www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Tản Mạn Về Hồ Xuân Hương

Thầy Huỳnh Thanh Long

     Trước hết, xin hiểu cho đây là một bài viết với những ư tưởng tản mạn, các tư liệu góp nhặt và đươc sắp xếp lại theo thiển ư của người viết về sự nghiệp văn chương của một nữ sĩ, mà trước đây khi nhắc nhở về bà người ta chỉ biết qua các giai thoại. Thật vậy, trong chương tŕnh văn học phổ thông thời trước năm 1975, bên cạnh những vần thơ trang nghiêm, cổ kính của bà Huyện Thanh Quan, những bản dịch chỉnh chu của bà Đoàn thị Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc, những vần thơ bi ai khóc chồng của công chúa Ngọc Hân, thơ của bà xuất hiện với những lời thơ dung tục, trớt nhă, trêu ghẹo khiến người ta suy diễn rằng trong một xă hội c̣n mang nặng tư duy Khổng giáo vào thời kỳ đó th́ với cương vị một nữ nhi làm sao bà dám phá rào, xé vách để viết nên những bài thơ với nội dung như vậy? Có những ư kiến cho rằng đây là một sự đùa nghịch trên văn đàn của các thi nhân. Trải qua bao lớp phế hưng rồi thời gian và công lao của các nhà nghiên cứu đă trả lại cho văn học sử nước ta một sự thật và với những chứng tích không thể phủ nhận được, thi ư văn chương trong các thi phẩm quả thật không hỗ danh với câu được người yêu thi ca xưng tụng: bà chúa thơ Nôm Hồ xuân Hương.
     Năm 1964, ông Trần Thanh Mại phát hiện tập thơ Lưu hương kư của Hồ xuân Hương - đây là một tập thơ mà số phận của nó cũng lênh đênh trôi nổi như thân phận của bà - gồm 52 bài trong đó có 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm, nội dung của tập thơ bao gồm các bài thơ của bà  sáng tác cùng các thi nhân đương thời xướng hoạ. Ta sẽ trở lại nội dung của tập thơ nầy ở phần sau.
     Nghiên cứu về thơ của Hồ xuân Hương, những người yêu mến thơ bà đă tốn nhiều bút mực và cũng đă xảy ra không ít nhiều tranh căi về thơ bà trước khi tập Lưu hương kư được công bố, nhưng tựu trung các nguồn nghiên cứu chỉ dựa vào ba mảng thơ khác nhau:
Mảng thơ Hán và Nôm trong tập Lưu hương kư.
Mảng thơ trong di cảo của ông Antony Lalandes trong thư viện Viễn đông Bác cổ ở Pháp.
Mảng thơ Nôm được truyền tụng và cho là của bà.

     Trong mảng thơ Nôm được cho là của bà và được nhắc tới nhiều th́ hầu hết là các bài thơ mang nội dung dung tục, giễu cợt, trớt nhă, chẳng hạn như trong bài Kiếp tu hành:
thuyền cừ cũng muốn về thiên trúc,
trái gió cho nên phải lộn lèo,

     Hoặc trong bài Trống thủng:
của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
nó thủng v́ chung kẻ nặng dùi,

     Trong bài Tát nước:
đang cơn nắng cực lại mưa tè,
     rồi lại mỉa mai về vai tṛ người phụ nữ:
tất cả những là thu với vén,
     chua xót với thân phận làm lẻ:
”năm th́ mười họa nên chăng chớ,
một tháng đôi lần,có cũng không”

     dí dỏm trong bài Cái quạt
vành ra ba góc da c̣n thiếu,
khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

     ví von như bài thiếu nữ ngủ ngày:
đôi g̣ bồng đảo sương c̣n ngậm,
một lạch đào nguyên nước chửa thông

     hay trêu ghẹo các nhà sư:
”oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
vẫn mọp sau lưng bảy tám bà,
khi cảnh, khi tin, khi chủm choẹ,
giọng h́, giọng hí, giọng hi ha”

     và c̣n rất nhiều bài  nữa cũng với nội dung tương tự mang tính nói lái dí dỏm, có khi ta bắt gặp nơi thơ bà những từ mang đậm màu sắc dân dă như: đỏ ḷm tom, già tom, mấn mó, lún phún, le te .v.v… hoặc mượn các thành ngữ nhân gian đem vào thơ: mỏi gối chồn chân,cũng muốn trèo, cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng, ba ch́m bảy nổi, với nước non, ngồi lá vông, chổng mông lá tróc .v.v…
     Nói ra ngoài lề môt chút, đôi lúc cái nh́n nội dung tác phẩm văn chương cũng có cái kỳ thị đáng yêu của nó, trong  những năm đầu của thế kỷ 20, thơ Hàn mạc Tử cũng bởn cợt như vậy mà có ai phàn nàn, ”xỉa xói“ ǵ đâu, có khi c̣n b́nh luận là những khai phóng trong thi ca theo trường phái cách tân nào đó
Ô ḱa, bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
(Bẽn lẽn)
     Hoặc là:
mới lớn lên trăng đă thẹn tḥ,
thơm mùi t́nh ái của ni cô
(Huyền ảo)

     Và những nét tự t́nh trăng gió:
bóng nguyệt leo song rờ rẩm gối,
gió thu lọt cửa cọ mài chăn
(Thức khuya)
     Giáo sư Nhan Bảo (khoa ngữ văn đại học Bắc kinh) trong bài “những phát hiện mới về thơ Hồ xuân Hương cho rằng bài thơ Cây đánh đu được cho là của bà đă xuất hiện từ lâu trong Hồng đức quốc âm thi tập.(không rơ tác giả). Xin chép lại dưới đây:
Bốn cột lang nha cắm để chồng
Ả th́ đánh cái, ả c̣n ngông
Tế hậu thổ, lom khom cật,
Vái hoàng thiên, ngửa ngửa ḷng,
Tám bức quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc đứng song song
Chơi xuân hết tấc xuân dường
Nhổ cột đem về lổ bỏ không

     Đánh Đu
(được cho là của Hồ xuân Hương)
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người th́ lên đánh kẻ ngồi trông
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng cong, ngửa ngửa ḷng,
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân, có biết xuân chăng tá?
Cột nhổ đi rồi, lổ bỏ không
     So sánh hai bài trên, chúng ta không dám lạm bàn về h́nh thức và nôi dung của của nó mà chỉ nêu lên sự gần giống nhau về câu cú mặc dầu khác nhau về không gian lịch sử và cho đến nay cũng chẳng t́m ra câu trả lời về xuất xứ. Tương tự trong tập Minh đô sử có viết “thế truyền Đặng Tuyên phi nhân thực ba la mật, hữu quốc ngă thi vân“ (người đời tuyên truyền rằng Tuyên phi họ Đặng (Đăng thị Huệ, ái phi Trịnh Sâm) ăn mít có bài thơ Nôm:
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù x́, múi nó dầy
Quân tử có yêu xin đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay

     Theo ông Kiều thu Hoạch, trong Quế sơn thi tập có ba câu đươc cho là của Xuân Hương cũng gần giống như trên:
Dái nầy hẳn ở chạc ba cây,
Da nó xù x́ múi nó dầy
Quân tử có say xin đóng cọc
chớ đừng mân mó nhựa dính tay.

     Tập hợp những giai thoại, những vấn đề về ḍng thơ Nôm của bà, có người đặt nghi vấn: lấy ǵ làm bằng cớ để nói rằng, những bài thơ Nôm trên là của Xuân Hương, bởi những bài thơ đó chỉ mang tính khẩu truyền.
     Ta trở lại một chút về mảng thơ mà ông Antony Landes thuê người chép lại. Ông Landes (1850-1893) nguyên là giám đốc trường thông ngôn, là người yêu văn học, ông thông thạo chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ và cả chữ Chăm. Ông thuê người chép lại các truyện cổ tích của Việt và Chăm. Sau truyện thơ Nhị độ Mai, ông chú ư đến việc thu thập thơ cua Hồ xuân Hương. Các văn bản thơ của nữ sĩ nầy về sau được lưu trữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris.
     Trong mảng thơ được cho là của Hồ xuân Hương do ông Landes thuê chép, trong đó người ta thấy lẫn lộn nhiều phần:
     Những bài thơ của vua Lê thánh tôn (vịnh Bù nh́n), thơ bà huyện Thanh quan (chùa Trấn vơ), thơ của chúa Trịnh Sâm, thơ của Lê quí Đôn
     Những bài do Lê Quư, Nguyễn văn Đại bịa ra nhằm mục đích lĩnh thêm tiền thưởng.
     Những bài thơ nhằm phê phán, đánh đổ Phật giáo những năm đầu Pháp thuộc, sau các cuộc khởi nghĩa của những nhà sư (Vương quốc Chính,Vơ Trí) các sư thầy bị thực dân miệt thị là bọn giặc đầu trọc và có lẽ họ mướn người làm thơ phỉ bảng và nếu đem so sánh những bài nầy với những kiến thức uyên bác về Phật giáo của bà trong các bài vịnh cảnh Đồ Sơn th́ vô cùng khác biệt.
     Những bài thơ được cho là của bà bị sửa chữa lại thành dâm tục hay là ai đó đặt lời rồi gán cho bà?
     Giả sử như bà là tác giả của hai mảng thơ như vừa đề cập ở trên th́ với tập Lưu hương kư ta thấy dường như có hai bà Hồ xuân Hương, người nầy th́ dung tục, trớt nhă, người kia th́ lịch lăm, lăng mạn, thi tứ xúc tích như lời tựa của Tốn Phong trong tập Lưu hương kư: ”học rộng mà thuần thục, dùng ít chữ mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép tắc mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ.”
     Có văn ắt hẵn phải có người. Vậy Hồ xuân Hương, bà là ai? Hồ xuân Hương tên húy là Hồ phi Mai, sinh nắm 1772 tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, Thăng long, Hà nội. Cha bà là Hồ phi Diễn (1703-1786), năm 20 tuổi đậu tam trường, dạy học nhiều nơi và lấy mẹ bà người họ Hà gốc Hải dương làm vợ lẻ. Theo gia phả họ Hồ, tổ phụ 12 đời là Hồ hưng Dật (quan thái thú bên Tàu), các chi họ Hồ lập nghiệp ở Việt nam gồm: Thanh hoá có chi Hồ quí Ly, chi Nghệ an là Hồ phi Diễn, chi anh em nhà Tây sơn là Hồ phi Phúc (lược ghi theo Hoàng xuân Hăn). Thưở nhỏ bà học ở nhà với cha, năm 13 tuổi biết làm thơ và hay đối đáp với các danh sĩ trong làng (như với Dương trí Tạn).
     Theo các tài liệu đă xuất bản, cuộc đời của Hồ xuân Hương chỉ vơn vẹn hai năm hạnh phúc với ông Trần Phúc Hiển, theo dấu vết trong Lưu hương kư ta lần theo cuộc đời bà, từ mối t́nh đầu với thi hào Nguyễn Du (đây không phải là một giai thoaị), ta hăy nghe bà viết trong bài: Cảm cựu kiêm t́nh Cần chính học sĩ Nguyễn Hầu trong Lưu Hương kư, thời điểm nầy Nguyễn Du được thăng chức Cần chánh đại học sĩ, c̣n bà là thân goá phụ:
Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung,
Cậy ai tới đấy gửi cho ḿnh
Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết c̣n mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong

     Có người ví von rằng nếu thi hào Nguyễn Du là loài hoa đẹp nhất trong các loài hoa trong vườn thi ca th́ Hồ xuân Hương là loài hoa lạ nhất. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đă nói về số phận của những bậc tài hoa theo sự ghét ghen của tạo hoá và phải chăng đó là lời than thầm cho một số phận của một người mà ông đă có thời đem ḷng yêu mến: ”lạ ǵ bĩ sắc tư phong, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” hay cảm thán về số kiếp của một ca nhi qua bài Độc Tiểu thanh kư “chi phấn hữu thần liên tử hận, văn chương vô mệnh luỵ phần dư.” để qua đó tiếc thương cho một bậc tài hoa vắn số của người bạn cũ. Thời cuộc đă không giữ được Nguyễn Du ở lại nơi bà sống, sau đó mẹ bà gă bà cho  anh Lang ở xóm tây làng Nghi tàm (?) sau có bài thơ “bà Lang khóc chồng“ không biết phải trong giai đoạn nầy không? Rồi đến với mối t́nh với Mai sơn Phủ, ông nầy về quê cậy mẹ cha đến hỏi cưới nàng rồi có lẽ mất tích trong loạn lạc. Ta hăy cùng nghe hai người đối đáp qua thơ:
     Mượn ư bốn câu đầu trong bài Thu tứ ca của Hán vũ đế Lưu triệt, Mai sơn Phủ viết những lời tâm sự gởi gấm đến bà (trong Lưu hương kư)
Thu phong khởi hề bạch vân phi
Thảo mộc hoàng hạc hề nhạn nam quy
Lan hữu tú hề cúc hữu phương
Hoài giai nhân hề bất năng vương
Ngă hữu tửu hề vô đối ẩm
Ngă hữu cầm hề vô tri âm
Bất chước tửu hề bất minh cầm
Số bôi thanh đính hề cố nhân tâm
Khúc hát mùa thu (Nhất Uyên dịch)
Gió thu nổi chừ mây trắng bay
Cây cỏ vàng rơi chừ nhạn nam quy
Lan có đẹp chừ cúc có hương
Nhớ giai nhân chừ ḷng không quên
Ta có rượu chừ không bạn uống
Ta có đàn chừ không tri âm
Không chuốc rượu chừ không gảy đàn
Mấy chén trà xanh chừ ḷng cố nhân

     Hồ xuân Hương trong tâm trạng chờ mong người bạn t́nh trở lại. Trong bài thơ Nôm trong Lưu hương kư có tựa đề Biệt ly Mai sơn Phủ, bà trút hết nỗi ḷng:
Này đoạn chung t́nh biết với nhau
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu
Trên tay khép mở tanh chiều lạnh
Trước mắt đi về gấp bóng câu
Nước mắt trên hoa là lối cũ
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu
Vắng nhau mới biết t́nh nhau lắm,
Này đoạn chung t́nh biết với nhau
     Có lẽ mối t́nh để lại nhiều thơ văn trong Lưu hương kư là mối t́nh với Mai sơn Phủ, có những bài hẹn thề thắm thiết. Trong bài Cảm nghĩ khi thề, bà viết:
Mười mấy năm trời một chữ t́nh
Duyên tơ nầy đă sẵn đâu dành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chữ tử sinh
Một kiếp đă thề cùng dạ thắm
Trăm năm đành phụ với đầu xanh
Mai sau ḷng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến ḿnh
     Không thành mối lương duyên cùng Mai sơn Phủ, rồi giặc giă nổi lên, Hồ xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Yên gặp Tổng cóc Nguyễn Vĩnh Hoà (1802) rồi bắt đầu cuộc đời nhiều năm lận đận làm lẻ và chịu sự ghen tuông, thân phận ví như ”cầm bằng làm mướn, mướn không công” hẩm hiu trong cảnh ”kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.” Dứt t́nh Tổng cóc, bà trở về làng cũ mở hiệu sách ở phố Nam, buôn bán lỗ lă, con mất. Tốn Phong là một đồ nghèo đến làm bạn thơ, lúc nầy hiệu sách không có lời, bà phải đi buôn nhiều nơi để nuôi mẹ già yếu. Trong thời gian lui tới hiệu sách, qua giao tiếp, ta hăy xem Tốn Phong viết về bà với những lời ca ngợi: ”Tôi thường nghe, người đất Nghệ an thuần tú mà ham học. Đúng như thật. Đàn ông tuấn kiệt th́ có các bậc khoa bảng đời trước, đàn bà tinh anh th́ có những người như Phan My Anh và Hồ xuân Hương. Người ta nói núi cao, sông sâu sinh ra nhân tài tuấn kiệt, quả không sai vậy. ”Tốn phong, một gă t́nh si, đă hai lần thi hỏng, hoạ thơ đề vận cùng Xuân Hương nhiều lần, làm thơ ca tụng nhan sắc bà: ”nét thanh xuân ấy ngàn vàng khó mua“ hay là ”như dáng cây mai, xinh cốt cách, mười phần xuân sắc rạng trời xanh’’ (bài số 22), trong bài 12 ông viết:
Hoan châu vốn tiếng đẹp thuần,
Sao Khuê rạng rỡ mười phân vẹn toàn,
Tinh anh chin chín Hồng Sơn
Hoa Mai riêng chiếm trời Xuân Đế Thành,

     Với những câu thơ ca tụng nhan sắc nàng như vậy của nhà nho Tốn Phong, có lẽ đă đánh đổ giả thuyết trong nhân dân gian cho rằng, nàng mặt rỗ lại ẩn ức về mặt t́nh dục cho nên mới có những bài thơ bóng gió về t́nh dục như đă dẫn chứng ở phần trên. Về tài thơ văn của bà, Tốn Phong đă viết trong lời tựa của Lưu hương kư: ”Tứ thơ dồi dào, nhưng vẫn tỏ ra vui mà không buông tuồng, buồn mà không đau thương, khốn khổ mà không lo phiền, cùng mà không bức bách. Thật là do tính t́nh nghiêm chỉnh mà ra. Lưu hương kư tuy đầy vẻ gió mây trăng móc, nhưng đều tự đáy ḷng mà phát ra, biểu hiện thành lời nói, lại cũng đều đúng với cái ư đă nói ở trên kia là xuất phát từ mối t́nh mà biết dừng lại trên lễ nghĩa”.
     Hồ xuân Hương và Tốn Phong quả là không duyên nợ vợ chồng, trong thời gian gần gũi th́ e dè đến khi thố lộ tâm t́nh th́ đă có điều ngăn cách (khi Tốn Phong trở lại th́ Xuân Hương đă hứa duyên cùng Trần Phúc Hiển). Xuân Hương trong thời gian bôn ba buôn bán có gặp Hiệp trấn sơn Nam hạ Trần quang Tĩnh, ông nầy ngơ lời cầu hôn, nàng chờ đợi, nhưng Quang Tĩnh không đến, loạn lạc lại nổi lên, bạn thân là Tử Minh mất, (Xuân Hương có nhiều bài thơ ai điếu người bạn thân nầy), thời gian này do mưu sinh bà để lại hai lớp học ở Nghi tàm, bà trở lại nghề dạy học, quan Tham hiệp Yên QuảngTrần Phúc Hiển cầu hôn, đám hỏi không bao lâu th́ mẹ mất, bà cư tang cho đến năm 1816 rồi về nhà chồng ở Yên Quảng, được hai năm chồng bà bị bắt và bị kết án tử h́nh (vụ án Nguyễn văn Thành). Xuân Hương trở về làng cũ ở Nghi tàm và chết trong cô đơn lặng lẽ. Bà chết khoảng 1822 tại làng Cổ nguyệt đường bên hồ Tây, mộ phần trong khu nghĩa địa trước chùa Kim Liên, ngày nay khu này đă ch́m trong làn nước hồ Tây do viêc đắp đường Cổ Ngư ngăn đôi Hồ Tây và Trúc Bạch.
     Cuộc đời của Xuân Hương, người mà bà trân trọng nhất có lẽ là Trần phúc Hiển, ta thấy bà ghi trong Lưu hương kư với những lời trân trọng:
Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng
Cân tiếp quang nghi: nhật chính đông
Hậu ư vĩ giao tri thuỷ đạm
T́nh hoài sơ ẩm giác đôn nồng
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng,
Ngă bối tài t́nh chính sở chung
Ác thủ dàm tâm quân mặc quái
Lục giang nhất khứ thuỷ thiên trùng

(Lưu hương kư,bản chữ Hán)
Dịch (Nhất Uyên)
Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng,
được tiếp dung nghi: nhật chính đông
Nhă ư biết nhau ḷng đạm bạc,
chén t́nh vừa nhấp đă say nồng
Châu ta thanh khí cùng tương đắc,
chung đúc tài t́nh một chữ đồng
Tay nắm nói đi, chàng chớ ngại,
Lục giang một biệt cách ngàn trùng

     Thấy ư thơ, ta nghĩ Hồ xuân Hương như bị một tiếng sét ái t́nh, với khuôn mặt,dáng dấp ”nhật chính đông” rạng rỡ như ánh mặt trời buổi sáng của Trần Phúc Hiển, bà thầm trách số trời không cho ḿnh được gặp con người nầy sớm hơn để 10 năm trước phải bôn ba lận đận trong duyên số và cả cuộc đời:
Nỗi con riêng giận ngày trời ngắn
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao
Sớm biết lẽ trời: ly có hợp
Th́ mười năm trước bận chi nao

(thơ Hồ xuân Hương trong Lưu hương kư)

     Trong Lưu hương kư c̣n nhiều bài thơ đối đáp giữa hai người, trong đó hầu như bà nhiều lần bày tỏ nổi lo âu không được vuông tṛn cùng Phúc Hiển, rồi sau đó bà cũng được toại nguyện, sống hạnh phúc bên chồng, những sáng tác của bà trong thời gian nầy đă  nói lên điều ấy, (vịnh vợ chồng đá, thả thuyền chơi trăng, tự t́nh, trăng thu.v.vv), trong giai đoạn nầy có bài Ngư ông khúc hành, phải nói đây là một kiệt tác trong thi nghiệp của bà, điểm đặc biệt ở thể Hành nầy là sau 4 câu thất ngôn là một dăy lục bát bằng chữ Hán,thể này không có ở Trung quốc mà chỉ có ở Việt nam
Dă ông đạm bạc diệc phồn hoa,
Thác nhận đào yêu thị hệ la
Kư ngữ khinh châu ṭng điếu tử,
quá giang ưng bất bất thính tỳ bà
Quá giang mạc thính tỳ bà
Cao thanh bất tự hồ già thê lương
Đào nguyên thuỷ khoát thiên trường
Ngư ông bất trạo thiên đường bán khai
Vạn trùng xuân toả thiên thai
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng
Hàn sơn thảo sắc thông thông
Tô giang kư đáo thanh phong tự nhàn
Khúc Hát Ngư Ông
(Nhất Uyên dịch)

Già quê đạm bạc lánh phồ hoa,
người đến mây đào cùng họ ta
Nhắn với thuyền nan người câu cá,
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
Qua sông đừng nghe tỳ bà
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
Nguồn Đào trời nước mênh mang
Ngư ông một mái nhà tiên mở mờ
Muôn trùng xuân toả thiên thai
Tiếng đàn vui, tiếng ốc dài buồn tênh
Non Hàn mái cỏ tranh buông
Sông Tô đến đấy thong dong gió ngàn.
     Năm 1819,Trần phúc Hiển bị đem ra pháp trường (theo chính sử Đại nam thực lực chính biên). Có người phụ nữ xinh đẹp khóc cười điên dại ôm xác chồng:
Trăm năm Phúc Hiển hởi chàng ôi!
Cái nợ phong trần vỗ trắng rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Phá tan hồ thỉ bốn phương trời
Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc

Giọt máu trên tay mĩm miệng cười
Thân thế thôi c̣n chi nói nữa
Trăm năm Phúc Hiển hởi chàng ơi!

     Sách Quốc sử Di Biên, bản chữ Hán lưu tại Viễn Đông Bác cổ nộiHà nội, số kư hiệu A.145: “vợ thiếp ông là Hồ xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham hiệp thương sai nàng dự vào việc quan…” Do gia cảnh tang tóc như vậy nên những tư liệu về thi nghiệp của bà có thể do bị tịch thu hoặc tiêu huỷ cho nên hậu thế chúng ta lần ṃ măi về sự nghiệp và thân thế của bà Nếu ông Đào thái Tôn đừng giữ tập thơ Lưu hương kư trong suốt mấy chục năm dài (40 năm) do nhiều chủ ư, người yêu thơ đă bạch hoá được nhiều giai thoại chung quanh bà sớm hơn. Trong thi nghiệp của Hồ xuân Hương c̣n rất nhiều bài thơ hay mà trong bài nầy không nêu ra hết được, dầu thế nào chăng nữa, với những ḍng tản mạn nầy cho phép dùng nó thay cho ḷng ngưỡng mộ của ḿnh đối với một cuộc đời tài hoa lận đận.
     Khi Lưu hương kư được biết đến, những lời b́nh phẩm về thơ của Hồ Xuân Hương đă đánh đổ truyền thuyết xem bà là một người đa tài, đa t́nh và cả đa dâm, trái lại qua thơ văn đă chứng tỏ bà là một nữ sĩ nghiêm chỉnh, thành thật, học rộng, những lời thơ xuất phát tự đay ḷng mà ra. Từ cổ chí kim, những áng văn chương tuyệt tác đều xuất phát từ những cảm xúc chân thật của tác giả và Hồ Xuân Hương cũng nằm trong qui luật đó. Nói ǵ đi nữa chúng ta phải cùng đồng ư với nhau một điều: Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ trữ t́nh, lăng mạn đầu tiên trong văn học nước nhà. Xin cùng nhau trân trọng đoá hoa thơm nầy và tô điểm thêm để thơ bà trường tồn cùng hậu thế.

Thầy Huỳnh Thanh Long
(Trường trung học Hoàng Diệu, Sóc trăng)

     Ghi chú:
     Năm 1963, ông Trần thanh Mại đọc 1 bản thảo trong viện Hán Nôm không mang tên Lưu hương kư mà mang 1 tên khác ”Du hương tích đông kư” cả thảy gồm 9 tờ (bài kư chiếm phân nửa} 4, 5 tờ c̣n lại chép 31 bài thơ chữ Hán của một người lưu bút danh là Tốn Phong, trong đó có bài tựa ông viết cho Lưu hương kư và 31 bài thơ ông viết tặng Hồ xuân Hương.
     Trần ngọc Quán, người Nghệ an, năm 1815 được bổ chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng (gồm Hà nội và Hưng Yên) đă gặp Xuân Hương và cùng xướng hoạ thơ văn cùng bà, sau 3 năm th́ bệnh mất, trong vụ án Nguyễn văn Thành, không hiểu Quán có dính líu đến hay không,nhưng khi ông chết, bà Hiệp Trấn đem thơ ra đốt, các danh sĩ tham gia Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường cũng đốt hết thơ của họ. May có nhân vật trong gia đ́nh cụ cử Nguyễn văn Tú (Nam Định) c̣n giữ một văn bản thơ Lưu hương kư mang chú dẫn của Hoan Trung Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương nữ xử tập. (Trần  ngọc Quán khuyên khích Xuân Hương lập hội Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường để cùng các danh sĩ trong vùng xướng hoạ thi văn).
     Tốn Phong viết trong bài tựa Lưu hương kư: ”sang mùa xuân Giáp Tuất (1814), tôi t́m đến chỗ ở cũ của cô, hai bên vừa mừng, vừa tủi, Xuân Hương liền cầm tập Lưu hương kư, đưa cho tôi xem mà bảo rằng: đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước tới nay, nhớ anh làm cho bài tựa. Tôi mở tập thơ ấy ra xem th́ thấy những bài thơ năm chữ, bảy chữ, những điệu ca phú và từ chép đầy trong một quyển.
     Ông Đào thái Tôn mang trả lại tập Lưu hương kư cho Viện Hán Nôm Hà nội ngày 27-10-2008.
     Bài viết trên đây dựa vào nguồn tư liệu của các ông:
     T.S Phan trọng Chánh: Hồ xuân Hương và Tốn Phong, người t́nh si.
     T.S Phan trọng Chánh: Mối t́nh Hồ xuân Hương và Mai sơn Phủ qua Lưu hương kư.
     T.S Phan trọng Chánh: mối t́nh Hồ xuân Hương và Trần phúc Hiển, quan Tham hiệp trấn Yên Quảng.
     T.S Nguyễn ngọc Bích: những phát hiện về thơ Hồ xuân Hương và vấn đề liên bản Minh đô sử: là một bộ sử tương đồ sộ gồm 93 quyển và 7 quyển phụ. Tác giả bộ sử là ông Lê trọng Hàm, tự Quốc Ninh, hiệu Trọng Giang, quê làng Hội khê ngoại, huyện Giao thuỷ Nam định, ông mất ngày 12-10-1931 hưởng dương 59 tuổi. Minh đô sử là sử nước Nam (do chữ cổ Minh đô là vùng đất phía Nam). Tên đầy đủ của bộ sử nầy là: Tân đính Nam Á đại minh đô đế quốc sử vựng toàn xuân thu đại toàn gọi tắt là Minh đô sử.



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved