www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Phương Nam: Ánh sao nơi cuối Trời

Cựu MX Lâm Tài Thạnh TĐ 9 TQLC
(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu
30/03/1975 đến 18/04/1975)

Phần 4: Cát bụi đường xa

Tiếp tc cuc trường chinh b hành: N+6, 9/4/1975
     Tiếng chim hót trên cành cây, tiếng lá cây dừa chạm nhau kêu xào xạc mỗi khi có cơn gió thổi qua, xen lẩn tiếng động cơ các loại xe cơ giới hạng nặng ngoài đường Quốc lộ 1 khiến chúng tôi giật ḿnh tỉnh dậy. Tôi cuốn vội tấm nylon, xếp nhỏ gọn, dấu trong bụng phía trước. Chúng tôi cẩn thận đi lần ra sát mé lộ, núp sau các thân cây dừa, trông thấy hàng đoàn dài, các loại xe Molotova chở quân chánh quy Bắc việt, xe kéo các loại súng pháo binh, hỏa tiển Sam pḥng không có cả chiến xa, Tôi nói nhỏ với Quan:
     - Phải chi có vài đợt B 52 th́ hay biết mấy!!!
     Đoàn xe chạy kéo dài cả tiếng đổng hồ. Chúng tôi trở vào căn nhà vắng chủ, rửa mặt xong đi ṿng quanh sân phía sau nhà, đến các gốc cây dừa, lượm mỗi người 2 quả dừa khô, dùng các cục đá có đầu nhọn, đập tách phần vỏ dừa, xong khoét lổ xỏ dây dừa cột lại, đeo trên vai (giống như các khinh binh trong khẩu đội súng cối 60/81 ly mang mấy quả đạn khi đi hành quân) rồi ca bài “lên đường” tiếp tục cuộc “bộ tŕnh” với hy vọng sẽ đón được xe xin quá giang.
     Đi măi, đi măi, đi măi mà chẳng thấy có bóng dáng xe dân sự nào chạy qua, Tôi đoán có lẻ hôm nay bọn chúng “cấm đường” dân chúng, để cho các đoàn xe quân sự ưu tiên đi qua v́ trong suốt đoạn đường đi, rất nhiều đoàn xe của Bắc việt di chuyển, trong đó có cả các loại xe quân đội cũ của VNCH, trên xe toàn là bọn lính “con nít” 16 – 17 tuổi, chúng chỉ chỏ, bàn tán xem rất là “đáng ghét” khiến tôi ao ước những điều “không tưởng”: phải chi có máy bay oanh kích, phải chi “quân ta một ḷng cố thủ” th́ dễ ǵ có một chung cuộc “dễ dàng” như Tôi vừa thấy. Cuộc triệt thoái cao nguyên đă tai hại cho sự sống c̣n của Nam Việt Nam, nhưng sự tan ră tại miền Trung c̣n tai hại nhiều hơn nữa. Tại cao nguyên, ít ra cũng c̣n có các trận đánh lớn của cộng quân vào Ban Mê Thuột bằng một lực lượng quá mạnh, so với lực lượng của quân trú pḥng. Nhưng tại miền Trung, rơ ràng là phía VNCH tự gây ra sự “sụp đổ tinh thần” rồi đi tới “chủ bại” và “tan ră”. (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh Trang 317, gịng 1 – 8). Sau nhiều giờ đi bộ với các chặng nghĩ “giải lao” bằng nước và cơm dừa khô, chúng tôi tới được Quận Bồng Sơn Tam Quan khoảng 4 giờ chiều, nơi đây đang có một phiên họp chợ trể, trong túi Tôi c̣n chút ít tiền, nên Tôi rũ Quan ghé lại một quán nhỏ bên đường, chúng tôi mua vài bánh tráng nướng, bánh có nhưn dừa trộn đường cùng một chai nước ngọt không có nước đá. Sau khi trả tiền, Tôi hỏi thăm chủ quán xem trong khu trong khu vực gần đây có Chùa hay Am nhỏ của Phật giáo hay không, theo sự hướng dẩn của chủ quán, chúng tôi đi bộ khoảng thêm 2 cây số th́ đến một ngôi chùa nhỏ.
     Trên đường đi, dấu vết chiến tranh c̣n để lại ở khắp mọi nơi với các nhà cửa, công sự pḥng thủ bị phá hũy tan hoang; “Ngắm cảnh sinh t́nh” khiến Tôi nhớ lại thời gian nầy của 10 năm về trước (8/4/1965) cũng ở tại Ấp Phụng dư Xă Tam quan Quận Bồng sơn nầy, Tiểu Đoàn 2 TQLC đă có một chiến công “lừng lẩy” với gần 150 VC bỏ xác, 10 tên bị bắt sống, hơn 100 vũ khí bị tịch thu, khi thiệt hại của Tiểu Đoàn 2 là không đáng kể. Trong trận nầy Tôi là Trung đội trưởng Trung đội vũ khí nặng của ĐĐ1 với vị ĐĐT là NT Tr/Úy Phạm Nhả. Tôi được ân thưởng huy chương bạc (Sư đoàn) đầu tiên trong binh nghiệp (Xem: Một thời để nhớ ĐĐ 1 TĐ 2 Trâu điên 1964 – 1972 ĐSST 2010). Một thời gian sau đó, cũng tại Xă Hoài Ân Tam Quan, ĐĐ1/TĐ2 cũng tạo một chiến thắng vừa phải, khi ĐĐ1 hoạt động riêng lẻ, làm tiền đồn cho TĐ2, vị trí đóng quân bị tấn công bởi một TĐ địa phương Việt Cộng, ĐĐ1 giữ vững khu vực pḥng thủ, loại khỏi ṿng chiến 45 VC và 30 vũ khí bị tịch thu. Lúc bấy giờ ĐĐT là Tr/Úy Trần kim Hoàng (K17 VB) Tôi là Trung đội Trưởng Trung đội 16 (Xem: Một thời để nhớ ĐSST 2010).
     Khi vào đến sân chùa nh́n thấy có treo 2 lá cờ, một của cái gọi là MTGPMN bên cạnh là cờ biểu trưng cho Phật giáo, Tôi và Quan vội vả quay bước trở ra, th́ gặp ngay một vị sư già, chặn chúng tôi lại và hỏi:
     - Các thí chủ có cần nhà chùa giúp ǵ hay không?
     Tôi c̣n đang ú ớ, th́ vị sư già nói tiếp:
     - Các thí chủ đừng ngại, gặp thế thời th́ phải thế thôi.
     Nghe nói như vậy Tôi và Quan mới an tâm ngỏ ư xin tá túc qua đêm nhưng chúng tôi chỉ nói là dân hồi cư chứ không tỏ lộ thân phận. Chúng tôi được vị sư già, dẩn đi ṿng bên hông vào chùa, phía sau hậu liêu, chỉ cho một chiếc giường ngũ, đủ rộng cho hai người, dặn ḍ vài câu, sau đó bỏ đi. Tôi ra dấu cho Quan kín đáo theo sau, xem động tỉnh. Quan trở lui, cho biết vị sư già đi xuống bếp, khoảng 30 phút sau, chúng tôi có được buổi cơm nóng thí thực của đức Quan âm bồ tát qua vị sư già. Sáng hôm sau trước khi từ giả vị sư già để lên đường, Tôi và Quan có xin phép lên chính điện để thắp nhang cầu nguyện và tạ ơn các Đức Phật từ bi đă độ tŕ, gia hộ cho chúng tôi may mắn tồn tại, sống sót cho đến lúc này. Lại thêm một buổi cơm chay nóng, no bụng, dù chỉ có rau luộc, nước tương. Vị sư già tiển chúng tôi ra đến tận đường QL, niệm câu “A di đà Phật”sau khi chúc 2 thí chủ lên đường may mắn.

Họa vô đơn chí: N+7, 10/4/1975.
     Rời nhà chùa chúng tôi tiếp tục đi theo Quốc lộ 1, dọc đường có những chiếc xe dân sự chạy qua nhưng việc xin quá giang không thuận lợi, v́ đại đa số các xe đều đầy ấp người hồi cư. Tất cả các nơi chúng tôi đi qua, hầu như không bị bất cứ một “chặn hỏi” nào của các chánh quyền địa phương, có thể do “chiến dịch” xâm chiếm miền Nam, đă thành công quá bất ngờ, nhanh chóng, so với kế hoạch dứt điểm vào năm 1976 của Bộ Chính trị Cộng sản Bắc Việt. Khoảng giữa trưa, sau một đoạn đường dài dưới cơn nóng nắng Tôi bổng nhiên thấy trong người khó chịu, một cơn chóng mặt và căm giác nhức đầu từ đâu kéo tới không báo trước. Tôi cho Quan biết, Tôi nói:
     - Quan kiếm chổ nào thuận tiện, tạm dừng chân.
     Cuối cùng chúng tôi được sự giúp đở, của một thiếu phụ c̣n trẻ, ở một căn nhà bên đường, cho tá túc qua đêm, sau khi cho Tôi uống vài viên thuốc giải cảm, buổi sáng hôm sau c̣n cho hai chúng tôi, một buổi điểm tâm với những con cá nhỏ, trộn lẩn với những con tép ṃng, kho chung với dừa khô thái mơng, có cả ớt thật cay. Đây là một trong những kỷ niệm khó quên, trong chặng đường dài vượt thoát. Rời ngôi nhà, Tôi tự hỏi không biết người phụ nử đó, thuộc phe nào trong cuộc chiến của vùng nổi tiếng là “chết như không v́ mỹ nhân kế”, ban ngày bắn sẻ, ban đêm th́ gỏ phèn la, gỏ mơ, bắt loa tay alô, alô, alô… kêu gọi lính quốc gia đầu hàng; chỉ khi nào pháo binh 75 ly của TQLC ở Đồi 10 bắn quấy rối, đáp lể th́ mới chịu im tiếng (1965 – 1966). Dù sao th́ Tôi cũng đă nhận được một “tấm ḷng nhân ái”.

Tiếp tục di hành. Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai: N+8, 11/4/1975.
     Theo khoảng cách ghi trên các cột cây số dọc theo QL1, chúng tôi đang bắt đầu đi vào ranh giới của quận Phù Cát, nơi có căn cứ của Sư Đoàn 6 Không quân VNCH, từ đây chúng tôi chỉ c̣n cách trung tâm Tỉnh Quy Nhơn là 35 cây số. Chúng tôi ước tính với sức khoẻ và tốc độ di chuyển bộ th́ phải mất ít nhất là 7 – 8 tiếng đồng hồ, mới tới được TP Quy Nhơn. Sau khoảng 2 giờ đi bộ, chúng tôi được một người đàn ông chạy xe Honda 67 dừng lại và hỏi:
     - Đi đâu đó.
     Chúng tôi trả lời muốn đi về Quy Nhơn.
     - Có giấy tờ Cách mạng cấp hay không.

     Chúng tôi trả lời “Có”. Ông ta bảo Tôi và Quan lên ngồi phía sau và xe phóng đi. Tôi có căm giác ở thắt lưng ông ta, có vật ǵ cờm cợm như là khẩu súng nhỏ (Colt 45 hay K54 không biết) đă lở lên lưng cọp th́ phải chịu vậy. Lúc xe Honda chạy, Ông ta có hỏi vài câu ǵ đó nhưng do ngược chiều gió Tôi nghe không rơ, nên chẳng có trả lời. Gần một tiếng đồng hồ sau, Ông ta ngừng lại cho chúng tôi xuống xe ở chổ Trường Sư phạm hay Kỹ thuật ǵ đó? h́nh như ở đường Quang Trung hay Nguyễn Huệ? (lâu quá không c̣n nhớ). Chưa kịp nói tiếng cám ơn, th́ ông ta đă vội vă chạy ngay. Chúng tôi lại áp dụng chiến thuật cũ, là đi hỏi thăm t́m nơi có chùa để xin tá túc. Có người chỉ cho chúng tôi, ngôi chùa có tên là Long khánh (sở dỉ Tôi nhớ tên là ǵ trùng tên với Tỉnh Long Khánh nơi sinh sống của anh Tôi). Vốn đă có kinh nghiệm “ngủ Chùa” (Chùa thật chứ không phải là ngủ chùa - là ngủ với ai đó mà không phải trả tiền!!!) cho nên chúng tôi đợi đến chiều tối mới đi vào xin tá túc qua đêm. Ở đây chúng tôi bị hỏi giấy tờ, trước khi được cho trú ngụ (Tỉnh Quy Nhơn mất vào tay Cộng sản Ngày 31 tháng 3 năm 1975, theo cơn sóng rối loạn và tự tan ră giây chuyền). Chúng tôi đưa Giấy đi đường của Ban Quân Quản Tỉnh Quảng Ngăi cấp, cho một tăng nhân trung niên, dáng dấp giống như an ninh Việt cộng. Sau khi xem giấy tờ xong, ông ta chỉ cho chúng tôi đi về hướng dăy nhà nhỏ phía sau có một pḥng lớn, dùng làm lớp học cho các người mới vào tu trước đây, trong căn pḥng này đă có sẳn một số nam, phụ, lăo, ấu, số người nầy đă chạy loạn từ Nha Trang vào đă ở đây cả tuần lể, không biết lư do nào mà chưa trở lại nơi chốn cũ. Mọi việc diển tiến b́nh thường cho chúng tôi, như là có cái ăn uống, chổ ngủ qua đêm, tắm giặt. Buổi tối Tôi và Quan đi ṿng ṿng, thăm hỏi tin tức, sau cùng làm quen được với một gia đ́nh, có vẻ giàu có với một chiếc xe riêng, loại vận tải nhẹ, hiệu Ford Falcon, gia đ́nh gồm hai vợ chồng và 2 con nhỏ, khi biết chúng tôi là lính Sài G̣n, qua giấy đi đường. Họ hứa cho chúng tôi, đi theo họ khi ngày mai chúng tôi cùng họ đi ghi danh với Ban hồi cư Tỉnh Quy Nhơn.

Ban Quân quản TP Quy nhơn, may mắn lần thứ sáu: N+9, 12/4/1975.
     Sáng sớm trong khi chúng tôi c̣n đang chực chờ ở gần cửa bếp nhà Chùa để lảnh “thí thực” như đă được thông báo tối qua. Người đàn ông của gia đ́nh có vẻ giàu có, đi vội vă đến bên Tôi và Quan, bảo chúng tôi đi theo Ông ta ngay, c̣n phần cơm thí thực th́ bà xă của ông ta sẽ lảnh dùm. Chúng tôi chẳng biết chuyện ǵ tuy nhiên qua tiếp xúc tối hôm qua, thấy vợ chồng ông ta có thể tin được nên chúng tôi đồng ư. Lên xe ông ta chạy qua 4 - 5 ngả đường, th́ tới một toà nhà lớn có tấm bảng đỏ ghi: UB Quân quản Tỉnh B́nh Định Ban hồi cư. Chúng tôi xuống xe, đi vào trong như một số người đă có mặt từ trước, theo chỉ dẩn, dặn ḍ chúng tôi yên tâm cứ tŕnh Giấy đi đường của Tỉnh Quảng ngăi là được (lời của người đàn ông tốt bụng, mà sau nầy mới biết là tên Hùng). Mọi chuyện đều trôi chảy, khi chúng tôi nhận được Giấy đi đường mới của Tỉnh B́nh Định. Chúng tôi trở ra th́ đă gặp anh Hùng đang chờ đợi, cùng nhau trở về Chùa Long khánh. Chúng tôi phụ thu dọn vật dụng, hành lư của gia đ́nh anh Hùng tốt bụng, sau đó toàn bộ chúng tôi rời Quy Nhơn khi ánh nắng bắt đầu rọi chiếu trên khắp thành phố. Tôi và Quan ngồi phía sau thùng xe, chung quanh là đồ đạc hành lư của gia đ́nh Anh Hùng. Có lẻ chưa phút giây nào, trên chặng đường “vượt thoát”, chúng tôi căm thấy sung sướng và thoái măi như lúc nầy v́ chổ ngồi rộng rải, thoáng mát, xe chạy nhanh, không bị làm phiền v́ các người chung quanh. Tôi nói với Quan:
     - Kỳ nầy về được, chắc phải “cạo đầu, ăn chay 3 tháng”.
     Quan cũng biểu đồng t́nh nhưng c̣n kèo nài thêm một câu:
     - Nhưng phải cho nhậu vài bửa cho đă, rồi mới tính, anh Tư.
     Tôi trả lời:
     - Anh Tư chỉ biết phá mồi mà thôi.
     Thỉnh thoảng tài xế Hùng từ phía trước nói vói ra phía sau, đại khái cho biết chi tiết lộ tŕnh xe tới đâu…v… v… Xe chạy khoảng hơn 2 giờ, Tài xế Hùng cho xe dừng lại ở Tuy Ḥa Phú Yên (cách Quy Nhơn khoảng 95 cây số) để cùng nhau nghỉ ngơi, ăn uống mọi thứ do anh Hùng đài thọ, lần đầu tiên uống lại một lon cocacola ngon hết biết, chúng tôi nói lời cám ơn cả 2 vợ chồng anh Hùng, lúc đó mới lộ tẩy là thuộc phe ta, Hạ sĩ quan của Trung tâm huấn luyện KQ Nha Trang. Khi đă tỏ tường, lúc đó Tôi và Quan mới lộ thân phận thật. Theo Thượng sĩ Hùng th́ Nha Trang lọt vào tay Cộng Sản “lăng xẹt”, lúc đầu chỉ có một vài tên “đặc công” ném lựu đạn (1/4/1975), gây sự hổn loạn, hoang mang, rồi từ tâm lư lo sợ, tinh thần chủ bại do các cuộc rút quân, triệt thoái “vô tổ chức, thiếu chỉ huy” của Quân Đoàn 2 và 1, thế là mọi người “khăn gói quả mướt, kẻ trước người sau, kéo nhau, ùn ùn bỏ chạy, măi tới ngày 4 tháng 4 năm 1975 Việt cộng mới vào thành phố Nha Trang!”
     Chúng tôi chỉ biết lắc đầu thở dài ngao ngán. Sau 1 tiếng nghĩ ngơi, chúng tôi lại tiếp tục lên đường và đến Nha trang lúc khoảng 4 giờ chiều. Th/sĩ Hùng có mời chúng tôi về nhà mẹ vợ của anh để nghĩ đêm; nhận thấy chúng tôi đă làm phiền gia đ́nh anh quá nhiều, với lại e ngại sự có mặt của chúng tôi sẽ có thể gây phiền toái cho anh, chúng tôi lấy cớ phải đi t́m nhà bà con nên chào tạm biệt. Th/sĩ Hùng c̣n cố dúi trong tay Tôi và Quan mổi người một ít tiền bảo để dằn túi. Chúng tôi không bao giờ có cơ hội, đền đáp những “ân t́nh cao quư như thế; có lẽ phải đợi chờ đến kiếp sau!!!”. Đêm nay chúng tôi  xin ngũ nhờ, trước hàng hiên một ngôi nhà ở ven đường Độc Lập là đường phố chánh của Nha trang, trong đêm thỉnh thoảng có những toán tuần tra Việt cộng đi ngang qua nhưng không xét hỏi.

Nha trang, lối về thu ngắn, may mắn lần thứ 7: N+10, 13/4/1975.
     Buổi sáng sớm, trước khi thành phố Nha trang bắt đầu một ngày mới trong không khí nặng nề, uể oải, nghi kỵ dưới sự điều hành của những “người chủ mới”, chúng tôi ngỏ lời cám ơn gia chủ đă cho ngủ nhờ trước hàng hiên, chúng tôi đi lang thang dọc theo dăy phố ở đường Độc lập, có tiền trong túi do Thượng sỉ Hùng cho hôm qua, chúng tôi ghé vào một quán cà phê bên đường. Khuôn mặt kém vui của cô chủ quán, cũng đủ nói lên tâm trạng thấp thơm, âu lo chung của tất cả người dân miền Nam tự nhiên “bị đổi đời” ngoài ư muốn. Khi mang cà phê đến cho chúng tôi, cô chủ quán kín đáo nh́n ra phía cửa rồi hỏi nhỏ:
     - Hai anh chắc là lính VNCH ở Sài G̣n
    Chúng tôi không trả lời mà chỉ gật đầu. Cô chủ quán nói tiếp:
     - Đang đánh nhau ở Phan Rang, không biết có giữ được không. Khổ quá, chưa có chi mà bỏ chạy hết.
     Tôi thấy đau nhói trong tim bởi câu nói “vô t́nh” mang lời trách móc cay đắng, chua chát như vậy. Lời nói của một cô gái trẻ (20 – 25 tuổi) có lẻ cũng là lời nói chung cho những người dân từ Quảng Trị đến Nha Trang ở thời điểm nầy, trong nổi u uất, ấm ức, bực tức không biết điều ǵ, lư do nào, khiến cho một quân lực anh dủng, kiêu hùng, từng trải qua bao cơn sóng dử trong cuộc chiến bảo vệ đất nước, vẫn hiên ngang tồn tại từ 20 năm qua (1955 – 3/1975) nay chỉ chưa tới 3 tuần lể, đă để mất một phần lớn lảnh thổ của Quốc gia với nhiều đau thương, tang tóc, mà không có bất cứ một thể hiện chứng tỏ tinh thần trách nhiệm do dân và v́ dân. Trong chia sẽ chung tâm tư với cô chủ quán, chúng tôi chỉ nói những lời an ủi chiếu lệ kèm theo những hy vọng ảo tưởng nhằm giăm bớt sự phiền muộn cho cô. Hiện tại, chính bản thân của chúng tôi cũng c̣n chưa biết sẽ đi về đâu, kết cuộc sẽ như thế nào!.
     Rời quán cà phê, chúng tôi c̣n đang phân vân, tiến thoái lưởng nan, v́ những tin tức chiến sự liên quan đến mặt trận Phan Rang của Quân đoàn 3. Căn cứ vào các cột cây số, khoảng cách từ Nha Trang đi Ninh Thuận ( Phan Rang ) chỉ có trên dưới 80 cây số, như thế nếu may mắn có được phương tiện xe để di chuyển th́ chỉ trong khoảng 2 giờ đồng hồ sẽ đến vùng đang giao tranh, lúc đó sẽ hậu xét. Tr/Úy Quan bàn với Tôi trở lại đường cũ, t́m nhà Th/sỉ Hùng Không quân nhờ giúp đở, trong khi Tôi c̣n đang lưởng lự chưa quyết định, có một phụ nử trung niên trạc 60 tuổi, trên tay là cái giỏ đi chợ, khi bước ngang qua có lẻ nghe giọng nói miền Nam của chúng tôi, nên Bà dừng lại, hỏi luôn:
     - Hai cháu là người Sài G̣n phải không? Đi lính ǵ vậy?
     Thấy Bà là người lớn tuổi gương mặt phúc hậu, nên chúng tôi nói thật với Bà về t́nh cảnh hiện nay, tuy nhiên tuyệt đối chúng tôi không nói rơ cấp bậc cũ. Nghe xong Bà bảo chúng tôi đứng chờ, Bà đi chợ mua ít món hàng sẽ trở lại ngay. Khoảng 20 phút sau Bà trở lại, ra dấu cho chúng tôi đi theo Bà, qua một ngả tư là đến một ngôi nhà có lầu, không lớn lắm, phía trước có khoảng sân nhỏ với vài chậu bông (Tôi c̣n nhớ tên là Phường Phương Sài, hiện nay vẫn c̣n). Bà lên tiếng gọi, phía trong có tiếng một thanh niên trả lời, qua cách xưng hô Tôi đoán là con hay cháu của Bà, khi cánh cửa được mở ra, Bà lên tiếng:
     - Mẹ gặp 2 cậu nầy là lính Cộng hoà giống như con, Tội nghiệp chạy từ Đà Nẳng vào đây…v…v
     Khi đă vào hẳn trong nhà, qua sự giới thiệu của Bà, được biết người thanh niên đó là con rể, tên Thắng, cấp bậc Tr/úy, Khóa 3 Chiến tranh Chính trị, phục vụ ở Tiểu khu Khánh Hoà (Nha Trang); sau khi thành phố Nha Trang tự nhiên bỏ “bỏ ngỏ”, Thắng cũng như mọi người khác, phải trốn về nhà hiện nay cũng chưa biết tính sao. Sau màn chào hỏi làm quen, chúng tôi được Thắng chỉ cho nhà tắm, khi trở ra chúng tôi đă có sẳn 2 bộ áo quần c̣n mới, tương đối vừa vặn, chỉ có điều hơi ngắn so với chiều cao của Tôi. Khoảng trưa, chúng tôi được một bửa ăn đầy đủ và ngon miệng, ăn xong chúng tôi, Tr/Úy Thắng cùng ngồi ở khoảng sân nhỏ chia sẽ tâm sự. Thắng tỏ ra rất chán chường cũng như không biết phải đưa vợ, con nhỏ đi tỵ nạn ở đâu, v́ theo Thắng chạy đâu rồi cũng phải sa vào cái rọ do chính chúng ta tạo ra khi: “giá trị tinh thần trong quân đội là yếu tố chính, để quân đội chiến đấu giữ ǵn bờ cỏi, ngày nay tinh thần v́ nước quên ḿnh, không c̣n trong quân lực là do lănh đạo chỉ biết đến bản thân…v…v...”. Tôi không muốn tranh cải, về nhận định có vẽ tiêu cực của Thắng vă lại ngay từ đầu khi gặp bà mẹ vợ của Thắng,Tôi đă che dấu cấp bậc cũ, nay nói ra thật là bất tiện. Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đang nằm nghỉ ngơi, Bà Cụ từ phía trong buồng chạy ra, cho biết vừa nghe trên đài phát thanh thông báo, kêu gọi Sĩ quan và Công chức chánh quyền Sài G̣n đi tŕnh diện trong 3 ngày, kể từ ngày mai 14/4/1975. Thấy sự lo lắng thể hiện trong gia đ́nh, nên chúng tôi bày tỏ lời cám ơn và xin phép ra đi để t́m phương tiện vào trong Nam. Ḷng hiếu khách, sự quyến luyến của t́nh chiến hữu khiến chúng tôi rời căn nhà trong bùi ngùi, v́ biết rằng sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại, để đền đáp mối ân t́nh từ những con người có trái tim chân chính và thân thiện.
     Trên đường đi, t́nh cờ ngang qua chùa Tỉnh hội, thấy có đông đúc người ra vô, nên chúng tôi cũng vào trong quan sát, th́ ra nơi đây cũng có rất nhiều dân chạy loạn từ Cam Ranh và Phan Rang đang trú ngụ, thế là bài bản cũ, lại được đem ra áp dụng. Chổ ở, cơm nước th́ đă có thí thực của nhà Chùa. Chúng tôi qua đêm tại Chùa nầy, cũng lại nh́n sao trên trời và tiếp tục cầu nguyện.

Cam ranh không đánh mà mất và gặp lại Đ/Úy Hên: N+11, 14/4/1975.
     Chúng tôi rời Chùa Tỉnh hội rất sớm, trên đường đi đă thấy xuất hiện nhiều toán người, mang băng đỏ ở cánh tay trái, vũ khí trang bị phần lớn là súng M16 của VNCH. Tôi đoán là bọn “ruồi bu” có mặt do hôm nay là ngày kêu gọi tŕnh diện đầu tiên, nên chúng hiện diện ở đường phố để “hù thiên hạ”. Tôi và Quan quyết định rời Nha Trang ngay lập tức, chúng tôi đi bộ chậm rải với hy vọng đón được xe, xin quá giang về Cam Ranh. Trời không phụ kẻ khốn cùng sau cùng có một xe hiệu Ladalạt (xe sản xuất ở Sài g̣n trước 1975) đă cho quá giang, không phải trả tiền, chúng tôi về tới Cam Ranh, Phường Cam Nghĩa trước 12 giờ trưa. Đang đi lang thang tại cây số 1, Tôi gặp lại Đ/Úy Hên và Tr/Úy Quân, chúng tôi vô cùng mừng rở, khi nghe Tôi kể về t́nh trạng của Lộc và Phán đă bị bắt giữ, Hên chỉ thở dài nói nhỏ số mạng cả. Sau đó chúng tôi lại chia tay v́ theo lời Hên cho biết là Tr/Uư Quân đă t́m được, một chủ ghe đồng ư vượt biển, tuy nhiên Hên cũng không tin tưởng lắm cho nên không dám rũ Tôi đi theo. Sau nầy Đ /Úy Hên kể lại đă may mắn thoát chết khi bị du kích địa phương phục kích tại bải biển chận bắt và nổ súng làm thiệt mạng cho một số lớn dân chúng (Đ/Uư Hên về đến Vũng Tàu trước Tôi 2 Ngày).
     Sau khi từ giả Đ/Úy Hên, Tôi và Quan tiếp tục cuộc hành tŕnh theo QL 1, đến khoảng 5 giờ chiều th́ gặp một quán nhỏ bên đường, ghé vào hỏi thăm t́nh h́nh phía trước, mua mỗi người 4 cái bánh ú để ăn tối nay. Theo lời khuyên của bà chủ quán, chúng tôi cố gắng đi thêm vài cây số cho đến khi gặp được một cái Miếu thờ khá lớn, nằm cạnh một con sông, trong lúc nầy chúng tôi đă nghe văng vẳng xa xa tiếng máy bay. Khi chúng tôi vào trong Miếu thờ, th́ đụng đầu với một gia đ́nh chạy loạn, cũng vừa mới quay lại, sau khi cả nhà đang t́m về lại Quận Du Long thuộc Tỉnh Ńnh Thuận, th́ rơi vào vùng đang giao tranh nên chạy bán sống, bán chết về đây, chúng tôi chia nhau cùng trú ngụ và qua đêm trong Miếu Thờ. Theo lời kể lại của người đàn ông chủ chiếc xe, th́ hiện nay lực lượng Nhảy dù (sau nầy được biết là Lữ đoàn 2 Dù gồm các TĐ 3, 5, 7, 11 và LĐTrưởng là Đ/Tá Nguyễn thu Lương bị bắt làm tù binh trong Mặt trận Phan Rang, kể cả Tư Lệnh Tiền phương QĐ3 Tr/Tướng Nguyễn vĩnh Nghi và Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân Phạm ngọc Sang, Biệt động quân Liên Đoàn 31 của Đ/Tá Nguyễn văn Biết và Sư đoàn 2 đă tái chỉnh trang, Phan Rang cũng là quê cha đất tổ của Cựu TT Nguyễn văn Thiệu) đang lập pḥng tuyến ở Du Long nhằm ngăn chận sự tiến quân của Bắc việt. Trong suốt chặng đường từ Nha Trang đi xuống Cam Ranh, chúng tôi hoàn toàn không ghi nhận, bất cứ cuộc chuyển quân nào của phía Bắc Việt, có lẻ sợ bị Không quân ta oanh kích. Trong đêm thanh vắng theo chiều gió, Tôi nghe rơ tiếng máy bay rầm ŕ ở phương Nam, điều nầy khiến cho Tôi hy vọng quân ta sẽ mạnh mẽ phản kích chiếm lại những phần đất đă mất, ít ra cũng tới Quy Nhơn (vùng đất mới phân chia lại, theo các tin đồn). Trước khi đi ngũ Tôi có dịp tṛ chuyện với người đàn ông (Tôi tin chắc cũng thuộc phe ta nhưng tôn trọng việc riêng tư nên không hỏi), mới biết rằng ở Cam Ranh cũng chẳng có đánh nhau ǵ cả, tự nhiên di tản hết, rồi sau đó Việt cộng mới vào (Ngày 3 Tháng 4 Năm 1975, Cam Ranh là nơi tập trung dân tỵ nạn và binh sĩ VNCH di tản từ các tỉnh phía Bắc. Cam Ranh bị bỏ ngỏ rồi th́ các đơn vị của Sư đoàn 10 Bắc việt mới kéo tới (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam Tác giả Phạm kim VinhTrang 328 gịng số 21 – 25).

Suưt chết v́ bị Không quân phe ta oanh kích: N+12, 15/4/1975.
     Mặt trời chưa kịp lên ở phương Đông, chúng tôi vừa mới tỉnh ngũ, bổng nhiên nghe tiếng máy bay từ xa, ào ào bay tới, tiếng động cơ kêu vang dội trên bầu trời, Tôi và Quan vội chạy ra khỏi Miếu thờ, để xem chuyện ǵ đang xăy ra, trong khi cả gia đ́nh của người đàn ông kia, kiếm chổ trốn sau các bàn thờ; chúng tôi núp sau một thân cây lớn cách Miểu khoảng 20 – 30 thước. Chúng tôi thấy 2 chiếc A 37 đang xé gió, lao xuống theo hướng Tây Bắc qua Đông Nam, trong phản ứng tự nhiên của 11 năm tác chiến.Tôi kêu lớn với Quan: “Chết rồi nằm xuống nó chuẩn bị đánh bom.” Chúng tôi dán ḿnh xuống sát mặt đất và chờ đợi, tiếng rít gió của mấy quả bom nghe rơ như bom sẽ rớt ngay cạnh. Hai tiếng nổ long trời vở đất, cách chúng tôi chỉ khoảng 100 – 200 mét ở phía ngoài đường QL1, th́ ra ở đó có một cái cầu, bắt ngang qua con sông nhỏ, Không quân oanh kích cây cầu nhằm không cho địch dể dàng chuyển quân. Sau 3 đợt đánh mà chúng tôi không biết kết quả ra sao, 2 chiếc A 37 bay mất khuất dạng nơi phía Nam (sau này nghe nói 1 trong 2 phi công là Ông Lư Tống). Chúng tôi quay trở vào trong Miểu thờ, th́ thấy cả gia đ́nh người đàn ông đang quỳ lạy tạ ơn, trước bàn thờ Phật. Sau khi mọi người đă tỉnh hồn v́ chuyện máy bay oanh kích, người đàn ông tỏ ư sẽ chở gia đ́nh ông ta về lại Cam Ranh chờ t́nh h́nh biến chuyển sau nầy. Chúng tôi ngỏ ư xin đi theo th́ được ông ta đồng ư. Thế là chúng tôi trở lại Cam Ranh. Ngôi nhà của thân nhân người đàn ông, ở tại Phường Cam Linh TP Cam Ranh, đêm ấy chúng tôi xin người đàn ông ngũ trong xe của ông ta với lư do trông chừng đồ đạc cho gia đ́nh. Tôi và Quan cùng nhau trao đổi về việc quân ta có giữ được Ninh Thuận hay không? Theo suy nghĩ của riêng Tôi, th́ chắc chắn quân lực VNCH phải lập một tuyến pḥng thủ vững chắc ở Phan Rang v́ đó là quê hương xứ sở cũng là nơi có mồ mă tổ tiên ông bà bao nhiêu đời của TT Thiệu, đồng thời có một phi trường quân sự lớn tại Phan Rang và rất gần với phi trường Biên Hoà cho nên việc không yểm sẽ nhanh chóng, dể dàng hơn. Chúng tôi rơi vào giấc ngũ với những mệt mơi, âu lo triền miên vô tận.

Hết Phần 4



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved