www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Phương Nam: Ánh sao nơi cuối Trời

Cựu MX Lâm Tài Thạnh TĐ 9 TQLC
(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu
30/03/1975 đến 18/04/1975)

Phần 2: Giả từ vũ khí

Bài thương ca “cá chậu chim lồng”
     Tiếng gà gáy sáng, văng vẳng bên ngoài, báo hiệu một ngày mới với những bất trắc, rủi ro không lường trước, đang chờ đợi kẻ chiến bại trong tức tưởi, xen lẩn cay đắng. Những người mới hôm qua đây, c̣n là một đoàn binh kiêu hùng với tinh thần chiến đấu cao độ, vũ khí đạn dược c̣n đủ, để giáng trả kẻ thù những đ̣n sấm sét và chận bước chúng như đă từng làm trước đây, thế mà bổng chốc trở thành kẻ trắng tay trong một cuộc triệt thoái, lui binh, thật sự không có trong binh pháp. Dưới ánh sáng chiếu le lói qua các khung cửa sổ Tôi chăm chú nh́n vào mặt dạ quang của cái đồng hồ Seiko 5, tài sản duy nhất c̣n sót lại, sau khi bị bắt rạng sáng hôm nay, nhờ bọn du kích chủ yếu t́m vũ khí nên không lục soát kỹ, 6:00 giờ sáng, cảm giác thiếu vắng ly cà phê và điếu thuốc đầu ngày khiến Tôi bức rức, khó chịu. Tôi không cảm thấy mệt mỏi, dù gần như thức trắng, trong khoảng thời gian chờ đợi sáng, thức đêm mới biết đêm dài, bao nhiêu suy tư lẩn lộn, cứ nhảy múa lung tung trong đầu óc, kể cả từ trong tiềm thức.
     Tôi chợt nhớ đến trong khoảng năm 1961 - 1962 Tôi có được xem một phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến với tựa đề: Dunkirk evacuation (Cuộc di tản triệt thoái ở Dunkirk/Dukerque) nội dung kể lại cuộc di tản các đoàn quân Đồng Minh gồm Anh, Pháp và Nam Tư tại bải biển Dukerque nước Pháp, trước viển ảnh bị quân Đức bao vây và tiêu diệt. Lệnh di tản do chính Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Sir Winston Churchill ban hành. Dưới sự yểm trợ tối đa hỏa lực của hải pháo và không lực Hoàng Gia Anh, sau 9 ngày (trong khi chỉ trong 9 Ngày Quân Đoàn 1 VNCH hoàn toàn bị xóa sổ) đă di tản được tổng số 338,226 quân nhân của Anh, Pháp: The next day, the BBC reported, Major-General Harold Alexander (the commander of the rearguard “chỉ huy trưởng quân đoạn hậu”) inspected the shores of Dunkirk  from a motorboat this morning to make sure no-one was left behind before boarding the last ship back to Britain (Trích tài liệu từ từ trang web Wikipedia).
     Tiếng vo ve của những con muỗi lượn quanh, đang cố gắng t́m mồi trước khi b́nh minh rọi sáng giúp Tôi trở về thực tế. Tôi nh́n quanh căn pḥng nhỏ hẹp đang dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh. Tôi biết đây là một lớp học của một Trường Tiểu học VNCH nằm trong khu vực Non Nước, hiện nay có khoảng 40 quân nhân cùng chung số phận “bị bỏ rơi”, hơn phân nửa là TQLC, trong số nầy có người mặc quần áo dân sự, có người mặc quần trận áo thun hay áo trận quần ngắn, những khuôn mặt thất thần, mệt mơi, lo lắng với các ánh mắt ḍ hỏi, ngần ngại không biết phải xưng hô như thế nào cho phải lẻ, bởi sự thay đổi đến quá bất ngờ như trong giấc mộng, tiếng chắc lưởi, thở dài cho sự thiếu may mắn, chậm chưn, bên cạnh cũng không thiếu vắng những tiếng chưởi thề để giải tỏa sự bực tức. Tôi thông cảm và hiểu được v́ các quân nhân ấy cũng chỉ là những con người b́nh thường với hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, nay bổng nhiên mất hết tự do và mạng sống đang bị de dọa trầm trọng. Tiếng hỏi th́ thầm khe khẻ của một quân nhân:
     - Ông Thầy bây giờ tính làm sao? Không biết tụi nó đối xử với ḿnh như thế nào Thiếu tá; tụi nó xem ḿnh là tù binh hay hàng binh, Ông Thầy?
     Cách xưng hô bất nhất cho thấy sự kích động, chứa đựng sự âu lo như thế nầy là điều dễ hiểu. Tôi nh́n thẳng vào mặt người quân nhân đang mặc áo thun, quần trận và chậm rải nói lớn cho mọi người cùng nghe:
     - Em đừng có quá lo lắng, chúng ta vẫn c̣n Chính Phủ, c̣n Sài G̣n, c̣n Vùng 3 và 4, c̣n hiệp định ngưng bắn Paris 1973 th́ thế nào Quốc Tế và người Mỹ cũng phải lên tiếng can thiệp, để ngưng bắn và trao trả tù binh, phải giữ vững tinh thần, chịu đựng những khó khăn, thiệt tḥi hiện nay, cũng như luôn cầu nguyện theo tôn giáo của em.
     Sau câu nói của Tôi, t́nh h́nh trong pḥng giảm bớt sự căng thẳng. Riêng Tôi tự hỏi: “Có phải đây là một câu nói để tự an ủi, trấn an cho chính ḿnh?”. Từ phía cuối pḥng, khi ánh sáng c̣n chưa đủ để nhận diện là ai, một người đến sát bên Tôi và nói nhỏ:
     - Thiếu Tá hăy thay bộ đồ nầy, cho đở nguy hiểm.
     Tôi nh́n các thứ đang nằm trên tay của B1 Phụng (cần vụ) đó là một cái áo gió loại mơng và một cái quần jean. Tôi buộc miệng hỏi:
     - Phụng hả? Sao cũng ở đây? Làm sao mà có các thứ nầy?
     Phụng cho biết: khi TĐ9 vào trong chủng viện, lúc Tôi đang lo điều động việc bố trí pḥng thủ, Phụng nhận thấy t́nh h́nh quá nguy cấp, khó thể thoát thân, Phụng đă đi xin quần áo dân sự, từ các nhóm người tản cư v́ chiến loạn đang tá túc trong chũng viện, pḥng khi cần đến cho Tôi. Tôi cầm lấy những vật dụng có thể giúp Tôi tạm thời không c̣n là cái gai trong mắt của những kẻ đang chiến thắng trong “ngạc nhiên và bất ngờ”. Tôi nói tiếng cám ơn trong căm động, bùi ngùi gần rơi lệ. Tôi nghiệm ra một điều, có lẻ trước đây Tôi chưa cảm nhận được, đó là trong cuộc sống của 11 năm quân ngủ, bên cạnh những con người chỉ biết có lợi ích của bản thân (khi mâm tiệc c̣n đủ món ngon, vật lạ th́ chiếu trên, chiếu dưới giành nhau công trạng nhưng đến khi tiệc tàn, rượu hết, b́nh vơi, chỉ c̣n lại xương xẩu, khó ăn, khó nuốt, th́ đến lời nói ủi an cũng chẳng màng) vẫn c̣n có những tấm ḷng chân chất, trung thực, dễ thương; tặng phẫm bất ngờ của B1 Phụng trong một đổi đời, lúc mà, chưa ai biết được số mệnh sẽ đi về đâu là biểu trưng vô giá cho t́nh chiến hữu, sống chết có nhau, hoạn nạn cùng chia sẻ với một ư tưởng đơn giản duy nhất, giúp ngụy trang phần nào lai lịch, nhằm che chắn cho sinh mạng, đang bị nhiều đe dọa của Tôi, trong lúc Tôi chỉ c̣n là con số không vô giá trị. Ôi thật cao quư cho nghĩa cử tương thân, tương ái nầy, bây giờ Tôi mới thấu hiểu sâu sắc câu nói của người xưa: Trong nghèo khổ mới biết ai là người con hiếu thảo. Lúc đất nước lâm nguy mới biết ai là trung thần (Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần). Tôi tự hỏi với chính ḿnh: biết đâu, trong quá khứ B1 Phụng đă từng bị Tôi quở trách v́ một lổi lầm nào đó, thế mà bây giờ trong hoàn cảnh “tù binh” giống nhau, thế th́ điều ǵ đă khiến Phụng c̣n lo lắng cho Tôi đến giờ nầy? Phải chăng đó là “t́nh người cao cả”?.
     Tiếng động mở dây xích dùng để khóa cửa pḥng giam, mọi người ngưng nói chuyện. Tôi nh́n đồng hồ 7:00 giờ sáng của Ngày 30 Tháng 03 Năm 1975, trong im lặng chờ đợi, hai người có dáng dấp trung b́nh, quần áo dân sự b́nh thường với vũ khí trên tay là 1 AK47 và 1 K54 bước vào pḥng, đứng cách xa chúng tôi khoảng 3 thước, một người có dáng vẻ là chỉ huy lên tiếng trong âm ngữ miền Trung khó nghe, thông báo là Cách mạng đă thành công…v…v…; sau vài phút khoát lác, khoe khoan thành tích, đột nhiên hắn ngưng lại:
     - Trong các ông có ai là sĩ quan không?
     Bất chợt hắn buông ra câu hỏi và im lặng chờ đợi. Tôi quyết định thật nhanh và lên tiếng:
     - Có.
     Trước các khuôn mặt đầy căng thẳng, lo lắng của mọi quân nhân trong pḥng (khi bị bắt giải về Trường học Tôi đă lạc mất Đ/úyTịnh, Đ/úy Phán và Tr/Úy Quan).
     - Quân hàm của Ông là ǵ?
     Tôi chẳng hiểu hắn hỏi điều ǵ, nên chưa trả lời. Tên cùng đi có lẽ là “nằm vùng, hoạt động nội thành” thấy thế liền lên tiếng:
     - Cấp bậc của Anh là ǵ?
     Tôi trả lời:
     - Thiếu Tá.
     Cả hai cùng nh́n nhau và tên kia hỏi tiếp:
     - Cấp chức của Ông?
     Tôi trả lời trước khi tên kia diển dịch:
     - Tôi không biết chữ cấp chức Ông dùng là ǵ nhưng chức vụ của Tôi là Tiểu Đoàn Trưởng.
     - Phiên hiệu của đơn vị Ông?
     Tôi lại “chới với”v́ chẳng biết phiên hiệu là cái giống ǵ!! Tên nằm vùng lập lại câu hỏi:
     - Anh thuộc quân binh chủng nào của Sài g̣n?
     Tôi trả lời:
     - Thủy Quân Lục Chiến.
     Khi nghe Tôi trả lời, hắn nói ngay với tên có vẻ là chỉ huy Anh ta là Lính Thủy đánh bộ. Tên chỉ huy phán ngay một câu:
     - Bọn lính ngoan cố, ác ôn đấy à!!!
     Tôi không trả lời nhưng cảm thấy tim đập nhanh hơn, một ư nghỉ thoáng qua: Không lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của đời ḿnh!! Những h́nh ảnh thăm sát kinh hoàng trong Tết Mậu thân 1968 tại Huế, chợt trở về trong trí nhớ. Tôi tự nhủ với chính ḿnh “Phải t́m cách thoát thân bằng mọi giá dù phải đánh đổi mạng sống.”
     - C̣n ai là sĩ quan trong pḥng nầy không?
Mọi người cùng im lặng. Tên chỉ huy nói thêm vài điều quy định nơi giam giữ cũng như hứa sẽ có người mang nước uống, thực phẫm đến cho tù binh.
     - Anh đi theo chúng tôi.
     Tên chỉ huy nói và ra hiệu cho tên mang AK47 tiến về phía Tôi, áp giải Tôi ra khỏi pḥng, trong những tiếng chất vấn của B1 Phụng và một số quân nhân khác thuộc TĐ9 TQLC.
     Tôi bước ra ngoài, cửa pḥng giam đóng, khóa lại, luồng gió mát của không khí trong lành buổi sáng giúp Tôi thấy dễ chịu, sự tự do thong thả không c̣n bị giam giữ trong bốn bức tường dù chỉ tạm bợ trong chốc lát cũng cho Tôi thêm nghị lực và sẳn sàng đối phó với t́nh huống xấu. Nh́n một lượt quang cảnh chung quanh, Tôi thấy có khoảng 8 – 10  Lớp học được dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh, các du kích địa phương bao gồm đàn ông lẩn đàn bà tới lui chuyện tṛ ồn ào, khoe khoan thành tích cũng như các loại vũ khí chúng thu gom được dọc theo bải biển Mỹ Khê Non Nước, chúng xưng hô với nhau: anh Tư, chị Sáu, chú Mười trong sự đắc chí, hả hê, nghe mà nóng mặt, Tôi tự nhủ ḷng: “Ngày nào có cơ hội trở lại đây th́ chắc là giết lầm hơn bỏ sót.” Phải quyết định nhanh, trước khi chúng nổ súng, bắn sau lưng ḿnh. Tôi đi chậm bước và xoay người lại khi đang hướng về lớp học nằm cuối dăy. Tôi hỏi tên nằm vùng:
     - Có thuốc hút cho Tôi một điếu?
     Cả 2 tên dừng lại, tên chỉ huy hỏi:
     - Có hút được thuốc lá cẫm lệ không?
     Tôi lắc đầu, vừa tính lợi dụng sự chểnh mảng của bọn chúng khi đang nói chuyện  để “liều mạng cướp súng” th́ tên chỉ huy nói tiếp: đồng chí chủ tịch ủy ban quân quản, bảo phải “cách ly” các sĩ quan, để chiều nay giao lại cho bộ đội Sư 304. (Sư đoàn 304 Bắc Việt). Tôi thở phào nhẹ nhơm, như thế là chưa tàn đời, đến lớp học cuối cùng, chúng giam Tôi vào trong đó, bỏ đi sau khi hứa sẽ có người mang cơm, nước đến cho Tôi.

Tù binh tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 3 VNCH - Trại Hoà Cầm
     Qua hai mươi bốn tiếng đồng hồ đầy căng thẳng, xen lẩn các câu tự hỏi mà không có câu trả lời.
Tôi ngă lưng, nằm dài trên chiếc bàn học sinh, sau khi bao tử tạm ổn với 1 vắt cơm có con cá khô nhỏ và ca nhựa nước!! Làm sao có thể tin được các lời nói của tên Việt Cộng có vẽ là chỉ huy? Hắn nói để cho Tôi yên tâm “chờ chết” hay như thế nào?
     Họ có áp dụng “đúng đắn quy chế Geneve về tù binh” hay không? Phần quân ta liệu có c̣n cơ hội phản công hay không? Tôi rơi vào giấc ngũ ngắn, buổi trưa với tâm tư xốn xang, bồn chồn. Đột nhiên những âm thanh vang dội của các loại xe vận tải lớn, ầm ỉ bên ngoài lớp học khiến Tôi giật ḿnh tỉnh giấc, tiếp theo là những tiếng quát tháo, thúc  dục, dọa nạt với giọng nói sặc mùi Bắc Việt, tiếng lên cơ bẩm các loại súng cá nhân, tiếng chân người chạy tới lui các dăy pḥng lớp học, tiếng loa cầm tay nghe rơ ràng với lệnh là tất cả các tù binh ra khỏi pḥng, tập trung ở sân trường. Tôi đoán biết là quân chánh quy Bắc Việt đă tới để áp giải tù binh. Tôi cảm thấy an tâm phần nào, v́ dù sao với một số lượng tù binh đông đảo, cũng như giữa buổi trưa như thế này th́ chắc chắn họ không thể “thủ tiêu” tù binh được. Tôi nh́n đồng hồ 2 giờ chiều Ngày 30 Tháng 3 Năm 1975.
     Tiếng mở cửa pḥng với sự xuất hiện trở lại của tên có vẻ là chỉ huy của lực lượng điạ phương đă bắt Tôi.
     - Anh ra ngoài và “khẩn trương chuẩn bị hành quân đi về Trại giam. Chúng tôi đă hoàn thành công tác bước đầu…v…v…”
     Tôi muốn bật cười ra tiếng, v́ cái lối nói nghe trái tai, ngộ nghĩnh của hắn. Tôi vừa bước ra sân cũng là lúc các tên lính Bắc Việt mặt mũi non choẹt (khoảng 16 – 18 tuổi) đang đi tới, đi lui nhắc nhở các quy định trên đường “hành quân về trại tù binh” và anh nào cố t́nh làm sai quy định sẽ bị xử lư ngay. Thấp thoáng ở đầu sân trường Tôi nh́n thấy h́nh dáng của Phán, Tịnh và Quan. Khoảng gần 3 giờ chiều, đoàn tù binh bắt đầu rời khu vực Mỹ Khê Non Nước, trong sự bố trí canh giữ, nghiêm ngặt của nhiều đơn vị chánh quy quân Bắc Việt.
     Trong 30 năm của đời sống, chưa bao giờ Tôi cảm nhận được sự nhục nhă đến ê chề, tủi thẹn đến tê tái cả người, khi bị dẩn giải qua những khu phố cũa TP Đà Nẳng, trước hàng đoàn người dân, đứng dọc theo lộ tŕnh tù binh đi qua với những lời bàn tán khen, chê, chỉ chỏ, cười đùa, có kẻ c̣n thốt ra những lời chướng tai, ngụ ư cho đáng đời lính ác ôn, tuy nhiên cũng có những ánh mắt đỏ hoe ái ngại, lặng lẻ quay mặt, che dấu những gịng lệ thương cảm cho thân phận “cá chậu, chim lồng” trong đó có cả thân nhân của họ. Tôi không trách những con người vô t́nh, thiếu sự hiểu biết, trong hoàn cảnh gió chiều nào, che chiều ấy của buổi giao thời với những bất chợt thay đổi trong nghiệt ngă và không tưởng; có trách chăng là trách chính chúng tôi những người với các mỹ từ đẹp đẻ là chiến sỉ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đă không vuông tṛn trách nhiệm bảo quốc, an dân, để mất đi một phần lảnh thổ của Miền Nam trong tinh thần chủ bại và hổn loạn. Quân sử nào sẽ ghi lại đầy đủ nổi đau thương, mất mát không đáng có và nhục nhả nầy???...
     Đoàn tù binh cuối cùng được đưa vào giam giữ ở Trại Ḥa Cầm, đây là nơi trú đóng của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH, các dăy doanh trại hầu như đều c̣n nguyên vẹn ngoại trừ một vài chổ có khói nhỏ bốc lên do việc thiêu hủy hồ sơ. Sau khi tất cả tù binh đă vào bên trong, ở 2 cổng ra vào, được ngăn chận lại bởi các cuộn dây kẽm gai khoanh tṛn (concertina) với một vài lính chánh quy mang súng AK47 đứng gác, các thành phần áp giải lần lượt rút đi. Trong khu vực rộng lớn của doanh trại cũ, các tù binh bắt đầu thoải mái đi t́m bạn bè cùng đơn vị, tiếng gọi trong ngạc nhiên, tiếng cười trong mừng rỡ khi gặp lại nhau để biết rằng bản thân và những người quen biết vẫn c̣n sống. Tôi ước tính có vào khoảng 4,000 – 5,000 tù binh đủ các quân binh chủng bị giam giữ tại đây. Gần 6 giờ chiều th́ Tôi gặp lại hầu hết các sĩ quan đầu nảo thuộc TĐ9 gồm có Đ/Úy Tịnh Tr Ban 3, Đ/Úy Phán ĐĐT/ĐĐ2, Tr/Úy Lưu minh Quan ĐĐT/ĐĐ1, Đ/Úy Lê hồng Quang ĐĐT/ĐĐCH, Tr/Úy Công ĐĐT/ĐĐ4, T/Úy Xuân Trưởng Ban 2 (phần Th/Tá Lộc TĐPhó và TR/Úy Ba ĐĐT/ĐĐ3 th́ ngày hôm sau mới gặp lại nhau ở ngoài phố chợ Đà Nẳng). Chúng tôi quy tụ lại, chọn một khu vực riêng biệt để cùng nhau bàn bạc, phải làm ǵ khi có cơ hội. Tôi bảo T/Úy Dương thanh Xuân đi ṿng quanh, t́m hiểu, nghe ngóng các tin tức từ các quân nhân khác, cũng như để ư đến việc bố trí canh gác của Viêt Cộng. Khoảng hơn 6 giờ tối, có một nhóm quân Bắc Việt đến với những xe GMC tịch thu được chở theo rất nhiều quần áo trận c̣n mới, lấy được từ các kho dự trử của Quân Đoàn 1. Họ phân phát cho những tù binh nào chỉ có áo thung, quần ngắn (sau nầy mới biết họ có chủ đích muốn quay phim để tuyên truyền, làm lũng đoạn thêm tinh thần chiến đấu của quân ta).
     Màn đêm dần buông xuống, mọi người kiếm chổ ngă lưng trên các băng ghế dùng cho các tân binh trong  quân trường, với bụng đói meo và khát nước. Tiếng T/Úy Xuân th́ thầm bên tai Tôi, báo cho biết về sự canh pḥng lỏng lẻo của bọn Việt cộng (Theo sự nhận xét của Tôi th́ quân Bắc Việt hoàn toàn không quan tâm đến t́nh h́nh tù binh trong giai đoạn nầy, khi các cánh quân tiến công của họ chưa bao giờ gặp sự kháng cự mănh liệt của quân ta. Mọi nổ lực và quan tâm của họ trong lúc nầy là “đánh lấy Sài g̣n”. Những chiến thắng bất ngờ đến với họ, qua các cuộc rút quân vội vă, không kế hoạch chu đáo của ta để rồi sau đó trở thành những thất bại mang tính hệ thống giây chuyền ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của mọi quân nhân). Tôi nói với T/Úy Xuân ngày mai chúng ta sẽ t́m cách trốn ra khỏi chồ nầy. Tôi hỏi Xuân có gặp hay thấy B1 Phụng hay không, Xuân cho biết không thấy. Tôi nghĩ có lẻ Phụng đă trốn được.
     Trong ánh sáng chập chờn của các ngọn đèn thiết lập chung quanh căn cứ, Tôi thầm nghĩ, thế là thêm một đêm dài sống trong suy tư với chập chùng vấn vương, thương nhớ. Kư ức chợt hiện về trong trí nhớ mới đây thôi, chưa đến 60 ngày, BCH/TĐ 9 đóng quân ở bải biển Mỹ Thủy, trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Măo 1975 (11/2/1975 dịp nầy Th/Tướng, Tư Lệnh SĐ, có đến thăm TĐ 9 và Pháo Đội C/TĐ1 PB của Tr/Úy Nguyễn văn Tuấn) được sự chấp thuận của Sư Đoàn, Tôi đón gia đ́nh từ Sài G̣n ra thăm, sau các ngày Xuân. Tôi xin phép Lữ Đoàn đưa gia đ́nh đi Đà Nẳng để thăm cậu em của YT (Ng chí Thiện Radio Bolsa, Nam California, cũng là anh của nghệ sĩ hài Chí Tài), lúc bấy giờ đang phục vụ ở Sư Đoàn 3 BB/Ban quân nhạc tại Trại Ḥa Cầm nầy), trong vai tṛ của một sĩ quan trung cấp, Tôi được sự tiếp đón nghiêm chỉnh, lịch sự, hữu ích của toán quân cảnh gác cổng BTL/Sư Đoàn 3 BB, đă giúp cho việc thăm gặp dễ dàng và nhanh chóng. Thế mà nay, vật đổi sao dời, mọi chuyện thay đổi như trong giấc mơ, Tôi dỏi mắt nh́n lên khoảng không gian vô tận trên cao với muôn vàn ánh sao lấp lánh, Tôi tự hỏi đâu là ngôi sao số mạng của ḿnh, liệu nó có trở thành ánh sao băng quá sớm, trong giải ngân hà sáng chói, rực rở, ở tận cuối trời phương Nam và ngôi sao nào sẽ đưa lối, dẩn đường Tôi t́m về tổ ấm như ánh sáng nhiệm mầu của một thuở xa xưa, dẩn dắt con người đến với các Đấng thiêng liêng. Tôi thiếp đi, trong văng vẳng đâu đây tiếng gọi thương yêu của con trẻ cùng tiếng thở dài nảo ruột của thiếu phụ Nam sương.

Phố chợ Đà Nẳng - May mắn lần thứ nhất.
     Ánh sáng ban mai rọi chiếu khắp nơi, báo hiệu một ngày mới bắt đầu trong sự ồn ào như ong vở tổ, khi toàn thể tù binh trở dậy, sau một giấc ngủ không trọn vẹn. Mọi người tụ tập thành từng nhóm theo đơn vị cũ hay bạn bè quen biết. Mối quan tâm chung của tất cả tù binh là: Việc ǵ sẽ xăy ra trong ngày hôm nay? Số phận tù binh sẽ được giải quyết như thế nào? Vấn đề ẩm thực sẽ ra sao?...v…v… Th/úy Xuân trở về sau khi đi thu thập tin tức  t́nh h́nh (ám số chuyên nghiệp của Ban 2) cho biết, hiện nay chỉ có vài tên du kích đứng gác ngoài cổng. Tôi bảo Xuân: ban ngày lộ diện, khó trốn sự truy đuổi, nên cố gắng tiếp tục t́m lối thoát dọc theo hàng rào pḥng thủ ở mặt trước của Trại (ít có nguy hiễm hơn bởi các bải ḿn xung quanh Trại). Không ngờ sự may mắn đầu tiên đến với tù binh chúng tôi. Khoảng 11 giờ trưa, có một xe GMC chở đến 4 - 6 giỏ cần xé đựng cơm, cá khô. Sau khi chuyển giao các thứ hàng cho bọn du kích gác cổng (bọn lính chánh quy Bắc Việt đă rút đi trong đêm), xe tiếp tục chạy đi. Tù binh chúng tôi để ư, theo dỏi diển biến tại cổng gác, thấy mấy tên du kích tụ họp, bàn tán với nhau khoảng 10 phút, có 2 tên đi vào sát hàng rào ngăn cách, thông báo tù binh cho người ra nhận các giỏ cơm, tù binh bắt đầu lớn tiếng chất vấn tại sao số lượng tù binh th́ nhiều mà chỉ có mấy giỏ cơm th́ làm sao cho đủ…v…v, tiếng náo động phản đối, càng lúc càng to nghe vang rền cả khu vực. Bọn du kích canh giữ, không biết phải xử trí như thế nào trước làn sóng la hét phản đối của tù binh. Sau cùng cả toán du kích lẳng lặng kéo nhau bỏ đi mà không có bất cứ phản ứng ǵ; thế là tất cả tù binh cũng tự động tan hàng theo sở thích từng nhóm hay đơn vị cũ. (Thứ hai 31/3/1975).

Hội tụ và may mắn lần thứ hai.
     Nhóm chúng tôi khi rời khỏi Trại giam giữ Ḥa Cầm, hướng về phố chợ Đà Nẳng  gồm có: Tôi, Tịnh, Phán, Xuân, Quan, cùng một số quân nhân TĐ 9 khác. Trên đường đi v́ cần có tiền để xử dụng, khi mọi sinh hoạt của Đà Nẳng c̣n tương đối b́nh thường với sự lo lắng, e ngại của những người dân trong một thành phố mới bị chiếm đóng. Tôi phải bán đi chiếc đồng hồ Seiko 5 và Phán phải bán sợi dây chuyền mang trên cổ, cũng may không bị những người mua ép giá, cho nên có tiền chia nhau xài tạm (kư ức của Phán và Xuân). Ly cà phê đen đá và tô ḿ quảng đầu tiên sau 36 tiếng đồng hồ làm thân tù binh với những lo lắng “chết người” đă được mọi người trong nhóm tận t́nh chiếu cố. Tôi thả hồn theo làn khói thuốc lá mỏng (Tôi vừa mua được gói thuốc lá Ruby quân tiếp vụ) được khéo léo nhả ra một cách chuyên nghiệp, cuộn tṛn như h́nh chữ O đang quyện ṿng, xoay quanh, nhảy nhót trước mặt, cố thoát sự ḱm hăm để tan dần trong bầu không khí. Tôi tự nghỉ “một vật thể vô tri như thế mà c̣n muốn có được sự tự do, huống chi là con người”. Tôi lẩm bẩm nói với chính ḿnh: Trốn, bằng mọi cách phải trốn, t́m đường về phương Nam!!!. Xuân xoay người hỏi Tôi:
     - Anh Tư nói cái ǵ ?
     Tôi trả lời:
     - Không có chi. Anh sẽ bàn thảo với mọi người sau nầy.
     Trên đường đi chúng tôi luôn tránh né những nơi mà từ xa, chúng tôi có thể thấy bóng dáng của bọn quân Bắc Việt (phân biệt qua quần áo) hay là bọn du kích, mặc dù việc chặn xét trên đường đi hầu như không có - theo nhận xét của Tôi, trong thời điểm nầy mọi hoạt động của thành phố Đà Nẳng chưa bị bọn “xâm chiếm” kiểm soát được hoàn toàn. Đúng nhất phải nói: “Đà Nẳng là của trên Trời rơi xuống” mà bọn Bắc bộ phủ chưa bao giờ nghỉ tới, đến khi “lượm được” cho vào túi mà chẳng biết phải làm ǵ!
     “Sau khi mất Đà Nẳng, kể như quân lực VNCH đă mất hơn phân nửa lực lượng. Đáng buồn hơn nửa là khi sự tan ră xăy ra tại mặt trận miền Trung, th́ chỉ riêng tại Quảng Trị, Huế và Đà Nẳng, quân lực VNCH đă có sẳn kho lương thực và đạn dược đủ để chiến đấu trong ṿng ít ra là một năm. Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh. Trang 320 gịng 6 – 11”.
     Khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi có mặt tại các con phố chính của TP Đà nẳng như là: Đại lộ Độc Lập, đường Bạch Đằng (chạy dọc theo sông Hàn), đường Lư Thường Kiệt, đường Quang Trung…v…v… Từ các con đường giao điểm nầy, những con người ngơ ngơ, ngác ngác, ăn mặc không giống ai, chỉ nh́n qua là biết “phe ta” do quần áo dân sự xin được, cái dài, cái ngắn, cái rộng, cái hẹp, lại thêm khi nói chuyện th́ rơ ngay là dân gốc miền Nam. Mọi người cứ thế mà đi lên, đi xuống, rồi lại đụng đầu nhau ở một góc phố cũ vừa bước qua để:“Nh́n nhau nói chẳng nên lời. Lệ ứa tim đau nổi đoạn trường”.
     Tại các con phố chính ấy, chúng tôi t́nh cờ gặp lại Th/tá Lộc Tiểu đoàn phó, Hạ sĩ Thương (người Huế) là cần vụ của Th/tá Lộc cũng như “tái ngộ” Đ/ Úy Trần Văn Hên (ĐĐT/ĐĐ Duyên hải/TDYTTB). Tôi hỏi thăm Anh Lộc th́ được biết là ĐĐ3 TĐ 9 “bỏ cuộc” trước áp lực, ngày càng gia tăng truy đuổi của quân Bắc Việt khi trên đường thực hiện kế hoạch đă được giao phó. Tôi có hỏi về t́nh trạng của ĐĐT/ĐĐ3 là Tr/Úy Ba th́ Anh Lộc cho biết c̣n sống nhưng không biết bị bắt giữ ở đâu. Tôi chuyện tṛ và nói đùa với Đ/Uư Hên là: ĐĐT Duyên hải mà bị mắc cạn mới là chuyện lạ. Tôi c̣n hát đùa “Ḿnh có 3 thằng “rơi rớt”chốn binh đao, biết t́m nơi phương nào, cho thoát đám quân gian”. (Tôi, Lộc và Hên cùng tốt nghiệp Khóa 17 Thủ Đức, cùng về TQLC Tháng 11 Năm 1964 với tổng số là 36 Chuẩn Úy). Sau một lúc hàn huyên thăm hỏi, chúng tôi mới bàn về việc phải t́m nơi trú ngụ tối hôm nay (31/3/1975). Tôi chợt nhớ có Tr/Uư Phạm Minh Sơn (Không Quân chuyển về, phụ trách XLTV Ban 3/TĐ 9, khi Đ/Úy Tịnh từ LĐ 258 chưa thuyên chuyển vể TĐ 9 và sau này làm phụ tá Ban 3 cho Đại/Úy Tịnh, vốn là người nguyên quán Đà Nẳng). Tôi nhắc về Sơn nhưng tiếc thay chẳng ai biết nhà của Sơn ở đâu trong TP Đà Nẳng. May mắn lại đến với chúng tôi khi chính hạ sĩ Thương (cần vụ) cho biết là có thân nhân quen biết ở Xóm đạo Thanh Bồ Đà Nẳng nên sẳn ḷng hướng dẩn chúng tôi về đó; cùng lúc ấy Đ/Úy Hên gặp lại Tr/Uư Quân (ĐĐ Bảo Toàn/TĐYTTB) cùng một quân nhân cũng có thân nhân, gần trong khu vực Xóm đạo; thế là chúng tôi cùng dẩn nhau về đấy; tuy nhiên khi về đến nơi, mới biết là “nhà trống người không” v́ thân nhân quen biết của Thương và quân nhân trong ĐĐBT, đều đă bỏ nhà chạy “tỵ nạn” nơi khác, Quân và Thương phải đi hỏi thăm các người hàng xóm quen biết, sau cùng có được ch́a khóa để vào nhà. Nhằm tránh sự “ṭ ṃ ḍm ngó” của các người dân chung quanh, trong cảnh “tranh tối, tranh sáng” nầy, hơn nửa “cẩn tắc vô áy náy”, chúng tôi quyết định chia ra thành 2 nhóm ở 2 nơi riêng biệt, chỉ cách nhau một con đường. Chúng tôi tắm giặt thoải mái, ăn uống no đủ, nhờ vào các thực phẩm c̣n sót lại trong nhà. Sau đó mạnh ai nấy lăn ra ngũ bù, mọi phiền muộn, lo lắng, giờ đây tạm bỏ lại đâu đó trong ngăn kéo của thời gian, để tận hưởng cái hạnh phúc, khi biết ḿnh vẫn c̣n sống và tự do dù trong ṿng“kềm kẹp” của quân thù.

Hết Phần 2



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved