www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Sóc Trăng Quê Tôi - Đôi Ḍng Tản Mạn

Lâm tài Thạnh

     Thật ra cho đến lúc này Tôi vẫn chưa biết được rơ ràng về gia phả , gịng họ Lâm Tài của chúng tôi như thế nào v́ một lẽ dễ hiểu là các bậc trưởng thượng của gia đ́nh Lâm Tài chúng tôi đă lần lượt khuất núi , qua đời khi Tôi chưa có cơ hội để t́m hiểu cội nguồn , gốc gác . Quê Nội của Tôi là Làng Trường Khánh Văn Cơ ở cách xa Tỉnh Lỵ Sóc Trăng vào khoảng 12 km trên đường đi Đại Ngải . Theo như lời kể lại của các Cô ( Anh Em chúng tôi gọi là Má Hai và Má Tư )Tôi , khi Ông Nội c̣n sanh tiền v́ đam mê cờ bạc nên bao nhiêu ruộng đất , tài sản của Ông Cố để lại đều lần lượt sang tay người  khác và sau đó rời bỏ Làng Văn Cơ để ra sinh sống tại Chợ Sóc Trăng . Căn nhà Số 8 đường Hàm Nghi chung dăy nhà với tiệm cầm đồ Văn Cẩm là căn nhà mướn của một người bà con và từ đó Anh Em chúng tôi được nuôi dưỡng, dạy dổ, trưởng thành vào đời với t́nh yêu thương cao cả, hy sinh , chịu đựng của Bà Mẹ trẻ , góa bụa và hai người Cô chuyên nghề may vá , thêu thùa đủ để nuôi sống Anh Em chúng tôi gồm ba trai và hai gái ( Sau này Em gái Tôi là Lâm ngọc Nhan đă mua lại căn nhà số 8 từ Cô Ba tôi ) . Cha Tôi vốn là công chức của Ty Trưởng Tiền c̣n gọi là Lục Lộ sau đổi tên là Ty Công Chánh v́ lâm bạo bệnh nên từ giă cỏi đời rất sớm để lại Người vợ trẻ ( Mẹ Tôi vừa đúng 34 tuổi ) và năm con dại ( Anh tôi lớn nhất 11 tuổi và Tôi th́ 9 tuổi ) . Các Cô Tôi tin dị đoan và bói toán nên thường  nói hai con ngựa không thể ở chung một chuồng lâu dài ( Ba Mẹ Tôi cùng tuổi NGỌ ) . Sau khi Cha tôi qua đời , Mẹ tôi được sự giúp đở , giới thiệu của quư vị Trưởng Ty quen biết đặc biệt là Bác Nguyễn gia Tiêu ( Ty Kiến Thiết , Cha của Chị Hà , Anh Hảo và bạn học Hoa và em  gái là Hạnh ) và Bác Ánh ( Trưởng Ty Trường Tiền Chủ Sở của Cha Tôi ) nên Mẹ Tôi được các Trường Trung Học Công Lập và Tư Thục Sóc Trăng , Khánh Hưng thuê mướn , hơp đồng với mức lương công nhật , phụ trách dạy môn Nữ Công , Gia Chánh cho các Nử Sinh từ Đệ Thất đến Đệ Nhị ( Ngoại trừ Trường Trần Văn ).Từ đó Mẹ tôi có tên gọi là Cô Năm Bửu ( tên Cha Tôi ) và nhờ thế Mẹ Tôi mới có lợi tức để nuôi Anh Em chúng tôi với sự phụ giúp của các Cô Tôi . Bên cạnh việc dạy học Mẹ Tôi c̣n có những sinh hoạt liên quan đến các vấn đề học đường , xă hội , đoàn thể như lễ lộc , hội hè trong các chương tŕnh phát triển của Tỉnh Sóc Trăng Ba Xuyên . Mẹ Tôi luôn được các vị phu nhân Tỉnh Trưởng , Phó Tỉnh Trưởng giao phó và cáng đáng  các công việc phù hợp với nghề nghiệp của Bà . Các vị Hiệu Trưởng sau đây cũng đă dành t́nh căm , trợ giúp cho Mẹ Tôi khi Bà cần thiết .
     Thầy Hiệu Trưởng Mai văn Kiêm , Bùi văn Nên , Trần cảnh Xuân , thầy Răng  ,  thầy Mậu v…v . Mẹ tôi rời  các Trường sau ngày 30 / 04 /1975 . Năm 1982 Bà vượt biên cùng gia đ́nh Chú Chín Tôi và định cư ở Mỹ kể từ năm 1984 sống tại Thành Phố San Jose với gia đ́nh Em gái Tôi . Mẹ Tôi đă thất lộc Năm 2003 tại ViệtNam .
     Những kỹ niệm về Quê Hương nơi chôn nhau , cắt rún để lại cho ta nhiều dấu ấn thương nhớ nhất , đấy là cái thời : Nhất Quỹ , Nh́ Ma , Thứ Ba : Học Tṛ . Trong mỗi chúng ta có lẽ không ai không biết bài văn xuôi rất học tṛ của nhà văn Thanh Tịnh : “ Hằng năm cứ vào cưối Thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc , ḷng tôi lại nao nức những kỹ niệm hoang mang của buổi tựu trường . Tôi quên thế nào được…
     Sau những năm mài đủng quần ở các lớp Tiểu Học tại Trường Huấn Luyện  gần Chùa Bà Vệ  đường đi Bố Thảo  . Chúng tôi được may mắn không phải theo học Lớp Tiếp Liên ( Lớp chuyển tiếp để lên học bậc Trung Học  ) v́ Chánh Phủ muốn cải tiến chương tŕnh học 12 Năm như các nước Âu Mỹ .
     Chúng tôi được ghi danh ( không phải thi tuyển ) nhập học vào Trường Trung Học Công Lập đầu tiên của Tỉnh Lỵ Khánh Hưng với tên gọi là : Trung học Công Lập Khánh Hưng  ( Năm 1961 mới đổi tên là Trung Học Hoàng Diệu ) . Vào lúc bấy giờ Trường chỉ có 3 Lớp Đệ Thất với tên gọi  : Lớp A , Lớp B và Lớp C để phân biệt chứ không phải là Ban A  , B , C như sau này . Vị Hiệu Trưởng đầu tiên là Thầy Mai văn Kiêm cùng các Thầy sau đây mà chúng tôi c̣n nhớ : Thầy Trương văn Cừ dạy môn Việt Văn , Sử Kư , Thầy Nguyễn thái Sơn dạy môn Công Dân , Địa Lư , Thầy Đinh văn Triển dạy môn Anh Văn , Vật Lư , Thầy Nguyễn trường An dạy môn Pháp văn , Thầy Nguyễn phấn Phát dạy môn Vạn Vật , Thầy Tiêu kiêm Phiêu dạy môn Vẽ , Thủ Công , Thầy Mai xuân Tường dạy môn Thể Thao ( Thầy Tường có 3 con gái tên là : Phương , Dung , Duyên . Nhà ở số 2 Hàm Nghi . Cô Phương sau này học cùng lớp với chúng tôi ở Ban A năm Đệ Tam , Đệ Nhị và Đệ Nhất ).Riêng Ban Giám Hiệu Tôi c̣n nhớ Thầy Tô hạt Châu là Giám Thị , Thầy Xuân là Thơ Kư . Ở đây Tôi chỉ kể những vị giáo sư ở giai đoạn chuyển tiếp để lên bậc Trung Học đánh dấu sự trưởng thành của chúng tôi .
     V́ là Trường Trung Học Công Lập đầu tiên của Tỉnh nên mặc dù Trường được xây dựng trên khu đất bỏ hoang lâu đời với các ruộng rau muống , ao nước đầy bèo , hoa sen , cỏ dại ở phía sau Trường . Chúng tôi có sự hảnh diện và khoái chí của một học sinh đi học không phài đóng tiền học phí . Trong thời gian này chúng tôi phải học 2 buổi :  Sáng và Chiều nên các Bạn học ở xa đều phải mang theo cơm trưa để ăn tại Trường , chúng tôi thựng hay chơi nghịch lén lấy cơm của các Bạn đó mang dấu đến giờ nghĩ trưa ra điều kiện chuộc lại khi th́ một vắt đá bào có si-rô đỏ hoặc một trái ổi ngâm cam thảo v.v…( khoảng 50 Xu vào năm 1957 ) . Các Bạn thường mang cơm theo Tôi c̣n nhớ tên là : Thái ngọc Cường , Huỳnh tấn Đắc , Mai văn Khâm v.v… Từ bậc Tiểu Học bước qua Trung Học cho đến măi sau này trải qua bao biến cố , thay đổi của cuộc đời , chúng tôi những bạn học đă cùng trải qua một thời thư sinh áo trắng và sau đó kẻ khoác áo chinh nhân , người trở thành thầy dạy học lại nơi chính Ngôi Trường cũ đă để lại cho chúng tôi không biết bao nhiêu là kỹ niệm thuơng mến , ngọt ngào  miên viển . Lúc bấy giờ lũ nhóc chúng tôi gồm có năm tên mà “đầu đảng ” là Thái văn Hợp  kế đó là Tôi , Lợi minh Hà , Tăng quang Duyên , Trân văn Gấm (  Hợp về sau lập gia đ́nh với Chị Phùng thị Huệ học cùng lớp với Tôi , bị thương mất cả 2 mắt; Hà trở thành Giáo Sư Hoàng Diệu ; Duyên nuôi mộng là đại thi văn sỉ nhưng mộng không thành nên cứ măi ngồi ngâm thơ : “ Em ơi nếu mộng không thành th́ sao ? Gấm trở thành dược sĩ ). Sau nầy có thêm Tăng hoàn Vũ ( con tiệm thuốc Tây Hoàn Vũ ) . Chúng tôi thường hay tụ tập ở nhà của Hợp sau khi học xong bài vở (  ngay ngă tư đường Phan chu Trinh và Ngô Quyền , đối diện với tiệm bán lạp xưởng Quảng Trân , đây là nhà của Ông Tư Cảnh mà Hợp gọi là Cậu Tư ) . Chúng tôi chỉ ngồi “ tán dóc ” hoặc “ thỉnh thoảng ” cùng nhau gom giấy báo cũ đem bán cho ve chai  lấy tiền mua tép về làm nhúng giấm và bắt chước người lớn mua xá xị pha với rượu đế cùng nhau uống ( sau này tuyệt đối Tôi không uống rượu , bia ). Chúng tôi cũng thường lén lút đi vào quán cà phê Kinh Đô uống   phê nghe các bản nhạc : Nửa đêm ngoài phố , Những bước chân âm thầm  , Quán nửa khuya , Biệt kinh kỳ , Sương lạnh chiều Đông , Chuyến đi về sáng  v.v..  ( thời gian này là lúc chúng tôi đang học năm cuối của Trung học Đệ nhất cấp ( Đệ Tứ ) tất cả chúng tôi  đều đủ điểm để lên lớp Đệ Tam . Đây là năm học “ lè phè ” nhứt v́ chẳng phải lo việc thi cử cho nên chúng tôi thường có cơ hội “ tụ họp ” bàn chuyện “ người lớn ” đặc biệt thường hay nói về ư định sau này của mỗi người . “ Tao sẽ t́nh nguyện đi lính ” đó là câu nói mà Tôi thường hay nói khi ngồi tán dóc với các Bạn . Hợp cũng không chịu kém “ tao đi Không Quân ” Tôi thuận miệng nói luôn : vậy th́ thằng Hà mày đi Hải Quân có ǵ tao gọi tụi mày đến cứư tao ” ( ảnh hưởng bởi mấy phim chiến tranh  và cao bồi mà chúng tôi hay di xem ở rạp chiếu bóng Dân Ta sau này đổi tên là rạp Nhị Trưng ) riêng Duyên và Gấm th́ không có ư thích gia nhập quân đội . Thời gian trôi qua chúng tôi lần lượt đậu Tú Tài 1 ( Hà và Gấm đậu ngay kỳ thi 1)  Tôi đậu kỳ 2 . Riêng Hợp và Duyên th́ rớt phải học lại lớp Đệ Nhị ( 1963 ). Sau đó cũng thi đậu dược Tú Tài 1 theo học lớp Đệ Nhứt .
     Thời điểm cuối năm 1963, tôi bỏ Trường ngày 28 tháng 12 năm 1963 t́nh nguyện gia nhập Khóa 17 Sỉ Quan Trử Bị Thủ Đức . Riêng Hợp th́ gia nhập vào Quân Chủng Không Quân năm 1965 . Trong số bạn bè chơi với nhau chỉ có Tôi và Hợp là thân nhứt với nhiều kỹ niệm sâu sắc khó quên , từ thời học sinh đến đời lính chiến và cả sau này khi đă “đổi đời”. Năm 1965 Thái văn Hợp gia nhập Khóa 65 F Không Quân với chuyên ngành là phi công lái phi cơ chiến đấu Skyraider . Hợp được gởi đi huấn luyện ở Mỹ , một thời gian sau bị trả về do diểm thi lái  không đạt yêu cầu . Khi trở về lại Việt Nam Hợp được đưa vào Trường Bộ Binh Thủ Đức Khóa 27. Sau đó Hợp tốt nghiệp ra Trường về Binh Chủng Thiết giáp và thuyên chuyển ra ở Đà Nẳng . Chính trong thời gian nầy tôi và Hợp có dịp gặp nhau sau bao năm cách biệt (1963-1970 ) khi Hợp biết Tôi đang ở Mai Lộc quận Cam Lộ, Hợp cùng tài xế chạy xe từ Đà Nẳng ra Quảng Trị vào Đông Hà xong theo quốc lộ 9 chạy về hướng Khe Sanh khoảng  nửa đường th́ có con đường đất nhỏ dẩn vào Làng Mai Lộc . Bạn bè cũ gặp nhau nơi chốn hành quân, tôi nằm trên cái băng ca dành để tải thương c̣n Hợp th́ nằm trên vơng  , chúng tôi thức cả đêm tṛ truyện với 2 bi đông cà phê đă được các đệ tử của tôi chuẩn bị sẳn từ chiểu , mọi kỹ niệm , mọi khuôn mặt cũ của bạn bè quen biết được nhắc nhở trong tiếc nối , pha lẩn chút bùi ngùi khi nhớ về một thuở áo trắng học tṛ với những vụng dại , dễ thương , dễ ghét . Phải công nhận Hợp có một trí nhớ rất tốt .
     Chuyện Thầy Cừ trừ điểm thi của Hợp ( xảy ra khi chúng tôi học Lớp Nhất năm 1956 ) khi Hợp ngồi ở bàn sau lưng tôi lấy con dế bắt được cho cắn vào cổ tôi , trong lúc bất ngờ tôi la toáng lên làm mất sự yên tịnh trong lớp . Thầy Cừ bắt Tôi đứng lên và hỏi lư do Tôi phải nói sự thật nên Hợp bị Thầy trừ điểm thi với câu ghi chú “ Tṛ Hợp lấy con dế cắn cổ tṛ Thạnh làm mất trật tự trong lớp nên tṛ Hợp bị trừ điểm ” .  Trong đám bạn chỉ có Hợp là người duy nhứt c̣n nhớ đến Cô “ Trần Kim Y…” ( nhà ở đường Thủ khoa Huân , đối diện với nhà Cô Du mỹ Hoa và Cô Du mỹ Ngọc ,  Lợi minh Hà gọi bằng Cô nên chúng tôi  cũng gọi là Cô luôn ) một đối tượng mà “ thuở ấy cây si Anh trồng trên lối đi ” tiếc thay chẳng những không được một chút ơn mưa móc nào Tôi c̣n bị Mẹ tôi  “ la rầy một trận tới bến luôn ” khi Mẹ tôi nhận được thư mắng vốn từ Cha cô với lư do “ con trai của Chị làm ǵ mà cứ theo dỏi con gái tôi hoài ”. Khi nhắc lại chuyện nầy Tôi mới kể cho Hợp nghe : tháng 10 Năm 1964 khi măn Khóa và có được 10 ngày  phép trước khi ra tŕnh diện đơn vị trú đóng tại Sà́ G̣n . Tôi trở về Sóc Trăng thăm 2 Cô cùng Mẹ và các em của Tôi . Ngày cuối cùng trước khi rời Sóc Trăng , trong bộ quân phục sóng biển rằn ri mới toanh và mũ bê rê màu xanh  lá cây , khiến tôi trở nên rất “ngầu” và “dử tợn” . Tôi  mới đứng  “canh me” chờ Cô Y .. đi học về ngang trước cứa sân quần vợt (đường Phan bội Châu ) . Lẽ dỉ nhiên lúc này th́ t́nh h́nh đă đổi khác và với chiến thuật đánh nhanh , rút mau tôi đă được nghe câu nói “mát ruột” : Y … đâu có ghét Anh tại Ba Y…viết thư gởi cho Má Anh v…v…. Nhân câu chuyện tôi kể Hợp mới cho Tôi biết Cô Y… đă qua đời rất sớm v́ bạo bệnh .  Sáng hôm sau chúng tôi chia tay , Hợp trở về lại đơn vị , để lại trong Tôi nhửng xúc căm bùi ngùi , vương vấn cho một t́nh bạn vuông tṛn , đậm đà . Mùa Hè 1972 Hợp không may bị thương nặng , mất cả 2 mắt. Thế là giă từ vũ khí ở số tuổi chưa đến 30 . Phần Tôi th́ vẫn tiếp tục miệt mài trên khắp nẻo đường của đất nước.
     Năm 1987 sau khi được xă chế, Tôi xin di chuyển về Sóc Trăng . Thủ tục giấy tờ cũng lắm nhiêu khê , rắc rối nhưng rồi cũng có được Giấy Chứng Nhận cho trở về lại nguyên quán. Sau bao năm xa rời Sóc Trăng, h́nh ảnh đầu tiên mà Tôi ghi nhận được khi đi vào Thị Xă là  con sông chăy ngang qua Cầu Quây với những đám lục b́nh tửng măng lớn , lặng lờ trôi theo ḍng nước đổ tuông ra hướng biển vẫn như ngày nào của tuổi c̣n thơ ấu . Trong đầu óc Tôi đă nghĩ đến một “chuyến ra khơi” trong tương lai . Ngôi nhà số 8 Hàm Nghi Sóc Trăng  vẩn giữ nguyên trạng h́nh hài xưa cũ  như ngày Tôi bỏ Trường Lớp ra đi với những hoài bảo , ước mơ đầy ấp của tuổi chập chửng vào đời có máu , mồ hôi và nước mắt của chính ḿnh . Trong giọt lệ mừng tủi của Má Hai , Má Tư tôi ( Chị ruột của Cha tôi v́ không có lập gia đ́nh nên xem anh, em chúng tôi như con , nhứt là khi Cha tôi qua đời quá sớm và chúng tôi c̣n rất nhỏ .  Cũng vào thởi điểm này Mẹ tôi đă vượt biên thành công  1982 vả đang sinh sống với em gái tôi ( vượt biên năm 1979 )  tại Thành Phố San Jose Bắc California ) cùng các lời thăm hỏi của bà con lối xóm những người đă từng biết Tôi khi c̣n nhỏ khiến cho Tôi căm thấy ấm ḷng và biết thế nào là t́nh tự quê hương . Bao nhiêu nghiệt ngă cay đắng , ê chề đau xót giờ đây đă tan biến . Tôi tự nhủ với chính ḿnh : “ Đường đi không khó v́ ngăn sông cách núi mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông ”.
     Khi đi xin đăng kư tạm trú cũng đă có những khó khăn nhất định của buổi ban đầu dành cho “ kẻ ở miển xa ” như Tôi. Một lần nửa Tôi phải vấn kế bạn hiền là tên đầu đảng thời học tṛ Thái văn Hợp . Hiện nay Hợp đang là một ông thầy châm cứu trị bệnh cho bá tánh rất mát tay và nổi tiếng   chợ Sóc Trăng . Hợp phán một câu “ chuyện nhỏ ”.  Một tuần sau Tôi trở thành chuyên viên pha chế cà phê . Sau một thời gian nghề dạy nghề hàng cà phê của chúng tôi ngày càng đông khách , mỗi buổi sáng khách đến uông cà phê đông đến nổi phải kê thêm bàn ở phía ngoài ngay lối đi của khách bộ hành . Rồi th́ từ đó qua sự xă giao hàng ngày với khách hàng nên mọi chuyện trở nên dễ dàng và dễ thở hơn . Nhân đây xin trân trọng đa tạ những t́nh căm tốt đẹp và những giúp đỡ thiết thực của tất cả các bạn bè đă dành cho Tôi trong giai đoạn mang nhiều nghi kỵ và phân biệt . Cuối cùng Tôi cũng được cho vào thường trú của chính căn nhà của ḿnh ở số 8 Đường Hàm Nghi Sóc Trăng. Nhờ thế  khi hay tin có chương tŕnh định cư Tôi đă không ngần ngại hay lo sợ đă xúc tiến và nạp hồ sơ ngay ở Tỉnh Cần Thơ. Tôi nhận được giấy báo cho biết Tôi ở vào danh sách HO10. Tôi rời ViệtNam ngày 12 tháng 12 năm 1991 và đoàn tụ cùng Mẹ và Em gái tôi vào ngày 19 tháng 12 năm 1991 .
     Trước khi chấm dứt đôi gịng tản mạn nầy Tôi xin kính cẩn nghiêng ḿnh tưởng nhớ các Bạn đồng môn Hoàng Diệu sau đây mà tôi biết được đă không c̣n nữa:
Huỳnh tấn Đắt, Nguyễn tấn Kế, Nguyễn hải Vinh ( con Thầy Lang ), Trần tường Vân, Trần Thái, Trần Khương, Trần ngọc Hải, Trần kiều Hiền.
     Có thể c̣n nhiều Bạn Đồng Môn khác cũng đă bỏ ḿnh: Xin góp lời cầu nguyện và tưởng nhớ đến những người đă hy sinh.

Lâm tài Thạnh
(Học Sinh Hoàng Diệu 1957-1963)
Mùa Thu 2007
San Jose - California



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved