www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Phương Nam: Ánh sao nơi cuối Trời

Cựu MX Lâm Tài Thạnh TĐ 9 TQLC
(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu
30/03/1975 đến 18/04/1975)

Phần 3: Thủ đoạn gian ác của Việt Cộng qua chiêu bài “tŕnh diện”

Thủ đoạn dối trá của Cộng sản và may mắn lần thứ ba
     Sáng sớm hôm sau thứ Ba 1 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rời nơi trú ngụ sau một đêm say ngủ, không chập chờn v́ ác mộng, trở lại các con đường hôm qua, t́m một quán bên đường, mỗi người một ly cà phê đầu ngày và thu thập tin tức, t́nh h́nh thời cuộc với các diển biến không vui “quân ta rút lui chiến thuật khỏi Quy Nhơn” v…v…. Tôi bàn với mọi người “phải vượt thoát” t́m về phương Nam, bằng cách lợi dụng khi “địch quân” c̣n măi mê cuộc tiến công, chưa tổ chức hoàn hảo việc kiểm soát, giam giữ chặc chẻ các “tù binh”, cũng như các cấp chánh quyền hành chánh địa phương chưa quen việc, áp dụng chiến thuật “họ tới đâu th́ chúng ta theo sau lưng họ, cho đến khi có cơ hội vượt tuyến”.
     Khoảng giữa trưa, trước khi chúng tôi trở về nơi tạm trú, qua tin truyền miệng, sau đó từ các xe phóng thanh do bọn “theo đóm ăn tàn” làm tài xế, chạy quanh trong TP Đà Nẳng với lời kêu gọi tŕnh diện của Ủy ban quân quản Đà Nẳng, cho các quân nhân của Sài G̣n trong 3 ngày, kể từ ngày 2 tháng 4 năm 1975 đến ngày 5/4/1975.
     Chúng tôi trở về chổ ở với tâm trạng phân vân, đắn đo trong sự cân nhắc của câu hỏi: Có nên ra tŕnh diện hay không? Chưa ai trong số chúng tôi có được một kinh nghiệm về Cộng Sản, từ trước đây cho đến ngày triệt thoái không bài bản, mỗi khi chạm trán với bọn họ là chỉ có “Bằng, Bằng” như cao bồi Mỹ “bắn chậm th́ chết”. Nay phải ra tŕnh diện họ, rồi th́ kết cuộc sẽ ra sao đây? C̣n như không tŕnh diện, nếu mai đây, có sự can thiệp của quốc tế, ngưng bắn lần nửa, rồi trao trả tù binh, số phận sẽ ra sao, khi không có tên trong danh sách tŕnh diện thật là nan giải. Sau cùng mọi người, phó mặc cho số phận với kết luận “Ai sao ḿnh vậy”.
     Nổi  xúc động đến nghẹn ngào, khi trở về nơi trú ngụ nh́n thấy buổi cơm chiều đă được Hạ sĩ Thương nấu nướng, bày biện, đem từ nhà bên cạnh đến cho mọi người cùng ăn với cơm nóng, canh ngon, dù đạm bạc nhưng nói lên tấm ḷng chân chất của người quân nhân dưới quyền trước đây. Chúng tôi ngỏ lời cám ơn sự chân t́nh của Thương “Em chỉ mong, mấy ông thầy làm răng, mà về được trong Nam là em vui rồi!!!” Thương nói.
     Buổi tối đến, Tôi triệu tập phiên họp, bao gồm tất cả mọi người ở cả 2 nhà tạm trú. Tôi đưa ra ư kiến “dung  ḥa” và “ăn chắc” như sau: Theo thông báo, chúng ta có 3 ngày để tŕnh diện, như vậy ngày mai chúng ta đi tŕnh diện cho có tên trong danh sách với tên tuổi, cấp bậc, chức vụ chính xác. Sau đó chúng ta c̣n 2 ngày để t́m phương cách vượt thoát khỏi TP Đà Nẳng, trước khi bị “gom bi”. mọi người đều đồng ư (riêng Đ/úy Tịnh Ban 3 và Hạ sĩ Thương v́ nguyên quán ở Miền Trung, cho nên sau nầy ở lại, không t́m đường về Nam) rồi giải tán, đi ngũ.
     Hôm sau Thứ Tư Ngày 2 Tháng 4 Năm 1975, chúng tôi cùng nhau trở ra phố, đến các địa diểm quy định đă được thông báo để tŕnh diện, chỉ sau vài giờ, mọi người đều có trong tay giấy đă tŕnh diện với UBQQ Đà Nẳng, trong đó có đầy đủ các thông tin cá nhân trước đây, khi c̣n phục vụ cho chính phủ Sài g̣n, họ cũng bắt khai luôn nơi đang tạm trú hiện nay (sau nầy mới biết họ thanh lọc danh sách, ngay trong ngày hôm đó và họ cho lực lượng an ninh đến “bắt nguội” ngay trong đêm). Chúng tôi lang thang trong TP Đà Nẳng cho đến buổi chiều, mới trở về lại nơi trú ngụ, lúc nầy trong nhà của Quân đă có thêm một số người vừa mới “vượt thoát” từ Huế vào, cho nên chổ ở trở nên đông đúc chật kín. Đ/Úy Hên thấy thế nên bảo Tôi và Lộc di chuyển qua nhà bên kia đường ở tạm. Nhờ thế chúng tôi thoát khỏi màn “bắt nguội giữa đêm của an ninh Cộng sản…!!”
     (Trích thư của Đ/Úy Hên: Vào khoảng 1 giờ sáng, có nhiều chiếc xe gắn máy, dừng lại trước nhà, có tiếng đập cửa thật mạnh, tiếng người tiếp theo: “Ban quân quản, mau mở cửa kiểm tra” vị Th/tá Bộ binh ra mở cửa, tôi nghe có tiếng người bước vào nhà, từ chổ tôi nằm không nh́n thấy cửa chính, tôi nghe một giọng nói miền Bắc “Ở trong nhà nầy, ai là Thiếu tá Lâm tài Thạnh, Thiếu tá Nguyễn văn Lộc, Đại Úy Trần văn Hên, lính thủy đánh bộ, chúng tôi cần kiểm tra”. Tôi nghe vị Thiếu tá Bộ binh trả lời: “Hồi chiều, ba ông nầy có dùng cơm ở đây, sau đó nói đi ra phố, giờ chưa thấy trở về”, sau câu trả lời, bọn Việt cộng ập vào hẳn trong nhà thật nhanh, rọi đèn, người vợ của vị Th/tá Bộ binh nằm ngũ phía ngoài cùng các đứa con nhỏ, vội vàng nói nhanh với tôi: ông nằm yên để tôi xử trí; từ trong bóng tối ở sâu dưới chân cầu thang lầu, tôi thấy có ba tên mặc quần áo quân chánh quy Bắc việt, 2 tên mang AK47 rọi đèn lục soát, tên c̣n lại mang K54 tiến về phía cầu thang, rọi đèn vào ba cái mùng của gia đ́nh vị Th/tá Bộ binh, khi thấy bà vợ của vị Th/Tá đang cho con nhỏ bú, nên không rọi đèn, t́m kiếm tiếp nơi chân cầu thang, mà bước ṿng trở lại phía trước và đi thẳng lên lầu. Họ rọi đèn, lục soát khắp nhà khoảng 10 phút, tất cả kéo ra ngoài, nổ máy xe, rời căn nhà tôi đang tạm trú).
     Khoảng gần 4 giờ sáng Đ/úy Hên bằng cửa sau, chạy qua nhà chúng tôi đang ngũ, báo động t́nh h́nh nguy hiểm và chúng tôi quyết định “vượt thoát” khỏi Đà nẳng lúc 5 giờ sáng cùng ngày.

Đường trường xa, ta quyết đi cho đến cùng - Ngày N Vượt thoát
     Thứ Năm 3 tháng 4 năm 1975, trong hơi lạnh ban mai của Ngày N vượt thoát; chúng tôi âm thầm rời nơi trú ngụ, sau khi nói lời chia tay Đ/U Tịnh và Thương. Chúng tôi phân thành 2 nhóm, đi cách nhau khoảng 100 mét, lấy Quốc lộ 1 làm trục lộ chính và căn cứ vào các cột mốc cây số dọc theo đường đi, để biết khoảng cách các nơi sẽ phải đến. Nhóm 1 gồm có Tôi, Tr/uư Quan, T/Uư Xuân, nhóm 2 c̣n lại là Th/tá Lộc, Đ/úy Phán. Riêng nhóm của Đ/Úy Hên, Tr/Úy Quân (ĐĐ Bảo toàn) v́ có người quen dự trù kế hoạch vượt thoát bằng đường biển, nên chúng tôi cũng chia tay (sau nầy Tr/Úy Hên về tới Vũng tàu trước Tôi hai ngày). Mọi người trong 2 nhóm của chúng tôi đều đồng ư, trên đường đi, ai thoát được sẽ tiếp tục cuộc hành tŕnh, để có thể mang tin tức sau cùng về cho thân nhân những người bị bắt giữ lại. Dù chưa biết, kết cuộc sẽ ra sao với đoạn đường trước mặt dài đăng đẳng, có nhiều bất trắc chờ đợi, chúng tôi đều căm thấy tinh thần phấn chấn, sau các ngày được nghỉ ngơi, ăn uống tạm đầy đủ và nhất là với viễn ảnh được tự do và đoàn tụ. Trong suốt khoảng đường từ nơi trú ngụ ra đến ngoại ô Đà Nẳng, chúng tôi chưa bị chặn xét bởi các chốt kiểm soát của Việt Cộng, mặc dù trên QL1 các đoàn xe ngụy trang, chở quân Bắc Việt cùng các vũ khí nặng bao gồm các loại súng pḥng không 37 – 57 ly di chuyển rầm rộ và liên tục.
     Trời vừa rạng sáng chúng tôi tới cầu Đỏ bắt qua sông Thu Bồn, chúng tôi phải tạm dừng lại nơi đây v́ cây  cầu nầy đă bị không quân VNCH phá hủy, nhằm ngăn chận bước tiến quân của Việt Cộng. Một số lượng đông đảo dân chúng và các loại xe chuyên chở dân sự cũng đang tập trung ngay đầu, mọi người cùng nhau chờ công binh Cộng sản bắt cầu phao nổi để qua sông, nơi đây có một nhóm nhỏ quân Bắc Việt canh gác với sự hời hợt và lỏng lẽo. Qua thăm hỏi, t́m hiểu, được biết đại đa số là thường dân chạy trốn chiến trận từ các vùng của tỉnh Quảng Ngăi nay đang hồi cư. Chúng tôi cùng nhau trà trộn vào với dân chúng và chờ đợi. Khoảng gần 8 giờ sáng, có lệnh cho người đi bộ qua cầu, cả 2 nhóm chúng tôi vượt nhanh qua phía trước, trong khi bọn lính chánh quy, măi mê nói chuyện với các o xứ Quảng. Cách cây cầu khoảng 500 mét, chúng tôi tạm ngừng lại với ư định chờ đón các xe dân sự xin quá giang. Tôi nh́n thấy cột mốc chỉ đường ghi Quăng Ngải 115 km. Tôi thực sự không tin ở mắt ḿnh và tự hỏi sẽ đi bộ trong bao nhiêu ngày mới tới được Quảng Ngải đây! Sau cùng thật là may mắn, chúng tôi được một chủ xe, có ḷng tốt đă cho chúng tôi lên xe, quá giang mà không lấy tiền, khi nghe chúng tôi tả oán đủ thứ, Mẹ già, vợ trẻ, con thơ, đang trông chờ tin tức ở Nha Trang.
     Khi lên xe, chúng tôi chia nhau ngồi lẩn lộn với các hành khách. Phần Tôi th́ ngồi phía trước cách tài xế một dăy ghế và sát cửa sổ. Từ chổ ngồi Tôi nh́n ra phía sau, anh Lộc và Phán đưa ngón tay cái, biểu tỏ mọi chuyện tốt đẹp trong khi Quan và Xuân th́ đánh đu trên tấm bửng sau xe. Sau gần 3 giờ xe chạy bon bon trên đường, các cột mốc cây số lùi dần về phía sau, để cuối cùng, một cột mốc loang lổ vết đạn ghi Quảng Ngăi 45 km. Xe bắt đầu chạy chậm và ngừng hẳn khi có một nhóm đông người đi diển hành trên quốc lộ với các biểu ngử cầm tay, nội dung chào mừng cách mạng thành công trong tiếng hoan hô, đă đảo v…v… Tôi nghĩ thầm: chổ nầy “hắc ám” đây v́ là “hang ổ” của Quân khu 5 Việt Cộng. Trong quá khứ Tôi đă từng tham dự hành quân trong các vùng chung quanh Tỉnh Quảng Ngăi trong vai tṛ là Trung đội trưởng của ĐĐ1/TĐ2 TQLC vào những năm 1965 – 1966. Tôi không xa lạ ǵ với các địa danh Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Trà Bồng . Ba Gia, Trà Khúc, Núi Thiên Ấn…v…v…
Thêm một chia tay xót xa bên cạnh sự may mắn lần 4
     Ngay trước tấm bảng viết hàng chử Ủy ban cách mạng Xả Châu ổ Huyện B́nh sơn, là một toán du kích 7 - 10 tên đứng canh gác, mọi sự lưu thông đều bị chận lại xét hỏi. Chúng tôi không c̣n lối thoát nào khả dỉ có thể lẩn trốn, v́ không ai biết trước có trạm kiểm soát trên đường, bây giờ chỉ biết trông chờ may rủi và số mạng của mỗi người. Khi xe vừa ngừng lại cho du kích kiểm tra, Tôi nghe câu nói của người tài xế đại khái: Dấu được cứ dấu. Nghe nhưng chưa kịp hiểu ư, Tôi xoay người nh́n về phía sau xe th́ thấy bóng Quan và Xuân nhảy xuống khỏi xe, rồi biến mất trong nhóm người biểu t́nh đông đúc, cùng một lúc Tôi thấy có 2 tên du kích đi dọc theo hai bên hông xe, từ phía sau đi lần ra phía trước, đến băng ghế ngồi của Th/Tá Lộc và Đ/Úy Phán, chúng ngưng lại hỏi chuyện ǵ đó, Tôi thấy Lộc và Phán lấy tờ giấy tŕnh diện ở Đà Nẳng cho chúng xem, sau đó Tôi thấy chúng chỉa súng AK 47 vào hai người và ra hiệu cho Lộc và Phán xuống xe và chúng gọi thêm người đến canh giữ, đồng thời tiếp tục đi đến chổ Tôi ngồi, Tên du kích hỏi:
     - Anh nầy có giấy tờ ǵ không?
     Trong tích tắc Tôi kịp nhớ câu nói bâng quơ của người tài xế, cộng thêm sự việc vừa xăy trước mắt cho Lộc và Phán. Tôi trả lời với giọng mệt mỏi, để giăm bớt âm hưởng miền Nam.
     - Không có. Tôi là lao công đào binh ở Đà Nẳng, cách mạng thành công, mở cửa nhà tù thả Tôi và mấy ông cách mạng, rồi bảo Tôi đi về nơi trú quán!
     Tên du kích hỏi  tiếp:
     - Lao công đào binh là cái ǵ?
     Tôi giải thích:
     - Tôi trốn quân dịch, không chịu đi lính, nên bị bắt đi tù!!
     Tên du kích hỏi một câu ngu ngốcthiệt không?” và bỏ đi. Người tài xế nh́n Tôi cười thông cảm khi xe vừa nổ máy, chạy qua khỏi trạm kiểm soát. Tôi nh́n lui lại phía sau xe, thấy các tên du kích đang áp giải Th/Tá Lộc và Đ/úy Phán trở lại con đường, xe đă chạy qua. Xe chạy khoảng 100 – 200 thước. Tôi lên tiếng xin người tài xế dừng xe lại “Sao vậy đă thoát rồi c̣n quay trở lại đó làm ǵ?” người  tài xế ngạc nhiên hỏi, nhưng cũng đạp thắng và ngưng xe lại. Tôi chỉ trả lời cám ơn, xuống xe, đi ngược lại về nơi trạm kiểm soát với các ư tưởng đơn giản: “phải biết, xem bọn  du kích đưa Lộc và Phán đi đâu, đối xử thế nào, c̣n mọi chuyện khác th́ tùy cơ ứng biến cho dù như đă nói ở phần trên, trước khi rời Đà Nẳng, mọi người đều đồng ư, trên đường vượt thoát, người nào may mắn th́ cứ tiếp tục cuộc hành tŕnh, để mang tin tức hữu ích cho gia đ́nh, thân nhân đang trông chờ. Tôi đi thật nhanh v́ sợ mất dấu những tên du kích. Tôi thở phào nhẹ nhơm khi thấy bóng dáng Lộc, Phán cùng toán du kích đang chậm rải đi theo con đường ṃn trong xóm sát cạnh Quốc lộ 1. Tôi len lỏi đi theo phía sau, qua các đường ṃn có các ngôi nhà lá, trống trước, hở sau với một khoảng cách tương đối, để không bị phát hiện sau cùng toán du kích ngừng lại, vào một ngôi nhà  có các hàng cây bao quanh, h́nh như là trụ sở Ủy ban ǵ đó của họ. Tôi trốn sau các lùm cây phía trước ngôi nhà và theo dỏi t́nh h́nh. Thời gian khoảng 30 phút Tôi thấy cả 4 tên du kích kéo nhau bỏ đi. Tôi đoán có lẽ chúng đi ăn cơm v́ nh́n bóng mặt trời đă quá đỉnh đầu. Tôi chờ thêm khoảng 10 phút để chắc chắn bọn chúng không bất ngờ trở lại. Tôi quyết định dứt khoát, phải giữ b́nh tỉnh, giả như là du kích vào thật nhanh, ra thật lẹ. Tôi lên tiếng gọi, khi c̣n cách cửa ra vào 2 – 3 thước.
     - Anh Lộc, Phán, tụi nó bỏ đi hết rồi, ra lẹ, đi cho mau với tôi.
     Tôi lập lại 2 – 3 lần mới thấy Đ/Úy Phán buồn bả, ủ , đi ra nói với Tôi:
     - Anh Lộc nói, Anh Cả đi, đi. Anh Cả có thoát th́ thông báo tin tức cho gia đ́nh tụi em.
     Suưt chút nửa là Tôi “chưởi thề” tuy nhiên, Tôi chỉ nói:
     - Tụi nó đi mất hết rồi, sợ cái ǵ mà không trốn đi?
     Đ/ Úy Phán cho biết: mấy tên du kích nói nếu trốn đi, khi bị bị bắt lại th́ chúng sẽ xử bắn, trước đó chúng cũng đă bắn chết một người. Nh́n dáng điệu cam chịu của Phán khiến Tôi bùi ngùi v́ Tôi và Phán đă từng phục vụ chung ở TĐ 2 Trâu điên, khi Tôi là ĐĐ Phó ĐĐ1 (1968) th́ Phán là Trung đội Trưởng ở ĐĐ4, Phán tốt nghiệp K 25 TĐ là một sĩ quan có nhiều triển vọng. (Sau nầy khi gặp lại Đ/Uư Phán trong Đại Hội TQLC 2008 tại Nam California, khi nhắc lại chuyện ở B́nh Sơn 3/4/1975. Tôi thông căm cho Anh Lộc và Phán trong t́nh h́nh bó buộc lúc bấy giờ)
     Không c̣n lựa chọn nào khác.
Tôi lặng lẽ, thất thểu bước nhanh ra khỏi khu vực giam giữ với nổi buồn nặng trĩu trong ḷng và câu hỏi: mai đây nếu Tôi có thoát được trở về, sẽ trả lời với các thân nhân của Anh Lộc và Phán thế nào đây? Có ai tin rằng Tôi đă hết ḷng, quên cả nguy hiểm bản thân v́ bè bạn và chiến hữu. Thôi th́ chỉ cầu mong các đấng thiêng liêng độ tŕ cho cả hai tai qua nạn khỏi.
     Trở ra lại quốc lộ 1, Tôi tính toán, khoảng cách đến Quảng Ngăi là 20 cây số, nếu phải đi bộ th́ khoảng 3 tiếng đồng hồ là tới. Tôi cấm cúi rảo bước trên đường, trong ánh nắng, nóng hâm hấp của miền Trung, nh́n trước mặt, đường c̣n xa diệu vợi, khách độc hành, ai thấu hiểu bước cô đơn; mới sáng nay c̣n đông đủ anh, em, bạn hữu, trong niềm tin vượt thoát sẽ thành công mà nay chỉ c̣n lại đơn độc. Tiếng kèn xe làm Tôi giật ḿnh và câu hỏi lớn của ai đó trên xe:
     - Anh ni đi mô
     và xe ngừng lại. Tôi đi ngang qua đầu xe, gặp người tài xế tuổi trung niên. Tôi ngỏ ư xin đi nhờ xe ra Tỉnh lỵ Quảng ngăi, được sự đồng ư, Tôi lên xe khoảng 30 phút sau Tôi bước ra khỏi xe, nói lời cám ơn, thả bộ đi về hướng chợ lúc nầy Tôi đang ở trong phạm vi ngoại ô Tỉnh Quảng Ngăi. Tôi tiếp tục đi cho đến khi vào đến cổng chào là cửa ngỏ của thành phố.
     Quảng Ngăi là nơi có nhiều kỷ niệm của TĐ2 TQLC. Đặc biệt trong vụ việc Phật giáo Miền Trung (1966). Trước đó TĐ 2 đă có lệnh trở về Hậu cứ để nghĩ dưởng quân sau 3 tháng  tăng phái cho Quân đoàn 2 quân nhân trong đơn vị đều vui vẻ, mừng rở, c̣n bao nhiêu tiền đều mang ra mua kẹo mè xửng và nón lá bài thơ đề làm quà tặng người thân sau một chuyến đi xa. Sáng hôm sau, ra phi trường Quảng Ngăi, chờ khoảng 1 giờ đồng hồ th́ có nhiều máy bay từ Sài G̣n đáp xuống, lại toàn là C47 của Không quân VNCH với 2 chiếc máy bay dân sự của hàng không Việt Nam. Lính nhà ta chẳng biết chuyện ǵ, cứ có lệnh là “xung phong” lên máy bay liền, bay chưa tới 30 phút toàn bộ máy bay hạ cánh xuống  phi trường Đà Nẳng, xong có lệnh “án binh bất động”, nằm chờ lệnh trong phi trường để “mấy quan to nói chuyện phải quấy với nhau”. Lính nhà ta “vỡ mộng” chỉ có nước chưởi thề, thế là bao nhiêu “kẹo mè xửng, nón lá bài thơ” trở thành nạn nhân của sự giận dử, thế mới gọi là “đời lính”.
     Tôi vào một quán nhỏ bên đường Quốc lộ 1 uống một ly nước và tô phở nấu theo cách miền Trung. Tôi nh́n đồng hồ trong quán ăn hơn 3 giờ chiều. Trong cảnh vắng lặng của một thành phố vừa mới đổi chủ, Tôi nhận thấy mọi sinh hoạt của thành phố đầy áp sự uể oải, cầm chừng, ngại ngùng, bẻn lẻn như một cô dâu mới về nhà chồng, chưa biết phải làm ǵ, thỉnh thoảng chỉ thấy vài chiếc xe đạp, vài người đi bộ có vẻ lạc loài như Tôi, chắc là thuộc phe ta. Trước khi rời quán ăn, Tôi hỏi thăm người đàn ông chủ quán: có biết một ngôi chùa nào gần nhất trong khu vực nầy hay không? .Trong e dè cẩn trọng đối với người lạ, ông ta chỉ cho Tôi, đường đi đến chùa Hội Phước trong khu phố gần trung tâm chợ. Tôi bước ra khỏi quán, đi lần theo Quốc lộ 1 cũng là con đường chính hướng về phố chợ, được một khoảng khá xa, nhận thấy mặt trời chưa lặn bóng e rằng khi tới Chùa c̣n sớm, khó xin chổ trú ngụ qua đêm, nh́n thấy một tàn cây có bóng mát bên đường. Tôi ngừng lại, ngồi xuống lề đường, mông lung suy nghĩ vẫn vơ: không biết ngày xưa, khi Hạng Vỏ thất trận 10,000 tử đệ bỏ đi, th́ t́nh trạng có thê thăm như Tôi hôm nay hay không? Một bóng dáng quen thuộc từ đàng sau, đang cắm cúi đi tới, Tôi nhận ra đó là Tr/Úy Quan, khi Quan đến gần chổ Tôi ngồi, trông thấy Tôi, Quan kêu lớn trong sự ngạc nhiên “Anh Tư, anh không bị bắt lại hả?” Tôi ra hiệu cho Quan tiếp tục đi, rồi Tôi rảo bước theo Quan, sau khi thật nhanh quan sát cẩn thận chung quanh. Đến một ngă tư đường, chúng tôi dừng lại, chọn một nơi kín đáo và trao đổi các tin tức liên quan đến các thành viên của hai nhóm. Tôi cho Quan biết về t́nh trạng của Lộc và Phán, Tôi hỏi Quan về Xuân, Quan cho biết đă lạc mất Xuần khi cả hai nh́n thấy bọn du kích ra hiệu cho xe ngừng lại, nên vội vă nhảy  xuống xe, ḥa nhập vào đám đông đang đi tuần hành, lẩn trốn trong các xóm nhà ven quốc lộ, sau cùng vuợt qua các cánh đồng ruộng, đi khỏi phạm vi vùng du kích kiểm soát. Việc gặp lại Tr/Úy Quan bất ngờ trên lộ tŕnh vượt thoát, giúp tinh thần Tôi thêm phấn chấn, lạc quan v́ từ nay có bạn đồng hành trên chặng đường thiên lư, t́m về phương Nam. Bên cạnh đó Quan sẽ là chứng nhân sau nầy cho cuộc hành tŕnh đường trường xa nầy. (cuộc sống đôi lúc có những bất ngờ, ngạc nhiên thú vị v́ Tôi chợt nhớ: Tr/Úy Quan là người có cùng nguyên quán tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) và là bạn học cùng lớp với cậu em thứ năm của Tôi, như vậy từ nay trên đường vượt thoát chắc sẽ có nhiều điều để nhắc nhớ về xứ sở.
     Buổi chiều đang xuống dần, ánh nắng le lói nhạt mờ, báo hiệu một ngày sắp hết .Tôi cho Quan biết ư định t́m nơi trú ngụ qua đêm ở ngôi chùa Hội Phước trong nội ô chợ Quảng Ngăi, do người chủ quán ăn đă chỉ dẩn, sau vài lần hỏi thêm các khách qua đường, chúng tôi đến nơi. Đây là một ngôi chùa rộng lớn với chiếc cổng tam quan bề thế, bên trong sân chùa đă có rất nhiều dân chúng, đa số là phụ nử và trẻ em, hỏi ra, mới biết là dân “tỵ nạn  chiến loạn” từ các nơi dồn vào đây, tạm nương nhờ cửa Phật, chờ thời cuộc cho phép sẽ hồi cư về lại B́nh Định (Quy Nhơn), thật là một cơ hội  tốt cho chúng tôi lẩn lộn, ḥa nhập vào đám đông, tương đối an toàn. Chùa có một giếng nước sâu do các tăng nhân trẻ phụ trách việc phân phối nước, Tôi và Quan mượn được một chiếc chiếu lớn cũng như được cấp phát cho mỗi người một ổ bánh ḿ chay. Ăn xong, cả 2 co ro quấn ḿnh trong chiếc chiếu lớn, bên hông phía sau căn bếp của Chùa. Chúng tôi th́ thầm to nhỏ về chương tŕnh dự tính ra đi ngày mai. (Trước đó qua tin tức thu thập được từ các chị  phụ nử nấu bếp, chúng tôi được biết các lực luợng chánh quy Bắc Việt đang bị cầm chân ở tuyến pḥng ngự Khánh Dương trước khi vào Nha trang). Tôi báo cho Quan biết, căn cứ vào các cột mốc cây số, chúng tôi đă vượt thoát được khoảng 120 cây số chỉ trong một ngày, một kết quả đáng mừng trên đường “vượt thoát” của ngày đầu tiên, Quan ngỏ ư, đề nghị t́m lối đi ra phía biển, để kiếm phương tiện ghe, thuyền đi cho nhanh và tránh được các trạm chốt kiểm soát sẽ gặp phải, nếu đi theo Quốc lộ. Tôi nghe Quan nói cũng có lư, tuy nhiên suy nghỉ lại Tôi thấy bất lợi, v́ lộ tŕnh t́m đường đi ra hướng có các làng đánh cá, có ghe đi biển, rất dễ bị phát hiện v́ không lẩn lộn được vào trong dân chúng, thêm nửa với giọng nói âm hưởng chính gốc miền Nam, trong túi không có tiền th́ làm sao mua chổ đi, cũng như khi đă lên thuyền, bị chặn xét là bó tay hết xoay sở. Trong khi xử dụng lộ tŕnh đi bộ sẽ khó bị phát hiện, do việc lẩn lộn vào đám đông, xe cộ qua lại nhiều, dể cho việc quá giang và thăm hỏi tin tức t́nh h́nh, miễn sau chỉ cần để ư, khéo luồn lách, nhảy khỏi xe (nếu quá giang được xe) trước khi xe vào các nơi trọng điểm trung tâm, sau đó băng đồng đi ṿng, tránh né, như thế xác suất trốn thoát thành công rất cao. Sau các phân tích của Tôi, Quan hoàn toàn đồng ư. Chúng tôi rơi vào giấc ngũ, trong lành lạnh của những cơn gió nhẹ, đánh dấu ngày thứ 5 “tù binh và vượt thoát”, thiếu nệm ấm, chăn êm. Văng vẳng đâu đây tiếng mơ chuông từ chánh điện, xen lẩn tiếng đọc kinh chú Quan thế âm, h́nh như Tôi mĩm cười trong ánh hào quang sáng chói của Đức thế tôn (lúc nầy Tôi chưa chuyển đạo).

Quảng ngăi với Núi Thiên Ấn, Sông Trà Khúc và lần may mắn thứ năm: N+1, 4/4/1975
     Tiếng la hét, ồn ào của trẻ con, tiếng gọi nhau của người lớn làm chúng tôi giật ḿnh tỉnh giấc, xuyên qua các cành cây trên cao, mặt Trời đă ló dạng nơi phương Đông, trong căn bếp Chùa có nhiều chị phụ nử đang phụ lo việc cơm, nước với các tăng nhân mặc áo màu nâu. Qua câu chuyện trao đổi của họ, chúng tôi được biết: tuyến pḥng ngự của QLVNCH do Nhảy dù, Trung đoàn 40 Sư đoàn 22 Bộ binh…v…v… tại Khánh Dương là một thị trấn nhỏ, nằm ở độ cao 1000m, cạnh quốc lộ 21 nối liền vùng cao nguyên Ban Mê Thuộc với vùng duyên hải Tỉnh Khánh Ḥa Nha Trang, cách Quốc lộ 1 khoảng 60 km, đă thất thủ ngày hôm qua (sau này qua các tài liệu, bài viết sưu tầm, được biết tuyến kháng cự Khánh Dương tan ră vào Ngày 2 Tháng4  Năm 1975). Thế là thêm một trở ngại và thất vọng cho chương tŕnh vượt thoát. Chúng tôi mang chiếc chiếu trả lại cho Chùa  th́ được biết Chùa sẽ có thí thực (cơm miễn phí) cho mọi người . Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi rời Chùa cùng với một số dân hồi cư về lại B́nh định Quy nhơn, hành trang tương đối ấm ḷng với 2 nắm cơm vắt lớn, 1 hủ chao lớn, một b́nh nhựa chứa nước. Chúng tôi đi ngược lại các con đường cũ để ra Quốc lộ 1, để tránh bị để ư Tôi và Quan giử khoảng cách, cùng lẩn lộn trong nhóm đông phụ nử và trẻ con. Các khu phố chợ, các con đường trong nội ô Quảng Ngăi của buổi sáng sớm, trông nhợt nhạt, u ám, buồn tẻ, âu lo, căng thẳng vốn dỉ phải có trong các nơi vừa mới bị chiếm đóng. Theo bước chân của ḍng người hồi cư, chúng tôi tới một toà nhà lớn sau mới biết đó là toà hành chánh cũ của Tỉnh Quảng Ngăi, tại đây có dán một thông báo, viết bằng tay, nét chữ không ngay hàng, thẳng lối với nhiều lổi chánh tả. Theo quy định ghi trên bảng thông báo: muốn hồi cư phải ghi danh với các loại giấy tờ của chánh quyền cũ. Đọc xong Tôi và Quan kín đáo, vội vă nhanh chóng ca bài tẩu vi thượng sách.
     Chúng tôi quay lại Quốc lộ 1, quyết định bắt đầu hành tŕnh đi bộ, tuy nhiên chưa ra khỏi ngoại vi Tỉnh Quảng Ngăi th́ “đụng đầu”ngay Trạm kiểm soát hổn hợp gồm du kích địa phương và quân chánh quy Bắc Việt. Lại một lần nửa chúng tôi phải thối lui, v́ địa thế trống trải không thể đi ṿng băng ruộng mà không bị phát hiện. Chúng tôi đành phải trở lại khu phố chợ, t́m chổ vắng ẩn náo, dự trù chờ chiều tối khi không c̣n chốt kiểm soát th́ sẽ “vượt thoát”. Thật không ngờ bọn Việt Cộng lại duy tŕ, trạm kiểm soát nầy liên tục cả ngày lẩn đêm. Tối đến chúng tôi xin tá túc dưới mái hiên của một ngôi nhà lớn, bên cạnh Quốc lộ 1, được chủ nhà cho mượn đầy đủ mùng và mền, nên chúng tôi qua đêm có được căm giác b́nh yên, ấm cúng. Buổi sáng khi gơ cửa gọi chủ nhà, để hoàn trả mùng mền đă mượn gặp ngay một phụ nử trẻ, tay cầm một đỉa cơm chiên lớn, vừa đưa cho Tôi vừa rơi lệ nói nhỏ “Tôi biết 2 Anh là lính Sài G̣n, đây là nhà cha, mẹ tôi, ông xă tôi ở Sư đoàn 22, cũng chưa thấy tin tức không biết sống, chết ra sao.” Tôi cầm dĩa cơm chiên nói vài lời an ủi, cám ơn; rồi vội vă bước ra ngoài sân, trong ḷng nặng trĩu, khi chợt nghĩ đến hoàn cảnh tương tự ở nơi chốn thành đô hoa lệ kia, cũng có người đang mỏi mắt trông chờ, đợi ngày trở về của Tôi. Ngày kế tiếp, chúng tôi tiếp tục canh me trạm kiểm soát, đến buổi chiều chúng tôi quay lại ngôi chùa Hội Phước, hưởng phước của nhà Chùa thêm lần nửa. Tôi không muốn ghé qua ngôi nhà đă ngủ tối qua, v́ chỉ để buồn thêm. Hôm sau cũng chưa có ǵ sáng sủa, Tôi và Quan cứ lang thang qua các con đường nhỏ, trong nội ô Tỉnh Quảng Ngăi mà chưa biết t́m lối thoát như thế nào.
     Sáng của ngày thứ ba dậm chân v́ bị đấp mô (N+4,Thứ Hai 7/4/1975) th́ “thần may mắn” lại mĩm cười với chúng tôi. Trong khi đang thả bộ dọc theo một con đường nhỏ, vắng người qua lại, gần trung tâm chợ, nơi có vài ba căn nhà bỏ trống, không thấy người ở, Tôi chợt nh́n thấy một tấm biển nhỏ bằng đồng ngay trước cổng vào, Tôi cúi xuống cầm lên xem: Tiểu đội quân cảnh tư pháp Quảng Ngăi. Tôi bỏ tấm bảng xuống và rủ Quan đi vào trong nhà, sau khi nh́n chung quanh không thấy có bóng dáng người qua lại, bước vào căn nhà chính, thấy có ba cái bàn làm việc và các loại giấy tờ nằm tung toé trên mặt sàn gạch. Sau một  lúc xem xét, chúng tôi t́m thấy có 2 giấy chứng nhận, ghi đầy đủ các chi tiết liên quan đến một người tên là B1 Cao văn Nghiêm Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh, c̣n giấy chứng nhận kia ghi tên Hạ sĩ Lâm hoàng Dân Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 BB. Tôi cầm cả 2 giấy chứng nhận, hối thúc Quan rời khỏi căn nhà thật nhanh. Ra đến đường lớn, Tôi đưa ngay giấy chứng nhận là Hạ sĩ Lâm hoàng Dân cho Tr/Úy Quan (Tôi sợ theo thói quen khi nghe kêu họ Lâm sẽ dể bị giật ḿnh) phần Tôi giữ giấy chứng nhận là B1 Cao văn Nghiêm. Đă có giấy chứng nhận của chánh quyền cũ với dấu mộc đàng hoàng, chúng tôi vội vả đến ghi danh với Ban hồi cư của Việt Cộng ở toà hành chánh cũ. Một phụ nử khoảng 40, cạp lưng có súng K54, cổ quấn vải dù ngụy trang, tiếp chúng tôi trong cái nh́n thiếu thân thiện, mắt liếc đọc 2 tờ giấy chứng nhận, chúng tôi hồi họp trong chờ đợi và khấn nguyện Phật Bà Quan âm, khi thấy bà ta chẳng hạch hỏi, lấy 2 mẩu giấy có in sẳn, viết lên đó, kư tên xong gọi một thanh niên trẻ, bảo mang 2 giấy đi đường nầy đóng dấu. Khi đưa trả lại cho chúng tôi 2 tờ giấy đi đường, có dấu mộc đóng rơ ràng của Ùy Ban Quân Quản Quảng ngăi, bà ta c̣n căn dặn bước qua bên kia đường sẽ có “các đồng chí lo cho chế độ ăn uống và cơ động” (lần đầu tiên nghe, Tôi cố nhịn cười, sợ bà ta nổi quạo là tiêu tùng).
     Tôi và Quan bước ra khỏi toà hành chánh cũ mà như đang bay bổng trên mây v́ từ nay đă có “bùa hộ mệnh”. Chúng tôi qua bên kia đường th́ đă có ngay vài tên du kích, hỏi xem giấy, sau đó là cấp phát cho tiêu chuẩn ăn là mấy ổ bánh ḿ cũ, kèm với một nhúm ruốc khô và nước uống, xong xuôi các tên du kích bảo chúng tôi ngồi chờ xe để “cơ động”, trong lúc nầy cũng đă có khoảng 15 – 20 người dân cũng đang chờ xe để hồi cư về B́nh Định và Nha Trang (1-3/4/1975 cả 2 nơi nầy cũng di tản để Việt Cộng chiếm mà chẳng có trận đánh nào cả). Khoảng 12 giờ trưa th́ có xe chở khách cũ, có lẽ bị trưng dụng, đến chở hết số người đang chờ đợi, trong đó có Tôi và Quan. Xe cũng phải ngưng lại tại chốt kiểm soát, mọi người xuất tŕnh giấy đi đường cho 2 tên du kích, Tôi đoán là học sinh trung học mới chạy theo Việt Cộng, chúng xem giấy, nh́n Tôi mà không nói ǵ, xong cho xe chạy. Từng hàng cây bên đường từng cột cây số chỉ khoảng cách lui dần sau lưng, để phía trước là con đường rộng mở của “tự do và đoàn tụ”. Xe chạy theo Quốc lộ 1, lần lượt lướt qua các địa danh quen thuộc Mộ Đức, Đức Phổ…v…v… với các trận đánh vang tiếng một thời ở Ba Gia, Thạch Trụ của QLVNCH nói chung và TQLC nói riêng. Khoảng cách thu ngắn theo từng thời gian trôi qua, Tôi nói đùa với Tr/Úy Quan: “khi nào cuộc hành quân nầy chấm dứt, Hạ sĩ cho B1 Nghiêm nầy đi phép vợ sanh nghe”. Quan trả lời “hổng dám đâu”, rồi cả hai chúng tôi cùng cười, có lẻ “Cười là tiếng khóc khô không lệ”. Xe tự nhiên chạy chậm lại và ngừng hẳn khi vào ranh giới của Tỉnh B́nh Định Quy Nhơn, mọi người lo lắng, cùng nhau lên tiếng hỏi tài xế, không có tiếng trả lời, chỉ thấy tài xế xuống xe đi kiểm tra nơi đầu máy, xong quay lại, nổ máy xe nhưng vẫn không chạy được, sau vài lần thử, tài xế thông báo  xe hư hộp số, không chạy được, ông ta đă cho người phụ  xế quá giang xe ngược chiều xin “chi viện” (nghe thật tức cười) xe khác. Chờ măi đến tối, thế là mọi người cùng ngũ lại trong xe. Đúng là “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”.
     Sáng hôm sau (N+5 - 8/4/1975) chờ măi đến mệt mơi, chán nản mà không thấy xe thay thế, trong khi những xe chạy qua không ngừng lại v́ đă đông đầy người. Tôi và Quan quyết định bỏ xe đi bộ với một số người có ít hành lư. Sau hơn 5 giờ đi bộ, khi bóng chiều đang ngă dần về phương Đông, chúng tôi vào tới địa phận tỉnh B́nh Định Quận Hoài Nhơn, chúng tôi căm thấy mệt mỏi sau chặng đường dài đầu tiên phải đi bộ, nên bàn nhau kiếm chổ tá túc qua đêm, tuy nhiên ghé hỏi mấy chổ khi thấy thái độ không thân thiện “truy hỏi” đủ thứ chuyện, chúng tôi đành phải bỏ đi nơi khác, cuối cùng thấy một ngôi nhà không có dấu hiệu sinh hoạt, sau khi lên tiếng kêu hỏi, không thấy có ai trả lời, chúng tôi biết là nhà vắng chủ, có thể ở tạm qua đêm ở phía hàng hiên trước nhà. Tôi và Quan bẻ các cành cây làm chổi, quét sạch các rác rưới trước cửa, xong đi quan sát ṿng quanh khu nhà, t́m đuợc một lu nước có nấp đậy bằng gổ cùng vài ba trái dừa khô bỏ lăn lóc kế bên, thế là chúng tôi có cách giải quyết cho bao tử, xong xuôi Tôi trải tấm nylon cũ, xin được lúc trên xe, thế rồi chúng tôi qua đêm trong cảm giác không b́nh yên chút nào của giấc ngũ “bụi đời”.

Hết Phần 3



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved