và Quỳnh; tên bà là An, và chồng bà là Alphonse. Mục đích của bà là muốn đánh lạc sự điều tra của cán bộ cộng sản, mà bà biết trước sẽ xảy ra. Cán bộ Luận ghi nhận lời khai đó vào cuốn sổ nhỏ, rồi chào bà Giáo Lê, đi sang nhà khác. Trước khi đi, anh ta không quên nhắc bà Giáo Lê lên nhà bếp lĩnh cơm trưa cùng các thứ vật dụng khác. Ông Giáo Lê từ năy yên lặng ngồi trong màn nghe vợ đối đáp với người cán bộ. Ông vén màn, bước lại gần vợ, nói nhỏ:
     “Ḿnh phải chuẩn bị lư lịch mới để khai với văn pḥng. Em là Nguyễn Thị An. Anh và các con mang họ David, với tên Thánh của mỗi người. Tên Việt của các con chỉ dùng để gọi trong nhà. Ngày sinh thay đổi hết. Cho các con học thuộc lư lịch đó ngay từ bây giờ. Địa chỉ của cha mẹ anh, và cũng là địa chỉ của ḿnh, ở bên Pháp. Cha mẹ anh mang tên Pháp. Địa chỉ cuối cùng của gia đ́nh ḿnh khi sang chơi Việt-Nam là số 5 Ngă Ba Tiểu khu, Ba-Xuyên. Em làm nội trợ. Anh dạy học. Cha mẹ em cứ lấy tên thật và khai đă mất cả. Anh chỉ có một ḿnh. Các anh trai, em trai, em gái của em phải khai tên khác. Tất cả mang họ Nguyễn-Hùng. Lấy tên đứa con đầu ḷng của mỗi người mà đặt cho họ. Anh cả, anh hai, anh ba, em gái thứ của em hiện ở Hoa-Kỳ. Em gái và em trai út của em hiện ở bên Đức. Nghề nghiệp không rơ. Em buộc tóc kiểu khác, cho khuôn mặt thay đổi. C̣n anh, ngoài bộ ria mép, anh để thêm râu cằm, tóc dài. Thế nào họ cũng cho từng gia đ́nh chụp ảnh, để vào hồ sơ lư lịch”.
     Ông Bà Giáo Lê đang nói chuyện, bọn trẻ con vùng dậy, kêu lên:
     “Trời ơi! Ngứa quá!”
     Hai đứa con gái và hai đứa con trai từ giường kê sát cửa sổ bếp nhảy xuống đất, hai tay găi khắp người. Bà Giáo Lê chạy lại ôm Khanh lên, miệng hỏi:
     “Khanh có ngứa không, con?”
     Khanh ngọ nguậy lưng và hai vai:
     “Con ngứa lắm. Mẹ găi lưng, bụng, đùi cho con đi.”
     Khiêm cũng nhỏm dậy, tay găi khắp người, miệng nói:
     “Chắc rận ở chăn màn của con lan sang chăn màn cả nhà rồi”!
     Ông Bà Giáo Lê bắt đầu thấy ngứa cổ và lưng. Ông Giáo Lê bảo:
     “Khiêm và hai đứa con trai mang cái thùng ở dưới bếp ra ngoài giếng lấy nước về đổ đầy các chậu và nồi cho bố mẹ.”
     Ông Giáo Lê thấy dưới gầm bếp có ít củi. Ông chất mấy cây củi ở trên mặt bếp chỗ có ba ḥn đá dùng làm bếp. Ông châm lửa, đặt nồi nước lên nấu sôi. Đoạn ông đem pha với chậu nước lạnh cho ấm. Bà Giáo Lê tắm gội cho Khanh trước. Ông Giáo Lê tiếp tục nấu nước sôi. Cả nhà lần lượt tắm gội kỹ càng. Sau cùng, ông mang chăn màn và quần áo nhúng vào nước sôi. Trên mặt chăn màn, những con rận chết cong queo. Ông vắt khô, mang phơi lên dây thép trong sân. Cũng may trời không mưa, lại có gió và ánh nắng.
     Trong bữa cơm trưa, Khiêm kể cho cả nhà nghe những ngày Khiêm bị giam trong nhà tù Lào. Ban đêm, Khiêm bị nhốt chung với các người tù đủ loại ở trong một cái nhà sàn thấp làm bằng tre. Hai đầu nhà có cửa hẹp. Trong nhà giam có cái sàn bằng tre dài suốt căn nhà. Tất cả phải nằm cạnh nhau, hai chân cho vào cùm tre. Hai đầu cùm có thanh sắt xuyên qua hai lỗ ở đầu hai thanh tre. Một đầu thanh sắt có cục sắt to. Một đầu có lỗ để đút chiếc khóa khổng lồ, khóa lại. Khóa chỉ được mở lúc buổi sáng, để thả tù nhân ra ngoài sân. Chung quanh sân là hàng rào tre cao vút. Bốn góc sân có cḥi gác trên các cột trụ bằng gỗ cách mặt đất năm sáu thước.
     Đời sống trong trại tù Lào rất kham khổ, buồn chán. Buổi sáng, tù nhân phải dậy sớm trước khi mặt trời mọc. Họ xếp hàng đôi, đi ra suối ngay cạnh trại súc miệng, rửa mặt thật nhanh, lấy nước vào bidon đeo trên lưng, rồi lại theo lính gác đi về trại. Mỗi người được phát một nắm cơm gạo tẻ ăn sáng. Đoạn, tù nhân được chia thành nhiều tốp, được lính dẫn đi làm việc với dân trong bản ở ngoài ruộng, hoặc chăn nuôi gà, vịt, lợn, trâu, ḅ dưới gầm các nhà sàn. Buổi trưa, họ ăn cơm với gia đ́nh mà họ làm việc. Bữa ăn thường có cơm gạo tẻ, rau luộc chấm mắm hột cải. Chủ nhật được nghỉ việc. Buổi sáng, mỗi tù nhân được phát xà-pḥng, mang quần đùi, khăn mặt, ra ngoài suối tắm gội, giặt giũ, phơi phóng quần áo trên các bụi cây. Chờ cho khô, lấy mặc vào người. Lính Pathét-Lào đeo súng đi tuần bên kia bờ suối và ṿng ngoài trại tù. Vào bữa cơm trưa và tối, mỗi tù nhân được phát hai nắm xôi với một miếng da trâu nướng to bằng ba ngón tay. Lĩnh phần ăn xong, tù nhân được tự do đi lại, hoạt động trong sân và chung quanh trại tù. Ăn cơm tối và làm vệ sinh xong, tù nhân được điểm danh, rồi xếp hàng đi vào từng nhà giam, cùm chân lại.
     Ăn uống kham khổ, các tù nhân đều thèm thịt kinh khủng. Một buổi trưa ngày Chủ nhật, Khiêm và bốn năm người bạn tù cùng chung nhà giam, đang ngồi chơi bên ngoài hàng rào nhà tù. Họ chợt thấy một người dân đem con chó chết chôn sau một bụi cây cách đó không xa. Chờ người dân đó đi khuất, cả bọn kéo nhau ra chỗ chôn con chó. Họ dùng tay móc con chó chết lên, rồi chất cây khô châm một đống lửa khá to. Họ đốt con chó chết cho cháy hết lông, rồi thui cho thật vàng da. Xong, cả bọn xé con chó ra ăn với nhau một cách ngon lành, cho đến khi con chó chỉ c̣n lại mớ xương. Riêng Khiêm sợ bệnh nên không dám ăn mặc dù rất thèm. Mấy người kia vùi xương chó xuống cái hố lúc năy, rồi ra suối rửa mặt mũi, chân tay. Họ dặn nhau không nói việc ăn chó chết với các người khác trong trại tù. Từ hôm đó, các bạn tù của Khiêm luôn luôn nh́n qua hàng rào trại tù, xem có ai mang chôn chó chết. Nhưng họ đă mong chờ một cách tuyệt vọng. Ít lâu sau, ông Khâm-On đến, mang lệnh phóng thích của tỉnh, đưa Khiêm về trả cho gia đ́nh. Khiêm mặc bộ quần áo lính Lào duy nhất, trên đó có rất nhiều con rận của nhà giam. Khi đón Khiêm về, v́ chưa có kinh nghiệm về tù tội, ông bà Giáo Lê đă không nấu sôi quần áo của Khiêm đang mặc, mà chỉ giặt bằng xà-pḥng. Các con rận vẫn sống và lan ra khắp chăn màn, quần áo của mọi người trong nhà.
     Tuần lễ đầu tiên ở trong trại tập trung Hải-Lăng diễn ra trong không khí khá ngỡ ngàng. Bà Giáo Lê ra giếng lấy nước, gặp Buôn-Thàn. Hắn nh́n bà trừng trừng. Bà cũng nh́n lại, như thầm bảo: “Đây là đất nước của tao. Mày mà giở tṛ thú vật như bên Lào, là khốn nạn cuộc đời đấy, con ạ!” Buôn-Thàn có vẻ hiểu. Hắn đặt mạnh thùng nước xuống đất, hai tay chống nạnh nh́n theo người đàn bà Việt-Nam đang quay lưng đi.
     V́ chưa được phép ra khỏi trại, các người tỵ nạn thiếu đủ thứ. Họ chỉ có vàng và dollars. Các người bán hàng mang bánh kẹo, thuốc lá, vật dụng từ chợ Hải-Lăng tới gần hàng rào mời mua, mà chẳng ai có tiền Hồ để mua cả. Họ đứng bên trong hàng rào nh́n ra ngoài một cách hết sức thèm thuồng. Hơn nữa, đa số người trong trại không nói thạo tiếng Việt. Ông Giáo Lê nghĩ ra cách đổi chác. Một buổi sáng sớm, để sẵn một chỉ vàng trong túi, ông đứng gần hàng rào, nh́n ra đường. Một người đàn bà Việt-Nam từ đầu đường đi lại. Ông Giáo Lê cất tiếng hỏi:
     Chị có mua vàng không? Bao nhiêu một chỉ? »
     Người đó gật đầu, nói nhỏ:
     “Một trăm đồng tiền Hồ một chỉ.
Ông bán, tôi mua.”
     Ông Giáo Lê nói:
     “Chị ném tiền vào, tôi đếm đủ sẽ ném vàng ra. Đưa tôi tiền lẻ cho dễ tiêu.”
     Người đó gật đầu. Hai người vừa trao đổi tiền và vàng xong, một chị lính bộ đội tiến lại xua tay đuổi người kia đi. Ông Giáo Lê có tiền, bèn chờ hàng quà tới, gọi mua ít kẹo, bốn ổ bánh ḿ không, năm bao thuốc lá, hai ống kem đánh răng, hết năm đồng tiền Hồ. Một vài người trong trại bắt chước ông Giáo Lê, cầm vàng ra hàng rào chờ đổi. Nhưng lính bộ đội chỉ cho mua bán chứ không cho đổi tiền qua hàng rào. Cán bộ Luận giải thích:
     “Các anh chị lớ ngớ là có thể bị cướp giựt. Chúng tôi không giải quyết được. Hăy chịu khó chờ lệnh trên cho ra ngoài. Khi ấy, tha hồ mua bán, đổi chác.”
     Do đó, trong cả trại tập trung, chỉ có ông Giáo Lê là có tiền. Ông cho anh Long một bao thuốc lá và năm đồng tiền Hồ. Anh này ở trong khu các thanh niên độc thân. Có năm người đến vay tiền ông Giáo Lê. Đó là các ông Bernard, Hakse, Hia-Liêm một thương gia Chợ-Lớn mua giấy tờ giả làm người Miên, anh Khô một cựu giáo sư Pháp văn ở Pnom Penh, và anh Kéa cựu nhân viên ty Thông tin ở Phnom Penh. Mỗi người vay năm đồng tiền Hồ. Họ hẹn sẽ trả ngay khi được ra ngoài mua bán, đổi chác. Ông Giáo Lê vui vẻ cho họ vay. Bà Giáo Lê không bằng ḷng lắm, v́ bà sợ họ quịt. Một tuần sau, cán bộ coi trại được lệnh trên cho phép dẫn đại diện mỗi gia đ́nh đi chợ hai ngày một lần. Bốn người vay tiền của ông Giáo Lê, trừ Bernard, đều mang tiền trả cho ông ngay. Bernard ở trong nhà tránh mặt. Bà Giáo Lê cằn nhằn. Ông Giáo Lê bảo vợ:
     “Ḿnh giúp họ một lần. Không trả được, họ sẽ không dám đến mượn nữa.”
     Bà Giáo Lê lắc đầu.
     “Để xem họ có làm như anh nói hay không.”
     Quả nhiên, hai ngày sau, Pieng con trai lớn của Bernard mon men sang thềm nhà ông bà Giáo Lê. Thấy bà Giáo Lê, anh ta nói tiếng Việt trọ trẹ:
     “Bà cho ba tôi mượn năm đồng.”
     Bà Giáo Lê lắc đầu:
     “Hết tiền rồi.”
     Từ đó, Bernard và cả gia đ́nh ông ta tỏ vẻ lạnh lùng, buồn giận đối với gia đ́nh ông bà Giáo Lê. Bernard đánh tiếng với mọi người rằng:
     “Gia đ́nh này là người Việt-Nam, đáng lẽ không được ở khu dành cho Pháp kiều, mà cũng không được ở trong trại tỵ nạn này. Khi nào gặp được cán bộ to, tôi sẽ tŕnh bày cho họ chuyển gia đ́nh này đi chỗ khác, hoặc trả về nguyên quán. Không giúp tôi, th́ tôi sẽ phá cho tơi bời.”
     Anh Long, và một số người mới quen gia đ́nh ông bà Giáo Lê tới kể lại cho họ nghe những lời này. Ông Giáo Lê mỉm cười, nói:
     “Chó sủa, chó không cắn đâu! Ở hoàn cảnh này, thân ḿnh chưa lo xong, làm sao mà can thiệp vào việc của người khác được. Chờ cán bộ lập hồ sơ điều tra, liên hệ với các đại sứ xong, sẽ biết ai đi, ai ở.”
     Thời tiết mùa đông ở Hải-Lăng rất lạnh. Bà Giáo Lê không pha nước nóng giặt quần áo, nên bị cảm sốt. Bà nằm li b́ trên giường. Sau khi uống thuốc nóng được vài ngày, bà lên cơn sốt rét. Bà không ăn được, nên người rất yếu, đứng lên không nổi. Mỗi khi đi xuống nhà tắm làm vệ sinh, phải có người xốc nách, cho khỏi ngă. Anh Long chích thuốc sốt rét cho bà. Xong, anh nói, giọng lo lắng:
     “Thịt của bắp tay d́ hai nhẽo quá! Vậy là d́ hai đau nặng lắm, chú hai à! Để tôi lên báo cho cán bộ biết, đưa d́ hai vô bệnh viện kịp thời.”
     Mấy cán bộ biết tin bà Giáo Lê ốm nặng, bèn tới thăm. Họ nói với Ông Giáo Lê:
     “Anh hăy chịu khó chữa lấy vài ngày nữa, nếu chị không khỏi, chúng tôi sẽ cho chở chị ra Quảng-Trị. Ở Hải-Lăng không có đủ thuốc. Chị An lấy chồng Tây nhưng chị gốc Việt-Nam, chúng tôi đối xử đặc biệt với chị. Anh đừng lo.”
     Thăm xong, họ đi về trụ sở. Ông Giáo Lê bảo anh Long chích thuốc trụ sinh xen kẽ với thuốc sốt rét cho bà Giáo Lê. Một mặt, ông mua sữa hộp cho vợ uống. Một tuần sau, bà Giáo Lê khỏi sốt. Bà gầy hẳn đi. Ông Giáo Lê cho mua trái cây, trứng, thịt, nấu cháo gừng, cho vợ dùng. Ba ngày sau, bà Giáo Lê khỏi hẳn. Cán bộ tổ chức cho mỗi gia đ́nh ra sân chụp ảnh để vào hồ sơ. Tấm ảnh của gia đ́nh ông bà Giáo Lê trông khác hẳn với tấm ảnh đă chụp cách đó ba, bốn tháng. Ông Giáo Lê để râu xồm xoàm. Bà Giáo Lê gầy nhỏ. Các trẻ con lớn lên. Sau đó, một cán bộ cầm hồ sơ của các gia đ́nh đi vào Nam mở cuộc điều tra. Hơn một tháng sau, người cán bộ đó trở lại trại tập trung Hải-Lăng. Cán bộ họp chủ các gia đ́nh lại, nói:
     “Lư lịch của các gia đ́nh đă được điều tra xong. Các gia đ́nh không liên hệ ǵ với dân “Ngụy” ở miền Nam. Chúng tôi sẽ thảo luận với lănh sự Pháp ở Hà-Nội để họ giải quyết cho ba mươi bảy người có liên hệ với Pháp. C̣n các gia đ́nh khác sẽ được trả cho quốc tế.”
     Mọi người nghe vậy rất mừng rỡ. Lúc đó là tháng Ba năm 1976. Trời vẫn lạnh. Người có tiền, đi mua áo ấm, chăn dạ. Người nghèo được thủ kho Ấu phát cho tấm chăn đỏ. Họ dùng chăn đó để ngủ ban đêm. Ban ngày, họ trùm trên người để đi lại trong trại. Trại tập trung rải rác đó đây những bóng người trùm chăn đỏ trông rất lạ mắt.
     Một ngày đầu Xuân, mưa phùn làm mờ cảnh vật. Cán bộ cùng bộ đội từ đâu chở trên xe jeep hai thiếu nữ, một thanh niên, và một em bé trai vào giữa sân trại tập trung. Khiêm đi ra xem. Khi về, Khiêm kể rằng đó là một nhóm người từ miền Nam chạy ra Trung định vượt biên giới Việt-Lào. Họ bị công an bắt ở Khe-Sanh, mang giam ở Đông-Hà một thời gian. Bây giờ, nhóm người đó được giải về Hải-Lăng, cho ở tạm trong trại tập trung, chờ ngày trả về nguyên quán. Khiêm làm quen với người thanh niên. Anh này, cũng như các chị em của anh, lấy tên Miên là Sầm-Nang. Anh ta không chịu nói tên Việt của gia đ́nh anh. Ở được hai tuần, gia đ́nh này được công an mang đi, vào một buổi tối.
     Cán bộ Luận hay sang nhà ông bà Giáo Lê, ngồi uống nước chè, hút thuốc, nói chuyện ở cái bàn cạnh cửa sổ. Anh ta tâm sự với ông Bà Giáo Lê:
     “Khi c̣n ở Thanh-Hóa, mặc dầu làm cán bộ, tôi vẫn không được coi là thành phần cốt cán. Họ chỉ giao cho tôi những công tác hạ tầng. Làm cán bộ một thời gian, tôi quen một cô gái nhà từ Nam-Định dọn đến ở Cầu-Quan. Chúng tôi yêu nhau, rồi lấy nhau. Vợ tôi rất xinh đẹp, duyên dáng, đảm đang. Một cán bộ cấp trên của tôi phải ḷng vợ tôi. Hắn dùng thế lực cho vợ tôi làm cán bộ đảm trách những công tác quan trọng tại Cầu-Quan. Sau đó, hắn t́m cách đổi một ḿnh tôi ra Quảng-Trị, cả năm mới được phép về thăm nhà. Một thời gian sau, người nhà tôi viết thư ra Quảng-Trị, cho tôi biết rằng tên cán bộ đó đă ngang nhiên ép vợ tôi phải ngủ với nó, rồi dọn đến ở với nó. Tôi được lệnh ở luôn tại Quảng-Trị, và được phái đến đây coi các gia đ́nh tỵ nạn trong trại Hải-Lăng. Thế là tôi mất vợ. May mà chưa có con, không th́ sẽ mất cả con. Tôi có than thở với cấp trên ở Quảng-Trị. Họ bảo tôi đừng lôi thôi, v́ thằng cha cướp vợ của tôi thế lực mạnh lắm; nếu tôi thưa kiện hắn, tôi có thể bị đổi đi rất xa và bị hành rất bi đát!”
     Nghe vậy, hai vợ chồng ông Giáo Lê chép miệng. Bà Giáo Lê an ủi:
     “Anh c̣n trẻ, sẽ gặp người đàn bà khác xứng đáng hơn để lập lại cuộc đời.”
     Cán bộ Luận nhún vai:
     “Ở cái thế như tôi, chẳng may là con cái địa chủ, dù có lập lại cuộc đời đến chục lần cũng vô ích. Thà sống độc thân c̣n hơn!”
     Ông Bà Giáo Lê thông cảm nỗi uất ức, oán hờn, đau khổ của cán bộ Luận, nên hay mời anh ta sang ăn cơm. Ông Giáo Lê thường xuyên tặng anh ta thuốc lá, bánh kẹo. Bà Giáo Lê cũng ra chợ mua chiếc khăn quàng len về biếu anh ta. Trẻ con trong nhà gọi anh ta bằng “chú” xưng “cháu”. Anh ta rất cảm động, coi gia đ́nh ông bà Giáo Lê như người họ hàng.
     Một buổi sáng cuối tháng Ba 1976, cán bộ Luận đi nhanh sang gặp ông bà Giáo Lê trong nhà. Anh ta th́ thào:
     “Này! Tôi bảo anh chị một điều. Anh chị nghe cho kỹ, sống để dạ, chết mang theo! Công an, bộ đội ở Huế sẽ đến đây trong buổi sáng hôm nay. Chúng sẽ lục soát tất cả các căn nhà, hành lư, cả thân thể từng người trong trại này. Anh chị liệu mà làm cấp tốc những ǵ cần phải làm. Nhớ nhé! Giữ kín tin này!”
     Nói đoạn, cán bộ Luận tất tả đi ra cửa sau. Ông Giáo Lê vội vàng thu hết giấy tờ trước đây, gói kỹ, trèo lên bàn bếp, nhét vào kẽ mái nhà. Trong khi đó, bà Giáo Lê tự động lấy hết vàng lá và dollars từ trong các bao ruột tượng đeo quanh lưng của bà và các con gái. Bà mang gói các món đó trong bao nylon, buộc chặt lại, rồi đưa cho chồng. Ông Giáo Lê đóng cửa sau, mang gói vàng và dollars ra chỗ cống nước cạnh cầu tiêu. Ở đó, có một hố nước vuông bằng ciment sâu độ bốn chục phân. Một nửa hố có cát, bên trên là nước mấp mé miệng hố. Nước bẩn từ chỗ rửa giặt chảy xuống hố. Khi đầy tràn, nước sẽ chảy qua một lỗ cống ra đường. Ông Giáo Lê lấy tay móc cát để lên sân gạch. Ông đặt gói vàng và dollars xuống đáy hố, rồi lấy cát lấp lại như cũ. Ông lấy nước rửa sân, cho sạch dấu vết khả nghi. Làm xong việc đó được mười phút, công an cùng bộ đội cộng sản ùa vào nhà ông Bà Giáo Lê. Họ lớn tiếng:
     “Tất cả người lớn, trẻ con hăy đứng sát tường. Không được cử động, di chuyển. Để công an, bộ đội lục soát!”
     Bà Giáo Lê đang ngồi trên chiếc chiếu trải trên mặt đất. Trước khi đứng lên, bà nhác thấy cuốn album của gia đ́nh bà để cạnh một cái gối. Bà liền lấy tay lật cái gối cho phủ kín cuốn album, giả vờ xếp cho ngay ngắn. Đoạn bà đứng lên, đi ra cạnh chồng. Một nữ bộ đội vẫy tay cho bà Giáo Lê, Thúy-Hiên, và Ngọc-Hân theo chị ta xuống bếp. Ở đó, chị ra lệnh:
     “Hăy mở giải rút quần cho tôi xem hạ bộ!”
     Ghé mắt nh́n dưới rốn ba mẹ con bà Giáo Lê xong, chị bộ đội giơ tay nắn thân thể từng người. Không thấy ǵ, chị ta vẫy tay cho ba người đi lên nhà, đứng một góc chờ. Trong khi đó, ông Giáo Lê cùng bốn đứa con trai ở nhà trên cũng bị bắt diễn một màn thoát y vũ cho các bộ đội đàn ông khám xét. Tiếp đó, dưới cặp mắt cú vọ của tên công an chỉ huy, các công an bộ đội khác chia nhau lục soát tỷ mỷ các bọc hành lư, chăn màn, nhà bếp, cầu tiêu. Họ tịch thu của gia đ́nh ông Bà Giáo Lê bốn thứ: Một tấm ảnh của ông bà Giáo Lê chụp năm 1970 tại Ba-Xuyên, một tấm ảnh của bà Giáo Lê chụp với Yến một bạn gái thân vào năm 1955, một cuốn băng nhạc do ông Cường bạn của ông Giáo Lê hát gửi tặng năm 1974, và cuốn băng nhạc TCS do KL hát. Người công an chỉ huy nhóm lục soát nói:
     “Chúng tôi mang những thứ này ra sở công an Huế, để trong hồ sơ nghiên cứu về gia đ́nh anh chị.”
     Ông Giáo Lê hỏi:
     “Đó là những đồ kỷ niệm của chúng tôi. Các anh có trả lại không?”
     Người công an lắc đầu, quay ra. Cả bọn lục tục đi theo, không một lời chào, y như lúc họ đến. Chờ họ khuất bóng, hai vợ chồng nh́n nhau thở phào. Bà Giáo Lê nói:
     “May nhờ anh Luận báo trước, bằng không bao nhiêu giấy tờ, tiền bạc, cả một cuốn album đă vào tay bọn công an cộng sản rồi!”
     Ông Giáo Lê nói tiếp:
     “Chúa và Đức Mẹ bịt mắt chúng nó, không th́ gia đ́nh ḿnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn.”
     Sau bữa cơm trưa, anh Long hớt hải đi vào nhà ông Bà Giáo Lê, báo cáo:
     “Các công an, bộ đội khám dữ quá! Tôi đang ngồi chơi trên băi cát đàng sau trại, chỉ kịp vụt cái bóp xuống cát lấp lại, rồi đi về pḥng cho họ khám. Một vài ông Lục (sư Miên) cũng làm như tôi. Các ông Lục khác, và tất cả gia đ́nh tỵ nạn đều bị lục soát, tịch thu giấy tờ h́nh ảnh rất nhiều. Vàng bạc của mấy gia đ́nh gốc Trung Hoa được giấu kỹ, nên không ai mất. Có vài ông Lục giả bị tịch thu giấy tờ Việt-Nam Cộng-Ḥa. Các sĩ quan Cộng ḥa Cao-Miên cũng bị tịch thu hết giấy tờ. Một số h́nh ảnh, báo chí khiêu dâm cũng bị khui ra từ bọc hành lư của mấy ông sư giả. May mắn không ai tàng trữ vũ khí! Lần này, sự thực của từng người bị lột trần. Khó mà chối căi, che đậy!”
     Bà Giáo Lê hỏi:
     “Nhà Bernard có bị tịch thu ǵ không, hở chú Long?”
     Anh Long cười h́ h́:
     “Nhà nó có ǵ đâu mà tịch thu! Mấy bộ đội nói với nhau: “Nhà ǵ mà trống trải, hôi hám quá! Mùng, mền không đủ, phải nằm chung chật chội, bừa bộn; trên nhà, dưới bếp không quét dọn, chẳng khác ǵ cái chợ hoang!“
     Cán bộ Luận được lệnh đi theo nhóm công an, bộ đội. Không thấy anh ta trở lại. Một cán bộ khác đến thay thế. Anh này người nhỏ bé, tên là Điệt, gốc ở Quảng-Trị. Cán bộ Điệt cũng cởi mở, vui vẻ như cán bộ Luận. Chỉ khác là anh ta có tác phong cộng sản và tuân phục đảng cùng cấp trên hơn cán bộ Luận nhiều. Tuy nhiên, cán bộ Điệt tỏ ra thân thiện và mềm dẻo với dân tỵ nạn qua các tiếp xúc hàng ngày. Riêng đối với gia đ́nh Bernard, anh ta tự nhiên có những cử chỉ, lời nói khá ác cảm. Anh ta không chú ư lắm đến gia đ́nh ông bà Giáo Lê cũng như các gia đ́nh có liên hệ với Pháp.
     Vào khoảng giữa tháng Tư, dân trong trại xin phép cán bộ tổ chức lễ Chao-Chnam của người Miên, giống như Tết của Việt-Nam. Nhân dịp này, có một đám cưới giữa một thiếu nữ và một thanh niên người Miên gốc Trung-Hoa. Buổi sáng ngày lễ Chao-Chnam, gia đ́nh ông bà Giáo Lê thấy dân trong trại ăn mặc chỉnh tề. Mỗi người đi ra ngoài đều cầm lon hoặc gáo. Ông Giáo Lê mặc quần đùi, maillot đi một ḿnh ra giếng nước ở sân giữa. Gần tới nơi, ông thấy đám đông dân trong trại đang múc nước từ trong giếng té nhau. Ông cán bộ chỉ huy trại cởi trần cũng đang bị té nước ướt từ đầu xuống chân. Tất cả đều cười vui. Ông Giáo Lê dừng chân, định quay về nhà. Nhóm người tưới nước kịp thấy ông, bèn múc nước, đổ xô lại vây quanh ông. Một người đàn ông đứng tuổi trịnh trọng tiến lại nói bằng tiếng Pháp:
     “Xin phép ông David, cho chúng tôi làm lễ với ông, để ông cũng được phước như chúng tôi.”
     Ông Giáo Lê vô t́nh gật đầu. Thế là người đó giơ tay cởi áo maillot của ông Giáo Lê, đưa cho ông cầm. Các người khác vừa hát bằng tiếng Miên, vừa thi nhau đổ nước vào người ông Giáo Lê. Bà Dym, thuộc gia đ́nh có liên hệ với Pháp, đứng gần đó cười khanh khách nói lớn bằng tiếng Việt trọ trẹ:
     “Anh David trắng quá! Trông anh như tây thiệt!”
     Ông Giáo Lê vội ôm áo chạy về nhà. Những tiếng cười, tiếng ḥ reo vang lừng đuổi theo ông. Buổi tối hôm đó, ông bà Giáo Lê được mời tới nhà một gia đ́nh Miên dự đám cưới con gái họ. Cô dâu chú rể ăn mặc thật đẹp đứng trước bàn thờ. Hai bên cha mẹ lấy dây chỉ đỏ buộc cổ tay con dâu con rể với nhau. Tiếp đó là bữa tiệc thật đơn sơ, gồm có các món do khách mua ngoài chợ mang góp: hoa quả, bánh ngọt, nước ngọt, la-de, thuốc lá,... Chủ khách cùng đôi vợ chồng mới cưới ngồi trên chiếu trải dưới đất ăn uống, chuyện tṛ, măi tới khuya mới tan. Cán bộ, bộ đội cộng sản không tham dự. Họ chỉ lảng vảng xa xa canh chừng.
     Một sáng sớm giữa tháng Bảy, anh Long đến gơ cửa nhà ông bà Giáo Lê. Cửa mở. Anh bước vào, thở hổn hển, nói:
     “Đêm qua, có mấy thằng độc thân đằng kia, hiệp với hai ông Lục, đeo túi, leo rào, chạy ra phía sau băi cát của trại tính trốn khỏi nơi này. Bộ đội Hải-Lăng đi tuần bắt được, giải về trại sáng sớm hôm nay. Ông già Thành, cán bộ chỉ huy của trại, cho nhốt hết mấy người đó trong một cái nhà có các cửa khóa kín, ở ngay trước mặt trụ sở cán bộ. Mấy người đó không được ra ngoài, đến bữa, một đại diện được bộ đội dẫn sang nhà bếp lănh các phần ăn mang về cho đồng bọn. Không biết chúng nó sẽ bị giam tới hồi nào mới được thả. Những thanh niên độc thân và các ông Lục ở bên ngoài đều giận lắm. Họ bàn tán, chửi bới với nhau về bọn cán bộ, bộ đội cộng sản, nói rằng sẽ kiếm dịp trốn tiếp, hoặc t́m cách gởi thư cho Ủy hội quốc tế tố cáo bọn cộng sản Việt-Nam tập trung, giam giữ, không cho đi t́m tự do. Ở đây, ăn uống kham khổ, thiếu thốn đủ thứ, không làm ăn ǵ được, nên tiền bạc không có, trừ mấy người nhà giầu gốc Trung Hoa.
     Ông Giáo Lê nói nhỏ
     “Theo tôi nghĩ, mọi chuyện sẽ được giải quyết nay mai.
Bọn cộng sản không có điều kiện nuôi nấng, coi sóc ḿnh măi như thế này được. Trong khi chờ đợi, ḿnh phải áp dụng kỹ thuật thoát hiểm theo kiểu quân đội Cộng Ḥa,...
     Anh Long vội hỏi:
     “Kỹ thuật thoát hiểm như thế nào, chú hai?”
     Ông Giáo Lê mỉm cười, vẫn nói nhỏ:
     “Mấy chữ đầu của hai tiếng thoát hiểm giúp ta nhớ một số câu áp dụng trong trường hợp bị lọt vào vùng nguy hiểm. Đó là: Thấu Hiểu t́nh h́nh; Ở yên đừng vội; An thân Thủ phận; hăy Hượm đừng kinh; Im hơi lặng tiếng; Ém nhẹm vũ khí. Nếu ta áp dụng kỹ thuật đó cho đúng, ta sẽ thoát. Chú Long nghe kỹ, nhớ lấy một ḿnh. Đừng nói với ai về kỹ thuật ấy, mà chỉ khéo léo giúp ư cho họ hiểu và bắt chước những ǵ chú làm.”
     Anh Long gật gù, lẩm nhẩm trong miệng, cố ghi nhớ sáu tôn chỉ về thoát hiểm. Buổi trưa một ngày đầu tháng Tám, cán bộ cộng sản trong trại ra lệnh cho đại diện từng gia đ́nh lên văn pḥng họp lúc ba giờ chiều hôm đó. Mọi người tuân lệnh đến họp đông đủ, kể cả mấy người đi trốn bị giam mới được thả ngay trước bữa cơm trưa. Trong buổi họp, ngoài ông Thành cán bộ chỉ huy trại, ông Lâm và ông Bảo là hai cán bộ từ Huế thường tới điều tra các gia đ́nh, c̣n có một cán bộ Khmer đỏ. Dân tỵ nạn người Miên nhốn nháo. Họ th́ thầm với nhau:
     “Tại sao lại có cán bộ Khmer đỏ tới đây, mà không thấy nhân viên Ủy hội quốc tế?”
     “Chẳng lẽ cộng sản Việt-Nam nuôi hơn hai trăm người trong tám, chín tháng, rồi mang trả cho Khmer đỏ sao?”
     Như hiểu được nỗi lo âu, hốt hoảng của dân tỵ nạn, ông Lâm giơ tay trấn an.
     “Đồng chí cán bộ Khmer đỏ đi công tác tại Hà-Nội. Khi trở về Đông-Hà, nghe nói có trại tập trung người Miên, đồng chí tạt qua thăm hỏi. Ngoài ra, không có lư do ǵ khác. Anh chị em nào không thạo tiếng Việt, có thể dùng tiếng Miên khi phát biểu nguyện vọng của ḿnh, để đồng chí cán bộ Khmer đỏ có thể hiểu rơ được. Chúng tôi đều biết tiếng Miên. Anh chị em đừng lo. Chúng tôi có danh sách. Ai đến lượt nói th́ cho biết tên, để chúng tôi ghi nhận, tránh việc một người nói hai lần.”
     Mọi người hể hả, tranh nhau đứng lên bầy tỏ ư muốn được trao trả cho Ủy hội quốc tế hiện có mặt tại Vientiane. Riêng ông Giáo Lê không nói tiếng Miên, mà chỉ dùng tiếng Pháp khi đến lượt đứng lên nói. Ông vắn tắt mấy điều:
     “Gia đ́nh chúng tôi từ Pháp qua Việt-Nam chơi. Bây giờ xin chính phủ Việt-Nam liên hệ với đại sứ Pháp cho chúng tôi được trở về nước càng sớm càng tốt.”
     Ông Bernard và ông Dym cũng bắt chước nói tiếng Pháp trước mặt mọi người. Các cán bộ Việt-Nam ngồi yên nghe. Cán bộ Khmer đỏ lắng nghe, ghi chú cẩn thận vào tờ danh sách trên bàn trước mặt hắn. Buổi họp kết thúc vào lúc sáu giờ chiều cùng ngày. Tên cán bộ cộng sản Khmer đỏ đứng lên bắt tay đồng bọn, giơ tay chào đám người tỵ nạn, rồi lặng lẽ ra khỏi pḥng họp, leo lên chiếc xe Jeep đi mất. Ông Giáo Lê về nhà kể chuyện đi họp cho vợ nghe. Bà Giáo Lê nghe xong, nghiêm mặt nói:
     “Theo em nghĩ, bọn cán bộ Việt-Nam đang t́m cách trả đám người tỵ nạn Miên cho Khmer đỏ. Ḿnh cũng phải coi chừng.”
     Ông Giáo Lê nói khẽ:
     “Anh đă suy nghĩ thật nhiều, không thấy có ǵ đáng ngại cho gia đ́nh ḿnh nói riêng, và cho những người khai có liên hệ với Pháp nói chung. Tuy nhiên, anh chưa biết bọn cán bộ cộng sản sẽ giải quyết như thế nào đối với ḿnh. Có một điều chắc chắn là chúng sẽ không trả ḿnh cho Khmer đỏ đâu. Hoặc là ḿnh sẽ thoát khỏi nơi này, hoặc là ḿnh sẽ phải ở lại Việt-Nam nếu đại sứ Pháp không nhận. Điều quan trọng là từ nay ḿnh phải hết sức kín miệng, không thổ lộ, tâm t́nh với bất cứ ai. Đám dân tỵ nạn Miên sẽ trở nên nguy hiểm nếu họ cảm thấy số phận họ bị đe dọa.”
     Bà Giáo Lê chợt hỏi:
     “Ḿnh có thể giúp ǵ chú Long?”
     Nghĩ đến thái độ càng ngày càng bất thường của anh Long đối với Thúy-Hiên, con gái của ông bà lúc đó mới mười bốn tuổi, Ông Giáo Lê nghiêm trang trả lời vợ:
     “Anh chẳng biết phải làm ǵ để giúp chú ấy ngoài việc thỉnh thoảng cho chú ấy ít tiền. Hiện tại, chú ấy có chỗ ở, đồ ăn hàng ngày. Thôi, cứ để chú ấy sống yên với hơn hai trăm đồng bào Miên của chú ấy. Người ta thế nào, chú ấy sẽ như vậy.”
     Bà Giáo Lê gật đầu đồng ư. Thế là số phận của anh Long đă được an bài rơ ràng.
o o O o o
     Sau buổi họp giữa cán bộ cộng sản và dân tỵ nạn, đời sống trong trại diễn ra b́nh thường. Cán bộ Thành ra lệnh cho dân trong trại chuẩn bị cho ngày lễ mùng Hai tháng Chín. Các nhóm người Miên, Trung Hoa, và Pháp, mỗi nhóm phải chung tiền làm banderole trên đó có kẻ chữ “02-09-1945 / 02-09-1976”, dán h́nh HCM và cờ đỏ sao vàng. Họ tập múa hát theo kiểu Miên, Trung Hoa, và Âu châu. Trưa ngày mùng Hai tháng Chín, toàn thể dân tỵ nạn xếp hàng rước banderoles trong sân trại. Bên ngoài trại, dân Hải-Lăng cũng treo cờ trước cửa nhà. Loa phóng thanh oang oang tuyên truyền, đàn hát vang lừng. Cán bộ cộng sản từ Huế tới chụp h́nh đám dân tỵ nạn. Đó là những tấm h́nh tập thể duy nhất cuối cùng của hai trăm bảy mươi người đi t́m tự do bị cộng sản Lào trao trả cho cộng sản Việt. Mặc nhiên, gia đ́nh ông bà Giáo Lê là những người Việt-Nam duy nhất trong trại, nhờ khai quốc tịch Pháp, nên được tỵ nạn ngay trên đất nước ḿnh! Buổi tối hôm đó, dưới ánh đèn điện sáng choang treo trên ngọn cột cờ, một cuộc liên hoan được tổ chức trong sân trại, gồm múa hát diễn văn. Riêng nhóm người Pháp, có bà Dym và ông Giáo Lê ra tŕnh bày trước micro. Bà Dym hát tiếng Miên. Ông Giáo Lê hát một bài tiếng Mỹ nhan đề “Monalisa” theo tiếng đập thùng của anh Khô, cựu giáo sư Pháp văn Phnom Penh, và tiếng đàn guitare của anh Kéa, cựu nhân viên bộ Thông tin Phnom Penh. Dân trong và ngoài trại vỗ tay tán thưởng. Cuộc liên hoan chấm dứt vào lúc mười một giờ đêm.
     Một tuần sau, cán bộ cộng sản Huế trở lại phân phát những tấm h́nh chụp hôm mùng Hai tháng Chín cho dân tỵ nạn. Gia đ́nh ông bà Giáo Lê nhận được hai tấm: một tấm chụp chung với các người Miên và Trung Hoa ở giữa sân trại, một tấm chụp riêng với những người thuộc nhóm Pháp kiều ngay trước dăy nhà của họ, với sự hiện diện của cán bộ Thành, bên chiếc banderole do ông Dym h́ hục mang hết dụng cụ riêng ra hoàn thành. Nhân dịp này, cán bộ Huế tung tin trong trại: Ủy hội quốc tế đă bằng ḷng nhận tất cả những người tỵ nạn trong trại, công an Huế sẽ tổ chức thuê xe bus mang dân tỵ nạn trả cho tổ chức quốc tế. Dân trong trại mừng rỡ, reo ḥ, nhảy múa. Tiếng cười nói không ngớt vang ra từ những căn nhà của các khu ngoại kiều mang quốc tịch Miên, Trung Hoa và Pháp! Đàn ông, đàn bà tụm thành từng nhóm nhỏ chuyện tṛ, bàn tán suốt ngày. Họ chuẩn bị trước hành trang. Họ cắt tóc, cạo râu, uốn tóc cho nhau. Họ tập những câu tiếng Pháp, tiếng Mỹ, cần thiết để nói với nhân viên quốc tế khi những người này tới gặp họ. Những giấy tờ riêng cất giấu bí mật, nay được lấy giắt vào người cho tiện trưng ra khi cần.
     Một ông Lục trẻ tuổi tên là Thon trong khi đứng nói chuyện với cán bộ Ấu thủ kho, đă sơ ư để rơi xuống đất tấm căn cước từ túi áo cà-sa. Cán bộ Ấu thấy trước, bèn nhặt lên nh́n rồi đi tới trụ sở cán bộ. Sư Thon hoảng hồn chạy theo năn nỉ xin lại, nhưng không được. Cán bộ Thành ngồi tại bàn giấy xem xét tấm căn cước của sư Thon do chính phủ Việt-Nam Cộng-Ḥa cấp phát trước đây. Sư Thon mặt mũi tái mét, đứng chắp tay run rẩy. Cán bộ Thành dơng dạc nói:
     - Theo như lư lịch h́nh ảnh này, anh không phải là sư mô ǵ hết. Anh là dân Ngụy ở thành phố HCM giả làm Lục đi trốn. Từ ngày mai, anh không được mặc áo cà-sa nữa. Anh phải rời pḥng dành cho các ông Lục, sang ở chung với các thanh niên độc thân. Tóc để dài cho khỏi lẫn lộn với người tu hành.
     Thon lắp bắp nói:
     - Xin Bác cho cháu được đi quốc tế với những người khác. Cháu mồ côi, không có gia đ́nh trong Nam.
     Cán bộ Thành nói:
     - Việc đó anh đừng lo. Tôi giữ giấy tờ này, báo cáo lên cấp trên ở Huế, để họ giải quyết trường hợp của anh cho thật tốt đẹp. Bây giờ, anh về thu xếp sang ở khu độc thân đi.
     Thon vái lạy cán bộ Thành và cán bộ Ấu lia liạ, rồi đi nhanh ra ngoài. Tin Thon bị lộ giấy tờ lan khắp trại. Mọi người vừa mừng, vừa lo. Họ mừng v́ họ vốn không ưa Thon, cậy mang lốt tu hành chuyên môn cợt nhả với con gái của họ, phách lối với họ. Họ lo v́ ai cũng mang giấy tờ cũ trong người. Bây giờ, họ không biết giấu đâu. Họ không dám nhét lại vào các kẹt xó trong nhà, sợ bất th́nh ĺnh được đi, không kịp lấy mang theo, hoặc cán bộ lục soát tịch thu mất. Họ đành cứ giấu kỹ trong người, phó mặc cho số mệnh. Riêng giấy tờ của gia đ́nh ông bà Giáo Lê đă được ông Giáo gấp nhỏ, rồi mở đáy một ống thuốc đánh răng loại lớn, nhét vào chung với thuốc, uốn đáy lại, rồi cài vào khe tường trên nóc bếp. Ông định bụng sẽ chỉ lấy mang theo khi biết rơ ngày lên đường.
     Không khí trại tỵ nạn Hải-Lăng thật căng thẳng sau biến cố “Sư Thon”. Họ nh́n nhau bằng cặp mắt soi mói, hồ nghi. Họ dùng những lời bóng gió để thử nhau, xem ai thật, ai giả. Trong khi đó, cán bộ cộng sản đều đều phóng tin “trả cho quốc tế” trong khắp trại.
     Tối ngày Mười Ba tháng Chín năm 1976, rất đông cán bộ, bộ đội vơ trang đến cùng với nhiều xe bus c̣n mới. Họ họp khẩn cấp dân trong trại, ra lệnh:
     - Toàn thể người thuộc ba nhóm ngoại kiều phải thu xếp gấp hành trang. Gia đ́nh nào ở trong nhà đó, không được đi lại lung tung, và không được ra ngoài hàng rào. Sáng ngày Mười Bốn tháng Chín, tất cả mang hành trang tập trung trên các hành lang quanh sân giữa, chờ lên đường.
     Hành trang đă được thu xếp sẵn. Mọi người sẵn sàng ngồi trong nhà chờ sáng. Một vài người cố lén lút liên lạc với nhau. Cán bộ Điệt vào nhà của ông bà Giáo Lê. Hắn khẽ nói với Ông Giáo Lê:
     - Mật lệnh của Huế chỉ thị cho tôi tới bảo riêng anh rằng: Ngày mai, gia đ́nh anh chưa được đi đâu. Nhưng cả nhà cứ giả vờ mang hành lư lên sân giữa như mọi người.
     Ông Giáo Lê hiểu ngay. Ông gật đầu:
     - Cám ơn anh.
     Cán bộ Điệt đi ra lối cửa sau để tránh những con mắt ṭ ṃ. Anh Long từ đâu lẻn vào pḥng ngoài nhà Ông Giáo Lê. Anh nói với bà Giáo Lê:
     - Ngày mai lên đường bằng xe bus. Như vậy tôi với gia đ́nh chú hai và d́ hai sẽ không đi chung xe. Dọc đường cần phải có tiền chi tiêu. D́ hai và chú hai cho tôi mượn vài chục đồng tiền Hồ. Đi đến ngoại quốc, tôi sẽ đi làm trả lại cho chú hai và d́ hai.
     Ông Giáo Lê nh́n vợ gật đầu. Bà Giáo Lê rút trong ví ra bốn tờ giấy bạc mười đồng mầu đo đỏ hơi cũ. Bà đưa cho anh Long.
     - Chú cầm lấy bốn chục đồng tiền Hồ. Dọc đường ḿnh sẽ c̣n gặp nhau mà. Sau này sẽ tính. Chú cứ yên tâm.
     Anh Long cầm tiền, cám ơn, hí hửng quay đi. Ông Giáo Lê tiễn anh ta ra cửa. Ở đó, họ gặp anh Kéa và anh Khô. Hai người này hỏi:
     - Ông David biết nhiều hơn chúng tôi. Vậy, theo ông, chúng ta sẽ đi đâu?
     Ông Giáo Lê ngửa hai bàn tay ra, miệng nói bằng giọng rất lạc quan:
     - Đi quốc tế!
     Tất cả cười vui, gật đầu từ biệt nhau. Sáng ngày Mười Bốn tháng Chín, gia đ́nh ông Giáo Lê vác hành lư, theo mọi người lên khu giữa của trại Hải-Lăng. Ở đó, dân tỵ nạn được ra lệnh đứng chờ trên các hành lang. Giữa sân trại, các cán bộ đứng sẵn, tay cầm giấy tờ. Ngoài hàng rào, một hàng xe bus đậu, xe nọ cách xe kia độ mười thước. Bộ đội vơ trang vây quanh trại. Một cán bộ dơng dạc nói:
     - Tôi kêu tên ai, người ấy mới được mang hành lư lên xe. Các người khác đứng chờ trong trật tự.
     Tên các người của từng gia đ́nh được lần lượt đọc. Họ hân hoan lên xe trong trật tự. Người nào được lên xe trước đều tỏ vẻ rất mừng rỡ, nh́n những người c̣n lại bằng cặp mắt tự măn. Xe nào đầy, cán bộ vẫy tay cho chạy ngay. Khi một nửa số người đă đi rồi, cán bộ đọc tên:
     - Hos Saray Thon!
     Anh Thon chạy vội ra, tay xách túi vải. Cán bộ chỉ mặt Thon:
     - Anh ở lại, v́ không phải là ngoại kiều!
     Hắn ngoắc tay. Hai bộ đội đeo súng tiến lại, kềm cho Thon đi ra cuối sân, đứng ở đó. Thon há mồm định nói, cán bộ Thành quắc mắt, giơ tay ngăn lại một cách quyết liệt. Thon nín khe. Đám dân c̣n lại cũng nín khe. Họ thầm vái trời đừng cho họ có tên trong danh sách ở lại. Ông Giáo Lê ngồi trên thành một cửa sổ, mắt nh́n đám người tỵ nạn, nhận xét kỹ càng. Ông trông thấy một thanh niên người Miên đứng bên cây cột của hành lang bên kia sân. Đó là một cựu trung úy Cộng ḥa Cao-Miên. Bằng cặp mắt ưu tư, anh ta nh́n đám người tỵ nạn đang hăm hở tranh nhau lên xe bus. Anh ta chợt nh́n sang phía ông Giáo Lê. Bốn ánh mắt chạm nhau. Ông Giáo Lê hơi mỉm cười với ư nghĩ thầm kín: Các anh đang tranh nhau đi vào tử địa đấy! H́nh như anh thanh niên Miên hiểu lơ mơ được ư nghĩa cái mỉm cười của ông Giáo Lê, nên mặt anh ta hơi thất sắc. Ông Giáo Lê cố giữ nét mặt tự nhiên, quay nh́n chỗ khác. Đây là phút giây khá nguy hiểm. Với hơn một trăm người c̣n lại, chỉ một người đứng ra hô hào rằng cộng sản Việt-Nam đang dàn cảnh đưa trả dân tỵ nạn Miên cho Khmer đỏ, là sẽ xảy ra cuộc xô xát dữ dội giữa dân tỵ nạn Miên và bộ đội, công an, cán bộ cộng sản. Không chừng ba mươi lăm người tỵ nạn Pháp cũng bị hành hung lây.
     May sao, anh thanh niên Miên kia không làm cử chỉ nào đặc biệt ngoài việc bắt chước ông Giáo Lê nh́n sang chỗ khác. Khi không c̣n người Miên nào trong danh sách, người cán bộ phụ trách gọi tên lớn tiếng hỏi:
     - Người mang quốc tịch Miên đă lên xe hết rồi. Trên xe đó c̣n chỗ không?
     Một cán bộ đứng ngoài hàng rào cạnh chiếc xe bus hỏi tài xế, rồi lớn tiếng trả lời:
     - C̣n năm chỗ nữa.
     Người kia hỏi to:
     - Có gia đ́nh Pháp nào năm người không?
     Ông Thành đứng cạnh đó nói:
     - Gia đ́nh Lư Marcel có ba người, gồm hai vợ chồng và đứa con nhỏ. Ba gia đ́nh kia đông lắm. Hăy cho nhà Lư Marcel lên xe này đi.
     Mọi người cười khúc khích khi thấy gia đ́nh Lư Marcel lại chính là hai vợ chồng từng được cả trại đặt cho hỗn danh “ông bà ghẻ”, v́ cả nhà đều bị ghẻ khắp chân tay. Các hành khách trên xe đều gật gù tỏ vẻ yên tâm khi thấy một gia đ́nh Pháp lên ngồi chung xe với họ, v́ họ yên trí rằng toàn thể trại đều đi hết. Xe chạy. Mọi người trên xe, dưới đất giơ tay vẫy nhau rất phấn khởi. Ông Thành bảo mấy cán bộ:
     - Các anh bảo tài xế chiếc xe bus cuối cùng hăy về Huế đợi lệnh. Ba mươi lăm người Pháp này và anh Thon kia chưa đi ngay đâu.
     Hướng về ba gia đ́nh c̣n lại, ông Thành nói:
     - Kể từ hôm nay, các gia đ́nh hăy dọn vào ở dăy nhà trước mặt trụ sở cán bộ chỉ huy. Chừng nào có lệnh của Hà-Nội, các gia đ́nh mới được trả cho đại sứ Pháp. Bây giờ mọi người cứ ở yên đây, tự do ra vào trại. Ai muốn đi chơi các tỉnh xa như Đông-Hà, Quảng-Trị, Huế, chỉ cần nói với anh Điệt để anh ấy mượn xe chở đi.
     Dăy nhà dành cho ba gia đ́nh Pháp và anh Thon gồm có chín căn nhà. Căn đầu tiên sát hàng rào cạnh đường bỏ trống. Căn thứ hai là chỗ ở và pḥng khám bệnh của y tá Duy. Căn thứ ba là chỗ ở của gia đ́nh ông bà Giáo Lê. Con đường cát thứ nhất ngăn căn này với căn thứ tư là nhà của gia đ́nh ông bà Dym. Căn thứ năm dành cho anh Sriêng, em trai ông Dym, và chị Liêng. Căn thứ sáu của ông bà Bernard cách căn thứ bảy bằng con đường cát thứ hai. Căn này được chia cho gia đ́nh vợ chồng con gái cả của Bernard. Căn thứ tám cho anh Thon ở. Căn chót bỏ trống. Tất cả các dăy khác đều bỏ trống. Chung quanh khu nhà công chức này vẫn có hàng rào thép gai. Ngày đêm vẫn có bộ đội canh gác. Tuy nhiên nhân số bộ đội được giảm đi đến bốn phần năm tổng số trước đây khi trại chứa hai trăm bảy mươi người tỵ nạn. Dăy nhà người Pháp cách dăy nhà của cán bộ bằng cái sân cát khá dài rộng. Đầu dăy là nhà kho và chỗ ở của thủ kho Ấu. Căn kế tiếp vừa là văn pḥng, vừa là nhà của ông Thành cán bộ chỉ huy trại. Căn chót ngay cạnh hàng rào bên đường đi là nhà của cán bộ Điệt cùng ba nữ bộ đội. Trong nhà bếp, cách nhà kho cũng bằng con đường cát, chỉ c̣n lại hai người đàn bà. Hàng ngày, mỗi gia đ́nh vẫn được phát quà sáng và hai bữa cơm trưa và tối. Cơm gạo vẫn kham khổ như trước. Nhà nào muốn ăn thêm có thể tự động đi chợ, nấu nướng trong bếp của ḿnh.
     Hai gia đ́nh ông Bà Giáo Lê và ông bà Dym bảo nhau chỉ giúp đỡ anh Thon và hai vợ chồng anh Sriêng. Họ không liên lạc với đại gia đ́nh Bernard. Gia đ́nh này sống rất chật vật. Gần hết cả nhà bị đau ốm. Tuy vậy, ông Giáo Lê cũng bàn với vợ:
     - V́ ḷng bác ái, ḿnh nên giúp Bernard một lần nữa.
     Bà Giáo Lê bằng ḷng. Bà cùng Thúy-Hiên sang nhà ông bà Bernard. Ông Bernard đi xin thuốc ở pḥng y tá. Bà Giáo Lê đưa cho bà Bernard sáu chục đồng tiền Hồ. Bà nói:
     - Bà dùng tiền này mua thịt và sữa cho các cháu nhỏ dùng.
     Bà Bernard ứa nước mắt nhận tiền. Bà không nói tiếng Việt nhiều, nên chỉ chắp tay xá vài cái và gật đầu tỏ ư cám ơn. Bà Giáo Lê và Thúy-Hiên từ giă bà Bernard ra về.
     Vào giữa mùa Thu, thời tiết miền Trung-Việt khá lạnh. Dân trong và ngoài trại cũng như các công an, cán bộ, bộ đội cộng sản, ai nấy đều co ro trong chiếc áo len, áo dạ, khăn quàng, mũ nỉ. Bà Giáo Lê cùng Khiêm ra chợ mua áo lạnh. Họ mua được cho mỗi người trong gia đ́nh một cái áo len, một cái khăn quàng, và hai đôi tất. Cả nhà chỉ có ba cái chăn dạ được phát từ mùa đông năm ngoái. Ban đêm, gia đ́nh chia thành ba nhóm: ông bà Giáo Lê và con trai út Khanh nằm một chăn. Ba đứa con trai lớn nằm chung một chăn. C̣n một chăn cho Thúy-Hiên và Ngọc-Hân.
     Đầu tháng Mười Hai tây, trời càng ngày càng lạnh. Ông bà Giáo Lê đă quen với thời tiết mùa đông từ ngoài Hà-Nội và Thanh-Hóa xưa kia, nên họ không lạ lùng ǵ với cảnh thở ra khói trong không khí giá lạnh. Sáu đứa con của họ, mặc dầu chưa bao giờ biết lạnh, đều khỏe mạnh chịu đựng rất giỏi, phần v́ chúng được mặc quần áo khá ấm áp, phần v́ được ăn uống rất đầy đủ bổ dưỡng. Đứa nào cũng má hồng, môi đỏ. Ngoài hai giờ học tiếng Anh, tiếng Pháp mỗi ngày do “bố Lê” dạy, chúng vui chơi nô đùa với nhau trong trại. Buổi tối, cả nhà quây quần quanh cái bàn trên có ngọn đèn dầu lù mù. Cán bộ Ấu thủ kho đề nghị với ba gia đ́nh:
     - Tôi có thể xin tỉnh mắc điện cho mỗi căn. Nhưng phải trả tiền dây, bóng đèn, và công thợ là hai chục đồng tiền cụ Hồ.
     Trừ gia đ́nh Bernard và anh Thon, tất cả đều bằng ḷng.
Mỗi nhà được thợ đến mắc cho một ngọn đèn sáu mươi Watts. Cán bộ Ấu đề nghị thêm:
     - Nếu trả năm chục nữa, sẽ có hai bóng trên nhà, một bóng dưới bếp, và một bóng ngoài cửa cho đẹp nhà.
     Ông bà Dym và vợ chồng anh Sriêng định nhận lời. Ông Giáo Lê nói ngay:
     - Ở lâu mới nên làm. Nếu vài tuần nữa ḿnh được đi th́ uổng tiền.
     Thấy mọi người chần chừ, cán bộ Ấu lẳng lặng đi chỗ khác. Trong thời gian này, bà Giáo Lê được đi chơi xa hai lần: một lần ra Huế cùng với bà Dym và cô Liêng; một lần đi ra Đông-Hà cho Ngọc-Hân nhổ răng. Lần nào cũng có cán bộ Điệt tháp tùng. Giữa tháng Mười Hai 1976, y tá Duy cho mọi người trong trại uống thuốc trừ giun sán. Mỗi người được phát sáu viên thuốc tṛn tṛn, đo đỏ, to bằng hột bắp. Y tá Duy bảo:
     - Phải uống thuốc lúc sáng sớm khi bụng c̣n trống.
     Sáu giờ sáng, cả nhà ông bà Giáo Lê trở dậy. Mỗi người uống sáu viên thuốc với nước trà, rồi lên giường ngủ lại. Tám giờ sáng, ông Giáo Lê tỉnh dậy v́ thấy trong người khó chịu. Ông thấy hai mắt vướng víu. Ông vội cầm gương soi th́ thấy g̣ má gồ lên, miệng sưng vếu, hai mi mắt phồng như hai nửa quả chanh. Đầu óc ông say say. Ông hốt hoảng bảo vợ:
     - Anh thấy trong người làm sao ấy!
     Bà Giáo Lê vội choàng dậy. Mấy đứa con cũng tung màn, bước xuống đất, chạy lại xem bố. Cả nhà đều hoảng hồn, không biết chuyện ǵ xảy ra với ông Giáo Lê. Khiêm chạy đi gọi y tá. Anh này đến nh́n ông Giáo Lê, sờ mặt ông, nói:
     - Ông bị phạm thuốc. Phải sang ngay bệnh viện rửa ruột, khử độc.
     Ông Giáo Lê mặc thêm áo lạnh, đi giầy, cùng y tá đi vội sang bệnh viện. Khiêm chạy theo bố. Trong bệnh viện, y tá Duy khai với văn pḥng về tên thuốc và phản ứng của ông Giáo Lê. Người ta dẫn ông Giáo Lê vào một căn pḥng khá rộng. Pḥng này chia làm hai phần cách nhau bằng hai cạnh tường nhô ra chừng một thước. Một phần nhỏ hơn, bề rộng độ hai thước đủ để cái giường sắt cao lêu nghêu phủ khăn trắng nhầu nát. Phần kia rộng gấp ba là chỗ các y tá của bệnh viện ngồi bàn căi với nhau quanh bàn giấy. Một nam y tá bảo ông Giáo Lê :
     - Ông nằm yên trên giường khám bệnh. Tôi truyền nước khử độc. Chừng nào ông muốn tiêu tiểu th́ cho biết.
     Sau khi nghe tim phổi, lấy áp huyết cho ông Giáo Lê xong, anh ta đi tới cuối pḥng mở tủ lấy một chai nước trắng treo ngược lên một cây sắt có bánh xe. Anh ta lấy chiếc kim chích lớn cắm vào nắp chai nước bằng cao su, rồi lắp đáy kim chích vào đầu một cái ống nylon dài nhỏ trong suốt có khóa vặn để mở hoặc đóng. Anh ta kéo cây sắt lại sát giường chỗ ông Giáo Lê nằm. Anh ta lấy bông thấm alcool lau thật sạch một cổ chân ông Giáo Lê, lẹ làng chọc chiếc kim chích lớn vào gân cổ chân ông Giáo Lê, rồi dán băng keo giữ cho kim chích nằm yên trên cổ chân. Đoạn, anh ta vặn cái khóa ở đầu ống nylon, mở từ từ cho nước trong chai chảy ra từng giọt. Sau vài phút, ông Giáo Lê thấy như có làn hơi man mát từ dưới chân chạy dần lên người ông. Ông nhắm mắt lại. Cảm giác say say trong đầu ông tan chầm chậm, nhưng má, mắt và miệng ông vẫn c̣n căng phồng. Tiếng y tá nam nữ vẫn lao xao bên cạnh. Một giọng nữ lanh lảnh:
     - Khi được cứu sống, cái thằng cha đó khai với bệnh viện rằng nó bị phạm thuốc. Thật ra là nó muốn tự tử v́ sợ tội.
     Những lời đanh thép của người phụ nữ mà ông Giáo Lê không thấy mặt làm ông có cảm tưởng là ám chỉ ông. Sau đó, cuộc bàn căi tiếp tục nhưng khẽ dần. Ông Giáo Lê nghe một lúc không hiểu rơ, bèn nằm yên, ngủ thiếp đi. Tiếng người nói bên cạnh tai làm ông Giáo Lê tỉnh dậy. Người y tá lúc năy đang tháo băng keo, rút kim chích ra khỏi cổ chân ông Giáo Lê, rồi để bông lên trên vết thương, dán băng keo lại. Anh ta bảo :
     - Ông ngồi dậy từ từ.
     Ông Giáo Lê ngồi lên.
     - Ông có thấy chóng mặt không?
     Ông Giáo Lê lắc đầu.
     - Ông theo tôi sang pḥng bên kia nằm nghỉ. Ông được ăn uống như thường. Người nhà phải mang cơm sang. Bệnh viện không có khẩu phần cho trường hợp của ông.
     Người y ta dẫn ông Giáo Lê đến một căn pḥng nhỏ hẹp chỉ vừa đủ cho một cái giường gỗ trải chiếu cũ kê sát cửa sổ rộng không có cánh. Vừa lúc ấy, bà Giáo Lê cùng út Khanh, ông bà Bernard hiện ra ngoài khung cửa sổ. Ông Bernard nh́n ông Giáo Lê, mở to mắt kêu lên:
     - Trời đất ơi! Ông David bị nặng quá xá! Mặt mũi méo mọ hết trơn!
     Bà Giáo Lê hỏi chồng:
     - Bây giờ anh thấy trong người ra sao? Bao giờ mới được xuất viện?
     Ông Giáo Lê cất tiếng hơi khàn khàn:
     - Cám ơn ông bà Bernard. Trong người hết chất độc rồi. Hết mệt, nhưng chưa biết bao giờ mới được về. Em bảo Khiêm qua đây để anh nhờ nó vài việc. Buổi trưa phải mang cơm nhà sang.
     Bà Giáo Lê và mọi người ra về. Gia đ́nh ông bà Dym, Sriêng, và anh Thon cũng sang thăm. Không thấy bóng ông Thành và các cán bộ, bộ đội trong trại tạm cư. Ăn cơm trưa xong, ông Giáo Lê cảm thấy đau bụng khá nhiều. Ông ra ngoài hỏi y tá chỗ cầu tiêu. Lúc quay về pḥng, ông gặp người y tá chữa cho ông ban sáng. Ông cho anh ta biết rằng ông bị đau bụng. Anh ta nói:
     - Như vậy là tốt, v́ chất độc được tống ra hết. Ông thấy trong người nhẹ nhàng, phải không?
     Ông Giáo Lê gật đầu. Người y tá nói:
     - Vậy là ông khỏi rồi. Ông có thể ra văn pḥng lấy giấy xuất viện.
     Một ngày sau khi về trại, khuôn mặt ông Giáo Lê mới trở lại b́nh thường. Ngay chiều hôm đó cán bộ Lâm và cán bộ Bảo từ Huế ra Hải-Lăng. Họ họp với ông Thành, rồi sang gặp ông Giáo Lê. Cán bộ Lâm bảo :
     - Chúng tôi mời anh David ra Huế làm việc. Bây giờ ta đi ngay bằng xe Jeep. Anh ở Huế một đêm. Ngày mai sẽ có cấp trên đến gặp anh. Tối mai, chúng tôi sẽ mang anh về đây.
     Ông Giáo Lê mặc quần áo, khoác bên ngoài chiếc áo mưa nhà binh, theo hai cán bộ ra xe. Trước khi đi, ông nh́n vợ gật đầu. Bà Giáo Lê hiểu ư, mỉm cười. Trước đó, hai người đă bàn với nhau kỹ càng. Nếu một người vắng mặt, người kia sẽ phải săn sóc các con, phân chia công tác cho từng đứa trừ bé Khanh, trông coi nhà cửa, và hành sử thế nào với bên ngoài cho mọi sự được tốt đẹp. Khi ra tới Huế, ông Giáo Lê được dẫn vào một khách sạn lộng lẫy. Ông được ở trong một pḥng rộng răi, có đủ tiện nghi. Cán bộ Lâm bảo ông Giáo Lê:
     - Trong khi chờ đợi, yêu cầu anh viết một bài, nội dung cho biết ư kiến của anh về vấn đề sau đây: “Khi về tới Pháp, anh sẽ làm ǵ đối với các người Việt yêu nước hải ngoại, và, phải làm sao để biết ai là đồng chí của ḿnh.” Trên mặt tủ buffet có sẵn giấy bút. Anh cứ việc dùng. Nhớ viết rơ bằng tiếng Việt. Ngoài ra, yêu cầu anh để lại hai vật nhỏ: Một kỷ vật cho Ủy ban quân quản Huế, và một câu nói đặc biệt để người của chúng tôi và anh dùng nhận ra nhau khi gặp nhau ở ngoại quốc.
     Sau khi dặn ông Giáo Lê đừng ra ngoài một ḿnh, hai nam cán bộ đi mất. Buổi tối, có người đàn bà trạc năm mươi tuổi bưng khay cơm vào đặt trên bàn giữa pḥng. Bà ta gật đầu chào ông Giáo Lê, nói:
     - Xin mời ông dùng cơm.
     Ông Giáo Lê gật đầu chào lại, trả lời:
     - Chào bà. Cám ơn bà.
     Người đàn bà ra một góc pḥng, chắp tay đứng chờ, trong khi ông Giáo Lê ăn cơm. Bữa cơm khá sang với gạo trắng thơm, thịt, cá, canh rau, hoa quả bánh trái tráng miệng, một chai bière lớn, khăn lau miệng, tăm và nước trà. Ông Giáo Lê ăn nhanh cho xong bữa, phần v́ ông không thấy ngon miệng với những thắc mắc trong đầu, phần v́ có người đứng chờ. Thấy ông Giáo Lê thôi ăn, người đàn bà tiến lại gần, hỏi:
     - Sao ông làm khách thế? Chắc ông không quen những món của Huế, phải không?
     Ông Giáo Lê mỉm cười.
     - Cơm làm ngon lắm. Nhưng tôi không ăn nhiều. Cám ơn bà.
     Trước khi dọn khay cơm đi, người đàn bà chỉ về phía đầu giường, nói:
     - Nếu ông cần chi, xin cứ bấm chuông. Chúc ông ngủ ngon.
     - Cám ơn bà.
     Đêm hôm đó, ông Giáo Lê ngồi một ḿnh viết về đề tài do cán bộ đưa cho. Ư tưởng được tóm tắt như sau: Khi về Pháp, ông sẽ tiếp tục dạy học và giáo dục con cái thành người hữu dụng, không quên nước Việt-Nam; Để nhận ra ai cùng chí hướng với ḿnh, ông đề nghị dùng phương pháp “sàng sảy” bằng cách phát biểu và hành động khi th́ theo xu hướng cộng sản, khi th́ theo đường lối quốc gia, để biết ai theo bên nào ai chống bên nào. Ông nậy viên ngọc đỏ của cái nhẫn đeo trên tay ông, gói lại bằng tờ giấy trắng, bên ngoài viết: “Kỷ vật để lại cho Ủy ban quân quản Huế”. Cái nhẫn có viên ngọc đỏ này là của vợ ông tặng từ ngày mới cưới nhau. Ông viết trên tờ giấy khác hai câu chào hỏi tiếng Pháp “Comment vous portez-vous?” - “Je me porte bien. Et vous ?”. Ông gấp tờ giấy làm bốn, chặn gói giấy đựng viên ngọc đỏ lên, để tất cả trên mặt tủ buffet. Làm xong bấy nhiêu thứ, nh́n đồng hồ ông thấy đă hai giờ sáng. Ông bỏ màn, lên giường nằm lo lắng. “Tại sao bọn cộng sản lại mang ḿnh ra Huế cho ăn ở sang trọng như thế này? Tại sao chúng bảo ḿnh viết ra những điều sặc mùi chính trị? Tại sao chúng đ̣i đưa kỷ vật, viết câu ám hiệu? Biết đâu chúng chẳng lừa ḿnh ra đây điều tra lần chót rồi cho ḿnh đi ṃ tôm! Chúng chỉ cần trở lại Hải-Lăng nói với mọi người và vợ con ḿnh là ḿnh đă nhận lời đi công tác nơi xa, để lại cho vợ con viên ngọc đỏ!“
     Nghĩ vẩn tới gần sáng ông Giáo Lê mới chợp mắt một lúc. Có tiếng gơ cửa khá mạnh, ôÂng Giáo Lê mở mắt, nhỏm dậy, vén màn bước xuống đất ra mở cửa.lao công bưng khay quà sáng, tươi cười chào ông Giáo Lê, rồi bước vào pḥng. Bà ta đặt khay quà sáng lên bàn, nói:
     - Mời ông dùng quà sáng quê hương. Ông tắm rửa, nghỉ ngơi, xem đài truyền h́nh ở góc pḥng kia. Trưa nay, khách sạn được lệnh làm tiệc đăi ông cùng thiếu tướng chủ tịch Ủy ban quân quản Huế và các cán bộ cao cấp.
     Ông Giáo Lê cám ơn bà ta, rồi lặng lẽ ăn sáng, trong ḷng rất hoang mang. Ông tưởng tượng đến cảnh bữa ăn thịnh soạn cuối cùng của tử tội. Ông chép miệng, nói một ḿnh:
     - Nếu có như vậy là ḿnh tới số. Vợ con ḿnh đă được dặn ḍ kỹ càng. Họ sẽ theo như thế mà làm, để đi tới đoạn chót của con đường t́m tự do.
     Tâm hồn ông Giáo Lê từ từ lắng đọng. Ông nhất quyết giữ thái độ b́nh tĩnh của một Thánh tử đạo trước mặt bọn cộng sản ác ôn. Đúng mười hai giờ trưa, cán bộ Lâm và cán bộ Bảo tháp tùng một người đàn ông cao lớn khoảng hơn bốn mươi tuổi. Ông ta mặc quần áo nhà binh, nhưng không đeo lon, không đội mũ. Ông có khuôn mặt trắng trẻo, phương phi của một hoàng thân hơn là một sĩ quan cộng sản lạnh lùng, độc ác. Ông Giáo Lê đứng lên tiến lại đón tiếp ba người cộng sản. Cán bộ Lâm giới thiệu:
     - Đây là thiếu tướng Nguyễn Thái B́nh, chủ tịch Ủy ban quân quản Huế. Đây là anh David B́nh, đại diện các Pháp kiều ở trại tạm cư Hải-Lăng.
     Thiếu tướng Thái B́nh nở nụ cười rộng răi với cặp môi đỏ như son và hàm răng trắng phau. Ông nh́n ông Giáo Lê bằng cặp mắt sáng long lanh dưới đôi lông mày lưỡi mác rất oai vệ, giơ tay cho ông Giáo Lê bắt. Ông cất tiếng sang sảng :
     - Tôi là con cháu nhà Nguyễn, nhưng không theo phe hoàng gia mà gia nhập cách mạng từ lâu. Hôm nay tôi tới gặp anh để ăn cơm, nói chuyện vui, nhân tiện sẽ nhắn nhủ anh vài điều. Bây giờ ta ngồi xuống đây. Tất cả hăy tự nhiên, đừng khách sáo.
     Ông Giáo Lê nói :
     - Trước hết, xin thiếu tướng cho phép tôi trao lại hai anh Lâm và Bảo một vài thứ mà các anh dặn tôi làm.
     Ông Giáo Lê đi tới tủ buffet, cầm lấy gói giấy và xấp bản thảo, trao cho cán bộ Lâm. Anh này cầm lấy giở ra xem qua, rồi tươi cười nói :
     - Anh để lại kỷ vật viên ngọc đỏ là ư nghĩa lắm. Tài liệu mật hiệu và ư kiến của anh sẽ được chúng tôi xem xét sau. Bây giờ chúng ta theo lời yêu cầu của thiếu tướng chủ tịch ngồi xuống ăn uống đàm đạo ngay, kẻo trễ giờ hẹn khác của thiếu tướng chủ tịch. Hơn nữa, chúng tôi phải đưa anh David về Hải-Lăng ngay tối nay.
     lao công và hai cô tiếp viên bưng khay đựng các món ăn thuần túy của Huế cùng rượu bia, nước ngọt đặt lên bàn. Ông Giáo Lê chú ư nhất đến những món bánh khoái, nem nướng của Huế. Thấy ông Giáo Lê ăn uống chậm chạp, e dè, thiếu tướng Thái B́nh hăng hái gắp miếng bánh khoái vào bát của ḿnh. Ông chan nước mắm ngọt, cầm bát lên, lấy đũa lùa bánh vào mồm thật nhanh. Ông vừa nhai nhồm nhoàm, vừa nói :
     - Ăn tự nhiên như thế này này!
     Đoạn ông ngừng ăn, đặt đũa xuống, trịnh trọng nói:
     - Chắc anh Dvid biết cô đào hát Joséphine Baker bên Pháp ngày xưa chứ ǵ? Cô ấy thường hát bài “J’ai deux amours... ” Anh David có nhận thấy rằng anh cũng có hai mối t́nh không? Một mối t́nh với nước Pháp và một mối t́nh với Việt-Nam, v́ anh mang hai ḍng máu. Anh có bổn phận với cả hai nước. Con cháu anh cũng vậy. Tất cả đồng ư?
     Hai cán bộ Lâm, Bảo, và ông Giáo Lê đều gật đầu, đồng thanh:
     - Đồng ư!
     Thiếu tướng Thái B́nh ôn tồn:
     - Tôi biết đêm qua anh David có nhiều ưu tư lắm. Tuy nhiên, tôi cần xác định rằng: Cách mạng chỉ tiêu diệt ai khi biết chắc họ là kẻ thù, chứ không bao giờ làm hại bạn bè, đồng minh của ḿnh. Anh David là giáo viên nên mặc nhiên anh là bạn dân, ở đây hay ở nước của anh cũng vậy. Giáo viên không gây nợ máu. Đó là những lời tôi muốn nhắn nhủ anh trước khi trả anh về trại chờ ngày hồi hương. Sau này ta có rất ít dịp gặp lại nhau, nhưng cả anh lẫn tôi đều sẽ nhớ tới ngày hội ngộ hôm nay.
     Uống xong nước trà, thiếu tướng Thái B́nh đứng dậy. Hai cán bộ và ông Giáo Lê đứng lên theo. Cán bộ Bảo vẫy tay ra hiệu cho bà lao công. Bà này cầm một gói giấy xanh đỏ khá to đưa cho ông Giáo Lê. Cán bộ Lâm nói:
     - Chúng tôi gửi tặng cho các con của anh chị và của mấy gia đ́nh kia một ít quà. Anh chịu khó mang về chia giùm cho họ nhé. Bây giờ chúng ta từ biệt thiếu tướng chủ tịch. Anh David chuẩn bị để trở về Hải-Lăng ngay.
     Ông Giáo Lê gật đầu, nói lời cám ơn. Ông bắt tay thiếu tướng Thái B́nh. Ông này đi thẳng ra cửa một ḿnh. Hai cán bộ chờ ông Giáo Lê chuẩn bị xong, ra hiệu cho bà lao công dọn dẹp, rồi đưa ông Giáo Lê xuống thang, ra khỏi khách sạn. Họ trèo lên chiếc xe Jeep đậu sẵn bên lề đường. Ông Giáo Lê về đến trại tạm cư lúc hơn tám giờ tối. Bà Giáo Lê và các con vui mừng đón chồng, đón bố. Mỗi đứa trẻ trong trại nhận được các gói bánh, mứt, kẹo sản phẩm của Huế. Ông Giáo Lê kể tóm tắt cho các gia đ́nh kia rằng công an cán bộ Huế hứa sẽ trả tất cả Pháp kiều trong trại cho Pháp một ngày gần đây. Ông bảo vợ con đóng cửa, lên giường nằm cho khỏi bị muỗi đốt, rồi ông kể nho nhỏ việc đi Huế cho cả nhà nghe.
     Cán bộ Điệt bỗng nhận được lệnh đi công tác chỗ khác. Anh ta đến chào gia đ́nh ông bà Giáo Lê. Anh than:
     - Hôm nọ tôi buột miệng nói: “Ở đây chẳng có chi làm, ăn cơm với rau muống và nước muối hoài!” Một nữ bộ đội báo cáo với ông Thành. Bây giờ tôi bị đổi tới chỗ toàn śnh lầy, ruồi muỗi, canh chừng bọn sĩ quan Ngụy học tập.
     Ông bà Giáo Lê kín đáo tặng cho anh ta hai chỉ vàng. Bà Giáo Lê nói:
     - Anh đối xử tốt với chúng tôi. Tặng anh ít vàng để dùng khi cần.
     Cán bộ Điệt cầm vàng, nhét ngay vào túi áo trên, lấm lét nh́n quanh, th́ thầm:
     - Việc này anh chị sống để bụng, chết mang theo nhá. Tôi sẽ giữ vật này làm kỷ niệm và không bao giờ bán. Khi nào được về thăm mẹ, tôi sẽ biếu một chỉ để mẹ tôi đánh nhẫn đeo. Tội nghiệp bà cụ cả đời chưa được cầm chỉ vàng nào trong tay cả!
     Chiều ngày Mười Chín tháng Mười Hai năm 1976, hai cán bộ Bảo và Lâm và một cán bộ lạ mặt đến trại Hải-Lăng trên chiếc xe Jeep, theo sau là hai chiếc xe minibus c̣n mới. Ba người vào họp với ông Thành một lúc, rồi cho gọi chủ các gia đ́nh sang văn pḥng. Ở đó, họ cho biết:
     - Ngày mai, chúng tôi sẽ mang các gia đ́nh vào thành phố HCM trả cho Lănh sự Pháp, theo lời yêu cầu của Đại sứ Pháp ở Hà-Nội. Đây là anh Gia ủy viên bộ ngoại giao từ Hà-Nội mang văn thư vào Huế. Anh sẽ cùng chúng ta vào Nam. Các gia đ́nh phải chuẩn bị cho xong tối nay, để ngày mai lên đường càng sớm càng hay.

Đồng Tác Giả B́nh Huyên
(Thầy Ngô Trọng B́nh cựu Giáo Sư TH Hoàng Diệu)



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved