www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Chuyến Tàu Định Mệnh

Thuyền Nhân

     Khi tôi xuống bến Ninh Kiều, trời đổ mưa lất phất. Tôi lang thang gần một ngày trong thành phố Cần Thơ không có người quen. Cô bạn học của tôi và những người phụ nữ khác được tập trung thành một nhóm nhỏ, ngồi gần chợ. Tôi được người chủ ghe giao cho cầm một con vịt, cột hai chân chúc ngược lại, để giả làm người đi mua sắm cuối cùng trong chiều ba mươi tết.
     Tôi đi loanh quanh một ḿnh v́ không dám đứng lâu một chỗ nào. Ngày cuối năm nhưng phố xá không tấp nập như ở Sài G̣n, trừ khu vực gần chợ. Trên những con đường tản ra xa, có nhiều cây cối, những người đi xe đạp, đi bộ lác đác, vội vă, để kịp về chuẩn bị bữa cơm tất niên với gia đ́nh. Trước đó, cô bạn dúi vào tay tôi tờ giấy bạc mười đồng, vào thời đó chỉ đủ để mua một ổ bánh ḿ có nhân thịt và một ly cà phê. Tôi không dám tiêu v́ không biết sẽ xa nàng bao lâu, tối nay sẽ ngủ lại ở đâu. Người chủ ghe có hẹn tất cả sẽ tập hợp tại chợ lúc năm giờ chiều để chuẩn bị xuống taxi, tiếng lóng để chỉ những chiếc ghe nhỏ. Nhưng trong những chuyện mạo hiểm như thế này, tuy tôi không có kinh nghiệm đi vượt biên lần nào, cũng lờ mờ đoán ra rằng mọi chuyện đều có thể thay đổi vào phút chót. Cần Thơ đẹp và thơ mộng, mặc dù sau ngày ba mươi tháng tư, phố xá không được xây dựng thêm, những mái nhà, vách tường úa màu, rêu phong, vôi gạch cũ. Chúng tôi quen nhau được hai năm, nhưng chưa có ư định lập gia đ́nh. Trong những ngày tháng đó của đời tôi, mọi thứ đều lờ mờ như bầu trời sau khung cửa kính phủ một màn sương mỏng. Một thế hệ quá tất bật với đời sống hiện tại, mất hết ḷng tự tin, và không có nhiều mơ ước cho tương lai.
     Tôi đến nhà báo cho cô bạn học biết tôi sẽ ra đi, lấy hết can đảm để chuẩn bị hứng chịu một trận mưa khóc lóc sầu muộn của nàng. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy nàng b́nh tĩnh, và rất nhanh, gần như trong chớp mắt, nàng quyết định chắc chắn rằng nàng sẽ đi theo tôi. Đó là điều bất ngờ ngoài dự định, nhưng biết rơ cá tính của cô gái ngoài hai mươi tuổi này, tôi liền bỏ ư định thuyết phục nàng ở lại. Trước đó tôi đă bán đi cái gia tài vỏn vẹn duy nhất của ḿnh là chiếc xe Honda màu đen đời 67, cũng chỉ đủ tiền chung cho một chỗ ngồi trên chiếc ghe nào đó mà tôi chưa hề h́nh dung ra là nó có h́nh dáng, dài ngắn, rộng hẹp ra sao. C̣n nàng th́ gom góp hết đồ nữ trang và tôi năn nỉ người tổ chức đường dây, được ông ta đồng ư vào phút chót. Hai đứa trốn nhà ra đi, không ai biết từ hai hôm nay. Năm giờ sáng trên bến xe miền Tây từ Sài G̣n về Cần Thơ, không khí mát mẻ, trong khi dưới những chiếc lều nhỏ, những người bán quán đă tới bày hàng ra la liệt.
     Tôi ở Sài G̣n mấy năm nhưng chưa có dịp về miền Tây. Sau hai lần đổi tiền và những vụ đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp miền Nam, cuộc sống của người dân mỗi lúc một khó khăn, bi đát. Đường phố Sài G̣n ngày càng vắng, xe cộ thưa thớt, những gia đ́nh không có thế lực và quen biết th́ từng đợt dọn đi vùng kinh tế mới ở các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Lâm Đồng và các vùng rừng núi để khai hoang, sống lần ṃn. Họ phải phá rừng, chặt hết các gỗ làm củi và trồng những rừng sắn bạt ngàn trên các nương đồi. Sau tháng Tư đen, đây là nạn phá rừng rất lớn làm bào ṃn các vùng đất phủ, gây ra nhiều lụt lội thiên tai. Những người ở lại Sài G̣n tranh nhau vào các biên chế nhà nước để có hộ khẩu và lương thực phân phối theo tiêu chuẩn bóp bụng. Tốt nghiệp đại học sư phạm, nàng về làm việc ở một quận ngoại ô Sài G̣n thuộc vùng Bến Lức. Tiêu chuẩn của nàng hồi đó gồm mười lăm kư gạo có độn khoai ḿ, đôi khi thay bằng ḿ sợi và mấy lạng thịt, đôi khi thay bằng cá hay cua đồng. Có lần cuối tháng nàng được phân phối một con cá lóc thay cho tiêu chuẩn thịt. Nàng gói nó trong một cái túi bằng ni lông và lá chuối, và cột vụng về vào cái yên sau của chiếc xe đạp. Dĩ nhiên là trên đường về, con cá đủ thông minh để quẫy ra khỏi xe nàng, tách một cái, nó nhảy xuống ruộng. Nàng chỉ biết ngồi khóc. Đó là lần đầu tiên tôi gặp lại nàng sau bốn năm từ khi chia tay ở lớp cuối trường trung học.
     Tôi ngồi uống ly cà phê đá trong một quán nhỏ, nh́n mưa rơi tí tách ngoài hiên. Một cô gái dừng xe đạp ở cửa, vào quán nước ngồi bên bàn đối diện. Cô người cao và gầy, có khuôn mặt thông minh, tóc cột bím ngang vai, dáng như một sinh viên. Tôi để ư trên ngực cô có huy hiệu lá cờ của đoàn Thanh niên. Mặt cô nghiêm, lạnh lùng y hệt như các cán bộ đoàn thể hay nhà nước vào thời đó. Bốn mắt gặp nhau nhưng cô không cười. Tôi chột dạ, đứng dậy đi ra ngoài, nhưng lại tiếc ly cà phê đang uống giữa chừng. Tôi biết đây là ly cà phê cuối cùng ở Việt Nam. Một lát sau cô đứng dậy đi qua trước mặt tôi, nói rất nhỏ, ‘anh dân Sài G̣n phải không? Uống nước lẹ lên rồi đi.’ Sau này nghĩ lại, tôi không biết cô đă dựa vào điều ǵ mà chắc chắn như vậy, và tại sao cô lại tử tế với tôi. Nhưng nghe đến đó là tôi phải dọt cho lẹ, không quên xách theo con vịt của ḿnh.
     Tôi đứng trên bến sông suốt buổi chiều, cho đến khi mưa đă tạnh. Trên mặt sông xa xa, những ánh đèn chài lập ḷe, bên kia sông xa hút tầm mắt là những làng mạc tối đen, im ĺm. Trong cảm giác yên tĩnh khác thường, tôi nghe vọng ra từ một căn nhà tiếng nhạc phát đi từ đài truyền h́nh trung ương. Tôi ṭ ṃ bước lại gần, qua cửa sổ, trên màn h́nh tivi trắng đen nhỏ, tôi thấy người đứng đầu chính phủ đang đọc bài diễn văn mừng xuân. Đây là một đêm ba mươi Tết lạ thường đối với tôi. Cảm giác mùa xuân về phơi phới trong trời đất, nhưng ḷng người lặng lẽ, u ám, gây ra một tâm trạng lẫn lộn, mơ hồ khó tả, nửa buồn nửa vui, lâng lâng nghẹn ngào.
     Tiếng ca vọng cổ vọng lại từ một quán nước bên đường, tuy lời buồn năo ruột, nhưng giọng có lẫn chút tinh nghịch của người hát, có lẽ là một cô bé nhỏ tuổi, làm tôi nhớ lại sáng hôm nay khi qua phà Cần Thơ, đứng bên chiếc xe đ̣ lắng nghe một ông lăo mù, với đứa cháu gái dắt tay, vừa gảy đàn vừa hát bài Dạ cổ hoài lang, khiến tôi đi qua rồi c̣n quay lại đặt những đồng tiền nhàu nát cuối cùng vào chiếc mũ lác để ngửa. Tôi vừa đi lại trên phà vừa nhai trái bắp non mua trên bến “bắc” Cần Thơ. Tôi chưa bao giờ được ăn một trái bắp ngon như vậy. Tôi chưa kịp ăn đến trái thứ hai th́ phà cập bến, tôi vội nhét nó vào chiếc giỏ xách, định có dịp sẽ ăn tiếp. Bây giờ đứng trên bến Ninh Kiều, bụng đói lả, tôi thèm bắp lạ lùng, và như ngửi được mùi thơm ngát của nồi bắp luộc mới mang từ trên bếp xuống của mẹ tôi ngày xưa, trong một buổi chiều mùa xuân trời mưa lất phất trên mặt sông, trên những cánh đồng bắp xanh bạt ngàn dọc bờ sông ven làng tôi. Ở đó, có cái cḥi canh nương rất cao mà những ngày nghỉ, tôi thường cùng lũ bạn t́m cách trèo lên để làm những tṛ tinh nghịch của tụi trẻ con hay nh́n về phía chân trời xa lắc, mơ hồ thấy thời gian trôi đi như một bàn tay êm dịu lướt qua trên trán khi người ta nửa mê nửa tỉnh trong một cơn sốt, váng vất những đám mây mù từ xa tiến lại, vừa hào hứng vừa ẩm ướt đầy dông tố.
     Náng ngồi đợi tôi trong một góc tối khi tôi được người ta dẫn vào một ngôi nhà gạch. Trên bậc cửa thấp, đầy những gói hành lư nhỏ của những người cùng đoàn. Trong căn pḥng nhỏ chật hơi người, nồng mùi mồ hôi, ai cũng im lặng làm tiếng muỗi kêu vo ve nghe rất rơ. Nàng đưa tay về phía tôi, trong bóng tối, một khoảng da trắng nơn. Nàng mặc chiếc áo lụa màu xanh dương bó sát người, trên cổ tay có chiếc ṿng cẩm thạch màu xanh thiên lư. Tôi ngồi xuống bên cạnh nàng, lấy tay bóp nhè nhẹ bàn tay của nàng ẩm rịn mồ hôi. Thời gian trôi chậm chạp, bên ngoài trời tối mịt, đúng là đen như đêm ba mươi. Tiếng pháo nổ đ́ đùng xa xa báo hiệu sắp giao thừa. Một nỗi sợ hăi mơ hồ dâng lên. Những người đi vượt biên thường bị mất của, bị lừa đảo, bị bắt, tù tội, ai cũng biết, chỉ những kẻ may mắn lắm mới lọt qua tấm lưới số phận mà ngay cả những chuyến đi được tổ chức chu đáo, chủ thuyền đă mua hết bến băi, vẫn cứ dính bẫy.
     Một lát sau có tiếng chân lịch kịch ở cửa, chưa ai kịp biết điều ǵ xảy ra, th́ một họng súng đă chĩa vào. Người thanh niên có vẻ là du kích, mặt nh́n không rơ dưới vành mũ tai bèo, cất giọng ra lệnh. Hú hồn, th́ ra đây là người dẫn đường trong toán du kích đă bán băi cho thuyền vượt biên đêm nay. Tôi xuống một chiếc xuồng nhỏ, kiểu xuồng ba lá ở miền Nam, mạn thuyền lúp xúp nước, chỉ chở hai người khách không kể người lái. Một người đàn ông nhảy xuống sau lưng tôi, thành ra nàng bị bỏ lại trên bờ chờ đi một chiếc xuồng khác. Tôi lúng túng phản đối, sau một lát, người đàn ông đồng ư đổi chỗ cho cô bạn tôi. Vậy là trên chiếc xuồng chỉ có tôi và nàng. Người lái xuồng là một người phụ nữ khoảng năm mươi tuổi, gầy, rắn rỏi, lia mái chèo thoăn thoắt đưa chúng tôi qua sông. Gió đêm thổi rờn rợn trên mặt sông khuya. Sóng vỗ ́ ọp mạn thuyền, nước bắn lên ướt cả áo. Tôi nắm chặt tay nàng, hồi hộp. Tôi biết nàng không biết bơi. Qua được ba phần tư sông, gió thổi mạnh, sóng lên cao, hắt nước vào đầy khoang xuồng, làm nó lật úp lại.
     Cô bạn tôi mang theo rất nhiều túi xách, chứa thức ăn để khô, sữa, bơ, đường thỏi, lương khô, một ít thuốc men và mấy bộ quần áo, là những thứ mà người vượt biển cần mang theo, nhất là thuốc say sóng. Nhiều thiếu nữ miền Nam vào giai đoạn đó thường chuẩn bị sẵn một thứ thuốc để trong nhà, cất kỹ, người ngoài không biết, đó là thuốc ngừa thai. Các chuyến hải hành trên biển thường gặp cướp biển vùng vịnh Thái Lan và trên biển Đông. Đây là một sự thật đau ḷng. Lúc chuẩn bị hành lư, tôi có nhắc khéo với nàng về chuyện này để nàng mang theo thuốc, nhưng nàng gạt đi, cho đó là điều tủi nhục. Trong gói hành lư của nàng c̣n có một cây thuốc lá có đầu lọc mà tôi mua vội vàng ở bến xe, có lẽ là tài sản mà tôi quư nhất.
     Tất cả ch́m hết xuống sông. Tôi nghe tiếng nàng hoảng hốt la gọi, và người lái xuồng lên tiếng trấn an, nhưng chúng tôi thật sự đă rơi xuống sông, ướt hết áo quần, mất dép. Tôi cũng mất luôn chiếc kính cận. Lặn hụp một hồi, tôi nắm được tay cô bạn, kéo nàng lên vai và ra sức bơi vào bờ. Đêm cuối năm, nước rất lạnh, sóng lớn. Tôi vốn là một tay bơi khá, nhưng đuối sức nhanh, có lẽ v́ bất ngờ hay hoảng sợ. Trong một tít tắc đồng hồ, tôi chợt nhớ đến mặt nước sông Nhị Hà đỏ ngầu phù sa mưa lũ trong truyện ngắn nổi tiếng Anh phải sống của Khái Hưng. Ngực tôi đau nhói, trái tim siết lại, tôi không nhớ người lái xuồng đă bơi đi đâu, chỉ biết rằng giữa sóng to gió lớn chỉ có hai chúng tôi.
     Cô bạn tôi đă uống nhiều nước, và trên vai tôi nàng trở nên rất nặng. Bơi được thêm một khoảng xa, điều tôi sợ nhất xảy ra, chân tôi bắt đầu bị chuột rút. Ngày c̣n bé, do bơi lội nhiều trên sông, tôi đă biết cảm giác này. Nhà tôi ở ven sông cách trường học bên kia tỉnh lỵ một chuyến đ̣ ngang. Mẹ tôi thường cho tôi một đồng xu kẽm, h́nh như là năm đồng, đủ để trả tiền qua đ̣. Những buổi trưa trời nắng gắt, nước không sâu, có thể nh́n thấy cát ở dưới đáy.
     Sau này tôi không nghĩ ra, khi so với những ḍng sông bây giờ, tại sao hồi đó nước sông quê tôi lại trong đến vậy, và cát th́ màu vàng óng ả. Những người dân quê khi thong thả hết việc đồng áng thường dùng một chiếc cào nhỏ để xúc cát ở đáy sông, bắt được nhiều hến và lươn, khi lặn xuống tôi cũng hay gặp những đàn cá ung dung dạo chơi. Buổi trưa đi học về, tôi bèn nghĩ ra một cách là lấy số tiền mẹ cho để trả tiền đ̣, mua một cây kem vừa đi vừa mút trên đường, xong, thay v́ qua đ̣, tôi cởi hết áo quần ra bỏ vào mũ và bơi qua sông. Tôi lấy làm lạ rằng thời đó một đứa con trai chín mười tuổi mà vẫn chạy trần truồng trên băi cát lại không đến nỗi là điều mất khiếm nhă, và không bị ai để ư.
     Trong một lần, tôi đă bị chuột rút và ch́m hẳn. Tôi tỉnh lại trên mạn thuyền của một người đánh cá, thấy đói bụng lạ lùng. Mùi canh mướp sôi chín tới xông lên thơm ngạt mũi. Tôi thấy một cô bé trạc bảy tám tuổi ngồi ở đầu thuyền đang thổi lửa bằng cái ống tre lồ ô dài. Áo quần tôi th́ được ai đó phơi khô trên khoang thuyền. Đó là một trong những t́nh bạn thơ ấu đầu đời mà tôi nhớ nhất. Trên sông, khi bị chuột rút, chết là cái chắc. Hai đứa từ từ ch́m xuống và miệng tôi đă sặc nước mấy lần, bổng nhiên có những cánh tay kéo tôi và cô bạn lên những chiếc đ̣ khác. Một chiếc đ̣ dọc đi ngang đă vớt chúng tôi, tôi nghe tiếng người nói lao xao. H́nh như họ bàn nhau đem chúng tôi đến đồn công an. Nhưng sau đó có người gạt đi và bảo đưa chúng tôi vào bờ.
     Tôi và nàng tỉnh dậy trên băi cát, lấy lại sức, có thể gượng dậy để đi được. Lúc đó tôi mới thấy xung quanh ḿnh lố nhố những người khác, có một số người cũng đắm thuyền như tôi. Một lát sau, mọi người tập hợp lại và kéo vào làng, đi xuyên qua một con đường đầy sỏi cát, hai bên là những hàng tre nhỏ, miền Trung gọi là hóp, giao nhau trên đầu như những con đường ở làng quê tôi chạy dông dài qua những dăy đồi cát mịn, ở chỗ kết thúc th́ thu hẹp lại, tỏa bóng mát bằng cách giao cành vào nhau, ở đó có nhiều chim chóc, mà lũ nhóc chúng tôi thường đi săn và bắt tổ chim những ngày mùa hè. Đoàn người đi thành một hàng như duyệt binh. Tôi nhận ra đứng lầm ĺ hai bên đường là những người lính du kích mang súng tiểu liên ngang vai, chĩa ṇng vào chúng tôi. Tôi đếm ít nhất có mười lăm mười sáu họng súng như vậy mỗi phía. Và họ cũng đếm chúng tôi từng người. Tôi đoán là hai bên đă có thương lượng về con số những người đi qua băi của địa phương để xuống cá lớn, là tiếng lóng để chỉ các thuyền lớn đưa người ra đại dương. Sau khi đếm đủ số, tôi thấy một số người bị chặn lại phía sau, có thể là do hai bên chưa thỏa thuận giá cả, hoặc họ là những người nhảy đại xuống thuyền vào phút cuối, mà không đóng tiền cho chủ ghe, hồi đó thường hay xảy ra, gọi là ăn theo. Những người du kích vừa rút lui th́ tôi nghe tiếng la đồng loạt rất lớn từ những ngôi nhà chung quanh, rồi lửa sáng ở nhiều nơi, h́nh như có một nhóm người khác không được ăn chia, hoặc hai bên không cùng kế hoạch, đang t́m cách phá. Thế là hoảng loạn, mọi người thi nhau chạy.
     Tôi kéo tay cô bạn chạy trên một con đường mương nhỏ, vấp té nhiều lần, áo quần và da thịt bị cào rách nhiều chỗ. Một trong số những người dẫn đường chạy trước và năm bảy người bám theo anh ta. Đó là một người dẫn đường rất nhiệt t́nh, anh dẫn chúng tôi chạy một quăng đường rất dài, xuyên qua những xóm làng tối như mực, nằm khuất sau những tán lá dừa cao vút trong tiếng chó sủa xa xa và ánh đèn nhà ai mờ tỏ. Tôi thấy thèm lạ lùng một tổ ấm gia đ́nh trong đêm cuối năm. Cô bạn vừa chạy vừa khóc, nước mắt ướt sũng cả áo. Đến trước một cây cầu khỉ lắt lẻo, rất cao và dài, chỉ có một thanh gỗ mục duy nhất bắc ngang không có tay vịn, hoặc là tay vịn đă găy chỉ c̣n trơ những chiếc cột tre đâm lên trời. Cô bạn ngồi thụp xuống và nhất định không leo qua cầu. Trời lại đổ mưa. Nàng cầm tay tôi và nói ‘thôi anh đi đi’ và dúi vào tay tôi một gói nhỏ. Tôi nhận ra chiếc ṿng tay cẩm thạch màu thiên lư lúc nào cũng nằm trên tay nàng và một gói sâm Cao ly mà người đi vượt biển thường hay đem theo để ngậm trong những lúc kiệt sức. Tôi nhất định không chịu và d́u nàng qua cầu. Tôi biết nếu té xuống, nàng sẽ không đủ sức gượng dậy, và chúng tôi sẽ để lỡ cơ hội cuối cùng.
     Sau khi bỏ nhà ra đi ba ngày, chắc chắn công an khu vực sẽ đến làm việc với gia đ́nh và biết chúng tôi đă bỏ đi. Thời đó, chính quyền địa phương rất hăng hái trong việc xác nhận những người đi vượt biển, một phần v́ chế độ hộ khẩu hà khắc, một phần họ rất có lợi v́ có thể tịch thu nhà cửa của những người bỏ đi bất hợp pháp, hoặc dành chỗ làm việc ở cơ quan, hay chỗ trống về hộ khẩu, dùng cho việc mua bán đổi chác. Và nếu đi không thoát, khi trở về, chúng tôi có thể bị tù tội, mất hết công việc làm, cô bạn tôi sẽ làm lụy cho người thân. Tôi phải cố gắng hết sức ḿnh để mong được sống. Tôi nghe rơ tiếng cầu nguyện của nàng, v́ nàng là một người rất mộ đạo.
     Có một lúc tôi suưt rớt xuống cầu, nhưng may kịp vịn tay vào thành gỗ, lại đu người lên, và cuối cùng dẫn được nàng qua bên kia bờ. Người dẫn đường đă sang bên kia trước, v́ anh phải bắt kịp những toán khác, sợ trễ giờ lên thuyền lớn. Những người khác cũng lần lượt vừa đi vừa ḅ qua cầu. Đi được một quăng sau lưng người dẫn đường, tôi nghe tiếng người rơi tơm xuống con kênh nhưng không ai có thời giờ và can đảm để ngoái lại. Tiếng người kêu la từ dưới mặt sông vọng lên làm cho chúng tôi sợ hăi và càng chạy nhanh hơn. Cuối cùng cũng tới được bờ của con sông cái, chỗ tập hợp. Ngoài xa, một con tàu rất lớn, mạn thuyền cao sừng sững đứng đợi, in một vệt sẫm tối đen lên nền trời. Tôi đứng thừ người ra một lúc nh́n nó, cái bóng cao đen sẫm kỳ dị như một lời nguyền từ tương lai.
     Chúng tôi được thu xếp nằm dưới các bụi rậm và các gốc cây, chuẩn bị lên xuồng nhỏ ra thuyền lớn. Tôi lấy tay vuốt nhẹ mái tóc của nàng dính đầy bùn đất, chiếc trâm cài đầu của nàng đă bay mất hồi nào. Một vùng ngực của nàng nóng ấm đập nhẹ trên cánh tay tôi. Chúng tôi nằm sát xuống mặt đất, thoảng mùi cỏ và mùi cát mịn, lắng nghe tiếng vỗ ŕ rào của ḍng sông mênh mông. Tôi biết rằng đây là cái chạm tay cuối cùng của tôi lên mảnh đất thân yêu. Thời đó, những người ra đi không bao giờ nghĩ đến chuyện trở về. Tôi biết rằng rồi đây, nếu sống sót trên biển cả, và tới được bên kia bờ tự do, bước đi giữa những kinh thành rợp ánh sáng của châu Âu châu Mỹ, nếu có một ngày như thế, tôi sẽ nhớ điên cuồng giây phút này, nơi tôi đă sinh ra, đă lớn lên bằng một tuổi thơ đầy niềm vui, mơ ước, và cũng nhiều khói lửa chiến tranh, nghèo khổ, đă cùng bạn bè nuôi bao chí lớn thuở vào đời, nhưng cuối cùng biết ḿnh bất lực, đă sống những ngày tối tăm cùng dân tộc, nơi tôi sẽ không bao giờ quay lại. Một quê hương sau rặng núi mờ xa.
     Vài giờ sau, chúng tôi được đổ vào các xuồng nhỏ, bơi ra thuyền lớn. Đây là một chiếc thuyền đi biển có thể chứa được nhiều người với lương thực và nước uống, nghe nói đă được chuẩn bị từ trước. Người rất đông, chỉ một số ít là leo được lên mạn thuyền cao, c̣n phần lớn được người ở trên tàu kéo lên hoặc bị ném vào ḷng thuyền như người ta ném cá. Tôi cầm chặt tay nàng, vậy mà mấy lần hai đứa suưt lạc nhau trong bóng đêm và đám đông.
     Trẻ con kêu khóc ầm ĩ, tôi thấy có nhiều cụ già, một số người Hoa không nói được tiếng Việt, rất nhiều thanh niên và những thiếu nữ mười sáu mười bảy tuổi, hầu hết đi từ Sài G̣n. Ḷng thuyền ẩm ướt, rộng và sâu. Sau một hồi, mọi người đều tự t́m thấy được chỗ ngồi cho ḿnh, nép sát vào khoang thuyền, chật cứng. Ngồi dưới nh́n lên trần thuyền khá cao, một người phải đứng vói tay mới tới. Một lát sau mọi người yên lặng như tờ, không ai nói với ai một lời nào. Có ai đó dùng đèn pin quét lia trong bóng tối. Người chủ thuyền và người tài công, nghe nói là một thiếu tá hải quân hồi trước, bước xuống dẫn đường, theo sau là một toán lính bộ đội mặc quân phục, đội mũ cối nhưng không mang quân hàm, không có ai mang súng, trừ một người đàn ông cỡ khoảng năm mươi tuổi không đội mũ, và mang súng ngắn. Ông này cất giọng chào và nói “anh em chúng tôi sẽ đảm bảo an ninh cho bà con và đưa ra tới biển. Chúc bà con ra đi b́nh an”. Ông ta nói giọng Bắc, tôi đoán là giọng Hà Nội, có vẻ lịch sự, nhẹ nhàng, pha chút ân cần âu yếm.
     Mọi người không ai dám lên tiếng ǵ cả. Có một ai đó nói nhỏ vào tai người khác, và mọi người lần lượt cởi một số ṿng vàng, nữ trang trao cho người chủ ghe. Lúc này, một đèn dầu tù mù đă được thắp lên. Người chủ ghe đếm dây chuyền, nhẫn, ṿng vàng, tiền mặt. H́nh như tất cả tiền mặt, trừ tiền đô, đều được để lại. Tôi thấy trong đêm sáng những tờ giấy bạc, xếp lại thành từng cọc, tất cả được gói lại tử tế trong một cái bọc bằng vải, và được trao lại cho ông bộ đội không mang mũ. Ông ta lịch sự cảm ơn rồi họ lần lượt ra khỏi thuyền. Một phút sau, thuyền nổ máy, lướt ra giữa ḍng và chạy rất nhanh. Tôi nghe nói từ đây ra cửa biển phải mất hai ngày. Ai nấy đều mệt và căng thẳng, đa số ngủ thiếp đi. Người chủ ghe đi đi lại lại, phát những loại thuốc ngủ bằng nước, h́nh như là thuốc ho có chứa chất an thần cho những đứa bé từ năm bảy tuổi trở xuống.
     Chiếc thuyền đi âm thầm trong đêm tối, có lúc tới một trạm kiểm soát phải tấp vào bờ, có tiếng chân người rậm rịch trên thuyền, tiếng ḥ hét, tiếng lên đạn, tiếng ra lệnh, tiếng nói nhỏ của người chủ ghe và của những người bộ đội. Mỗi lần đi qua trạm kiểm soát và thuyền dừng lại, bé Vân, một con bé khoảng ba bốn tuổi, ngồi sát bên cạnh cô bạn t ôi, dưới chân mẹ nó, mặt rất sáng sủa, xinh đẹp, lại khóc thét lên. Mặc dù cháu đă được cho uống bốn liều thuốc ngủ mà sao nó vẫn không ngủ, có lẽ v́ quá sợ hăi. Mẹ cháu, một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, mang theo sáu đứa con. Đứa lớn nhất mười bốn tuổi, bé Vân nhỏ nhất.
     Ngồi gần, tôi ṭ ṃ hỏi chị, biết chồng chị đă chết trong trại tù cải tạo mấy tháng trước. Khi được tin, chị đi nhận xác anh về chôn cất tử tế, rồi bán nhà và dẫn các con ra đi. Chị nói chị muốn đợi măn tang chồng rồi mới đi, nhưng chuyến tổ chức vượt biên gấp quá, chị không thể chờ được. Người chồng bị bắt lại trong một vụ kháng chiến quân ǵ đó. Bé Vân khóc lớn đến nỗi chị phải bịt miệng cháu lại. Nó ho sặc sụa và vùng vẫy. Những đứa bé khác cũng thế, có đứa bị cha mẹ bịt miệng đến ngất đi. Cô bạn ôm lấy Vân vào ḷng dỗ dành, mỗi lần như thế no lại nín đi. Về sau nó rất quyến luyến với nàng, hai cô cháu th́ thầm tâm sự, có khi cười khúc khích với nhau.
     Mặt trời lên cao, chiếu lên những tia nắng rực rỡ qua những khe cửa hẹp ở trên mái, nhưng ḷng thuyền vẫn tối tăm. Mọi người có tâm trạng háo hức trở lại, ai cũng mừng v́ chuyến đi gần như trót lọt và sắp ra biển. Sau một ngày dài, đang ngủ mê mệt, tôi cảm thấy thuyền chồng chềnh khác lạ, tiếng máy nổ lớn hơn.Chỗ tôi và nàng gần mũi thuyền, v́ khi xuống thuyền, mọi người đă chiếm gần hết phần đầu máy, là những nơi rộng răi hơn. Tôi để nàng nửa thức nửa ngủ và cùng với một vài thanh niên khác trèo ló đầu lên mạn thuyền. Có ai đó reo lên, “đă ra tới biển rồi.” Dĩ nhiên lúc này vẫn c̣n trong hải phận Việt Nam. V́ được trang bị máy tốt, thuyền chúng tôi chạy khá nhanh. Trên thuyền, chỉ có người tài công vằ một hai thanh niên phụ giúp. dưới thuyền, có một người thợ máy và người chủ ghe là thực sự làm việc.
     Chạy được khoảng bốn giờ đồng hồ, chúng tôi nghe tiếng tài công la lớn. Th́ ra có một chiếc thuyền lạ xuất hiện ở chân trời. Chiếc thuyền này đang cố t́nh đuổi theo chúng tôi. Tới gần th́ rơ th́ đây là chiếc thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Hồi đó, các thuyền đánh cá h́nh như cũng được trang bị súng ống và giao cho việc bảo vệ an ninh quanh bờ biển, và trong thực tế, họ được giao nhiệm vụ đón bắt các thuyền vượt biên hồi đó ra đi ồ ạt, mỗi ngày mỗi đêm. Thuyền chúng tôi tăng tốc độ và chiếc thuyền đánh cá nhỏ hơn đă bị bỏ lại. Mọi người đều thở phào nhẹ nhơm.
     Thêm nửa ngày nữa, thuyền ra đến khu vực mà chúng tôi tin rằng đó là hải phận quốc tế. Ai cũng vui mừng, riêng ḷng tôi lâng lâng một nỗi vui buồn khó tả. Cô bạn và tôi bắt đầu ríu rít chuyện tṛ. Nàng nói về giấc mơ được đi học trở lại ở một nước Âu Mỹ nào đó, và muốn làm một cô giáo gơ đầu trẻ như ngày xưa. Tôi th́ không nghĩ nhiều đến công việc và những dự định to tát mà chỉ mong được nghỉ ngơi và vui chơi sau những năm dài sống ngột ngạt dưới bầu trời u ám như trong một buổi chiều cuối năm nơi tỉnh lẻ có nhiều mây bay thấp, người người bỏ đi, phố xá lạnh lẽo, thời gian trôi chậm chạp tưởng như dừng lại. Tôi mơ ước một bầu trời tự do để bay nhảy thỏa thích như một con chim vừa được tháo cũi sổ lồng. Mọi người ai cũng đem theo một ít thức ăn và nước uống, giờ đây mang ra và bắt đầu tṛ chuyện vui vẻ. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông độ ba mươi tuổi ngoài, anh là một cựu sĩ quan đă từng đi du học ở Mỹ. Sau khi đi tù cải tạo về, vợ anh đă đem con đi lấy chồng, h́nh như là một người có thế lực sao đó. Anh buồn, thất t́nh, không có hộ khẩu, không nhà cửa, lang bạt nhiều ngày, làm đủ thứ nghề, bị đuổi lên đuổi xuống, đi vượt biên đă ba lần đều bị bắt. Một người khác ngồi đối diện với tôi là một người làm nghề đánh cá nhưng trông anh có vẻ trắng trẻo thư sinh. Anh bị  bắt đi bộ đội đánh nhau với Pôn Pốt ở Cam Pu Chia. Anh bị thương, trong người vẫn c̣n một viên đạn.
     Được giải ngũ v́ thương tích, nhưng không có việc làm, hoàn cảnh gia đ́nh nghèo túng. Anh vượt biên đường bộ một lần qua ngă Campuchia nhưng bị bắt và suưt chết, nên mất hết tiêu chuẩn thương binh. Có một anh chàng mặt tṛn và trắng như phụ nữ, nghe nói là kỹ sư mới ra trường được đưa đi vùng kinh tế mới nhưng không nhận nhiệm sở, dẫn một cô bồ đi theo. Cô này bám lấy anh như một người t́nh thèm khát, tôi thấy thỉnh thoảng cô lại hôn môi anh.
     Ngôi bên cặp này, một người phụ nữ, có lẽ là dân buôn bán ở Sài G̣n, mở một hộp bánh kẹo ra ăn, mùi thơm ngào ngạt, nhưng lúc này chả có ai mời ai. Bỗng nhiên, cô bạn nhéo tay tôi, tôi nh́n theo ngón tay ra dấu của nàng, th́ thấy một tờ giấy bạc màu xanh, chắc là đô la Mỹ, h́nh như là một trăm đồng, rớt ra từ gói bánh kẹo của bà ta. Loáng một cái, chàng kỹ sư nhặt lên và bỏ vào túi ḿnh. Tôi không hiểu v́ sao lúc đó nàng cản tôi, có lẽ nàng nghĩ những chuyện như vậy không đáng quan tâm hay những chuyện xích mích nhỏ nàng không muốn để tôi dính vào. Phía bên kia của người đàn bà này là một người đàn ông khác, cao, cắt tóc ngắn, mặc áo quần như dân thợ màu cỏ úa, c̣n dính những chấm vôi. Khuôn mặt anh gần như vô hồn, suốt từ khi xuống thuyền trong hai ngày qua, tôi chưa hề thấy anh nói một lời, mắt anh khi nào cũng nh́n vào khoảng xa xăm.
     Anh dẫn theo một đứa con gái khoảng bảy tám tuổi, thỉnh thoảng nó lại chạy qua chỗ chúng tôi. Một người thanh niên, cháu của người chủ ghe, ngồi cạnh, h́nh như có quen anh từ trước, kể cho tôi nghe về câu chuyện của anh, không biết đúng với sự thật đến đâu. Anh bị tù cải tạo h́nh như ở Thanh Hóa hay đâu đó trên rừng núi miền Bắc. Vợ anh có hai con nhỏ, buôn bán tảo tần và vài ba tháng được phép của chính quyền đi thăm nuôi anh. Chị gửi con cho bên ngoại, lặn lội từ Sài G̣n qua những chuyến tàu hỏa chật ních người, những bến xe đ̣ dính bùn lầy, qua những đoạn đường vắng vẻ, có khi không có chân người, t́m đến trại tù cải tạo để thăm nuôi anh. Một ngày cuối năm, chị cũng đi như thế, nhưng khi tới chỗ tập trung trước khi vào trại, v́ đến trễ, đoàn người phía trước đă đi, chị đành ở lại một ḿnh trong đêm.
     Quá nửa đêm gần sáng, có lẽ nóng ruột, chị không chờ được, quày quả khăn gói lên đường một ḿnh mong được gặp chồng sớm. Từ chỗ dừng chân nghỉ, là một quán nước ở b́a rừng, vào đến cổng trại phải đi xuyên qua một cánh rừng rậm nổi tiếng có nhiều thú dữ. Chị đi một ḿnh, và không bao giờ trở lại. Người chồng nhận được tin vợ ḿnh đến thăm, nhưng ngồi suốt một ngày chờ vợ ở trong chiếc lán, nơi cán bộ cho phép vợ và chồng được gặp nhau, bày các thức ăn ra và chuyện tṛ qua một chiếc bàn dài. Chiều hôm đó, người cán bộ quản giáo mang đến cho người chồng một gói ni lông. Anh mở ra, không thấy ǵ cả, ngoài một lọn tóc dài đen nhánh. Anh ngồi im như thế suốt một đêm, không ai dám đến gần. Anh không khóc, không nhỏ một giọt nước mắt.
     Một ngày trôi qua. Biển lặng, gió êm, thuyền rẽ sóng tiến về phía trước, hy vọng sẽ đến Malaysia trong hai ngày nữa. Lúc này mọi người mới biết ông tài công không phải là một thiếu tá, mà cũng chưa đi lính bao giờ. Ông ta hoàn toàn không biết lái tàu. Người chủ ghe liền nhờ đến hai anh khác lên bong tàu trợ giúp chàng tài công bất đắc dĩ này. Nghe nói ông ta đă lừa ông chủ ghe để đi không phải tốn tiền, nhờ cái mác thiếu tá hải quân. Tuy nhiên đây cũng là một đóng góp nhỏ của ông ta: đó là chiếc la bàn đi biển, một vật dụng hết sức cần thiết. Tôi đưa mắt nh́n quanh, đếm được khoảng một trăm người có mặt trên thuyền, một nửa là thanh niên nam nữ, một số trẻ con và người già cả. Mỗi người ăn mặc một cách khác nhau, nhưng đều phờ mệt mỏi, mặt rạm nắng v́ mấy ngày trên sông nước, cũng khó biết được nghề nghiệp và công việc của họ trong xă hội. Lúc này thuyền đă ra đến hải phận quốc tế, một số thanh niên như tôi leo lên bong thuyền để đổi không khí v́ bên trong nóng và chật chội, đầy mùi mồ hôi người, bắt đầu có mùi khai của nước tiểu và phân người, nhất là v́ các cháu nhỏ không nhịn được.
     Chiều xuống chậm chạp trên biển. Hoàng hôn đỏ rực phương tây. Tôi ngước mặt nh́n lên, một vài đám mây vàng mây xanh bay lờ lững nhắc nhở kiếp người vô định. Nhưng cuối cùng, khi mặt trời lao ḿnh xuống biển, bóng tối lan rất nhanh như một chiếc khăn quàng lụa bị nó bỏ lại đằng sau, không ngớt bập bềnh trên mặt nước xa xa.
     Trước đó, tôi cũng kịp thấy những đàn cá heo bơi lội dọc theo thân tàu, màu trắng bạc, màu đen tuyền, lướt qua những sóng nước do tàu rẽ ra, và mặt biển sau một hồi lại trở về yên tĩnh. Cuối một ngày dài, trừ những người trên bong tàu, hầu hết bắt đầu thiêm thiếp ngủ, đây đó tiếng trẻ con khóc v́ đ̣i sữa. Người chủ ghe đi phát thức ăn và nước uống cho mọi người. Những người đang ngủ cũng bị đánh thức dậy. Khẩu phần là một khoanh bánh tét, một lon nước và một khoanh dưa hấu, coi như một cái tết xa nhà đầu tiên. Cô bạn tôi cẩn thận để dành phần nước của nàng và tôi, v́ nàng nghĩ là ăn dưa hấu cũng đỡ khát.
     Tôi nhớ những ngày trước tết, lái xe honda chở nàng qua các phố phường Sài G̣n nắng ấm, bày bán mứt kẹo, qua chợ Cầu Muối, chợ Bến Thành, chợ An Đông, đi chọn mua dưa hấu đem về nhà cúng tất niên. Những đống dưa hấu chất cao chở về từ miền Tây, xanh sẫm, tṛn trịa, căng cứng. Tôi có cái thú gơ vào chúng để xem dưa hấu có đỏ không, và thường đoán đúng, v́ vậy khi mua dưa, Nàng thường dẫn tôi đi. Cầm trên tay khoanh dưa hấu đỏ hồng, ứa rịn một thứ nước thơm ngọt, tôi nhớ đến những ngày ở miền quê xa xôi thời nhỏ, buổi trưa nắng cháy đi bộ qua những đồi cát mênh mông bỏng rát chân, chợt nhận ra sau những dây và lá xanh biếc, trái dưa hấu tṛn mọng nước như sức sống và niềm vui của đất.
     Mọi người đang cười nói lao xao v́ được thưởng thức món ăn ba ngày tết th́ tôi nghe một tiếng nổ rất lớn ở phần đuôi thuyền. Mùi khói thuốc nổ bốc lên ngạt mũi, tàu chao đảo lắc dữ dội. Rơ ràng là tiếng ḿn nổ. Mọi người hoảng sợ, trẻ con la khóc. Tôi leo lên ló mặt ra khỏi bong tàu qua một ô cửa nhỏ, thấy khói bốc lên mù mịt. Lúc này thuyền đă chết máy, dừng hẳn lại, trôi dật dờ theo làn sóng biển. Cách đó một khoảng không xa, một chiếc tàu lạ rất lớn, chiếu đèn sáng rực, thấy rơ màu sơn xanh đỏ, không treo cờ hiệu, đang chạy rất gần. Trên khoang tàu lạ lố nhố những bóng người. Một không khí khiếp đảm bao trùm lên mọi người. Có ai đó la lên, “Hải Tặc !”. H́nh như người tài công và những thanh niên có nhiệm vụ trên tàu ngủ quên hoặc hoàn toàn không phát hiện ra có tàu lạ tới gần. Có thể tàu này trước đó đă ra hiệu cho chúng tôi dừng lại, nhưng không ai biết, nên chúng ra tay tấn công lập tức. Đây là lănh vực thuộc vùng biển Thái Lan, vốn nổi tiếng cướp biển. Chiếc tàu lạ chạy ra xa rồi đánh ṿng trở lại, chạy thêm nhiều ṿng nữa quanh thuyền chúng tôi, mỗi lúc một gần hơn.
     Cuối cùng, nó rẽ sóng xông thẳng vào mui thuyền, h́nh như để cố lật thuyền xuống biển. Tiếng va chạm dữ dội vang lên. Tàu chúng tôi nhỏ hơn bị sạt lở nhiều mảng. Chiếc tàu lạ ṿng lại lần thứ hai và cập hẳn vào mạn thuyền. Lúc này, ai nấy đều sợ hăi chui xuống gầm, không c̣n ai trên bong. Tôi thấy một số phụ nữ chạy trốn ra đằng sau đuôi thuyền gần chỗ đặt máy, một số khác ôm lấy trẻ con vào ḷng. Người phụ nữ nằm bên cạnh cô bạn tôi khoảng năm mươi tuổi, nghe nói là một d́ phước tu trong nhà ḍng, cùng với cô bạn tôi kiếm những dầu mỡ bôi lên mặt lên tay. Tôi liền giúp nàng vào việc hóa trang này, chỉ mấy phút sau đầy mặt và tay chân áo quần của nàng bôi đen kịt các chất dầu mỡ nhem nhuốc mà trong hoàn cảnh b́nh thường chắc đủ làm cho không ai muốn tới gần.
     Những người phụ nữ cuống quưt t́m những đứa bé để ôm vào người v́ nghe nói tụi cướp biển Thái Lan không chọn những người phụ nữ đă có con. Nhưng bọn trẻ không biết ǵ, la khóc vùng vẫy, chạy về bên mẹ chúng. Lúc này, bé Vân bốn tuổi, vẫn ôm chặt lấy cô bạn tôi không chịu buông ra, không về bên mẹ như những anh chị của nó. Những tiếng động lịch kịch vang lên trên bong tàu, một lát sau không khí trở lại hoàn toàn yên tĩnh. Thời đó bọn cướp biển khi tấn công một tàu lạ, bao giờ cũng thận trọng dè chừng, không hung hăn như những đợt cướp biển đầu tiên trên biển Đông, v́ một số tàu vượt biên có đem theo súng, và một số thanh niên có thể tự trang bị các vũ khí khác.
     Thời gian chậm chạp trôi qua. Một lát sau có người đối đáp qua lại, tôi đoán là tiếng Thái Lan. Một người ngồi gần đuôi thuyền lên tiếng trả lời bằng tiếng Thái, th́ ra anh ta là một người Hoa Chợ Lớn biết nói nhiều thứ tiếng khác nhau. Anh ta quay lại nói lớn với mọi người, họ sẽ cho nước uống và thức ăn, bây giờ bà con có tiếng đô hoặc vàng bạc th́ đưa ra để đền ơn cho họ. Mọi người riu ríu tuân lệnh, Cô bạn tháo trên cổ của nàng chiếc dây chuyền vàng mà mẹ nàng mua cho hồi c̣n nhỏ. Tôi cũng tháo chiếc nhẫn một chỉ trên tay.
     Hồi đó, người ta thường đeo nhẫn như một thứ tài sản nhỏ pḥng hờ có chuyện cần kíp. Sau khi nộp hết tiền và nữ trang, người đàn ông có nhiệm vụ thông dịch, leo hẳn lên bong tàu, có vẻ mạnh dạn hơn, để tṛ chuyện với những thủy thủ trên tàu cướp biển. Tôi thấy họ ném xuống mấy can nhựa đựng đầy nước và hai rổ trái cây không biết loại ǵ, h́nh như cam hai xoài, hay cả hai. Người chủ ghe đem đi phân phát cho mọi người, nhưng không ai dám đụng tới. Một lát sau người thông dịch cúi mặt xuống ḷng thuyền bảo: “ họ cần gặp mười cô để nói chuyện.” Anh ta nói thêm, “cái này tự nguyện, không bắt ép đâu à nghen!”. Bàn tay cô bạn tôi chết lặng trong tay tôi. Tôi biết nàng khá trẻ và đẹp. Trên thuyền ai cũng biết nàng độc thân, chưa có con. Không một cô gái nào muốn lên bong tàu. Tôi thấy có một vài cô chụm đầu vào nhau khóc nức nở.
     Cảnh tượng không có súng đạn nổ mà thật hăi hùng, ai nấy đều chết lặng. Thật là bất ngờ. Một lát sau có tiếng người nói đây đó, thậm chí kêu tên người này người nọ, v́ những người trên tàu sợ rằng nếu không đem nộp mười cô gái, chính họ sẽ bị giết và họa lây. Vào những hoàn cảnh như thế này, tôi mới biết thêm ḷng người. Tôi nhớ có một chị, h́nh như là buôn bán hay làm việc trong một cửa hàng bách hóa ǵ đó, khoảng bốn mươi tuổi, tóc cắt ngắn, trên bến khá thân với cô bạn tôi. Tôi thấy hai người tṛ chuyện rất lâu khi chờ xuống thuyền. Trong tiếng người nói, tôi nghe tiếng chị ta gọi tên cô bạn tôi hai lần. Cô bạn tôi sợ hăi ôm chặt lấy tôi bằng một tay và một tay ôm bé Vân vào ḷng.
     Lúc này trên bong tàu, bọn cướp biển đă thắp những cây đuốc sáng rực. Tôi đă sống qua nhiều năm tháng khổ đau, nhưng ít khi biết được cái cảm giác lạ lùng cay đắng khi nhân phẩm của con người bị hạ nhục như trong giây phút đó. Tôi thấy thương đồng bào của tôi quá, thương cô bạn và thương cả bản thân ḿnh. Cảm giác bất lực đè nặng trên ngực tôi như một tảng đá. Tôi nhớ hồi nhỏ có lần đi học về, ở ngoài đường phố, tôi bị một bọn trẻ con cùng tuổi bắt nạt. Chúng đông lắm, đến bảy tám đứa. Hôm đó, tôi đội một chiếc mủ lưỡi trai rất đẹp mà cha tôi mới mua cho tôi, màu đen, có cái h́nh batman thêu màu vàng phía trước. Nếu bọn trẻ xông vào đánh tôi, hoặc giật lấy cái mũ th́ đă đành một chuyện. Nhưng đằng này, chúng chỉ vây lấy tôi vào giữa và bắt tôi tự lấy cái mũ ra khỏi đầu và trao cho chúng.
     Tự lượng sức ḿnh, tôi biết tôi chỉ có hai chọn lựa: một là đầu hàng và tuân lệnh, hai là bị chúng đánh cho một trận nhừ tử. Chọn lựa ấy thật khó khăn cho một đứa nhóc chín mười tuổi như tôi lúc đó. Nhưng sau lần ấy, tôi không hề hối hận về cái chọn lựa của ḿnh, mặc dù tôi phải nghỉ học hai ba ngày sau, và người đầy vết bầm tím, mà mẹ tôi vừa khóc vừa đắp lên người tôi không biết bao nhiêu là lá trầu, dầu cù là, dầu khuynh diệp và đủ thứ thuốc nam khác mà tôi không thể nào nhớ hết. Tôi cứ tưởng rằng bài học ấy người ta chỉ học một lần là xong, không ngờ hôm nay, tôi lại đứng trước một chọn lựa mới. Tôi tự hỏi rất nhanh, nếu cô bạn tôi bị chỉ điểm và bị kéo lên thuyền, tôi sẽ phản ứng như thế nào?
     Lúc này đám thủy thủ Thái Lan đă bắt đầu mất kiên nhẫn, và lên tiếng thúc giục người chủ thuyền. Ông này cũng hoảng sợ, nhưng không dám tự ḿnh quyết định. Người đàn ông nói tiếng Thái Lan bèn gọi tên một cách hú họa. Tôi thấy có một vài thiếu nữ khoảng mười sáu mười bảy tuổi bị người khác đẩy ra, họ vừa khóc vừa để cho người thông dịch kéo lên bong tàu. Chuyện dằng co xảy ra rất lâu.
     Tôi ngạc nhiên thấy đám Thái Lan này vẫn không chịu bước xuống tàu và tự ḿnh làm cái việc tuyển chọn ấy. Chúng sợ bị tấn công chăng? Hay chúng muốn thưởng thức sự đau khổ của người khác kiểu như mèo vờn chuột? Hay là cả hai? Tôi không biết. Cuối cùng cũng có chín mười cô gái bị đẩy lên bong tàu. Bọn thủy thủ Thái Lan có độ mười lăm đứa ngồi xoay thành ṿng tṛn, trước mặt chúng là một ṿng tṛn nhỏ hơn, gồm những cô gái vừa bị bắt, ngồi xoay mặt vào tâm điểm là một đống củi lớn đang bắt lửa, có lẽ vừa mới nhen lên, một lát sau phừng phực cháy. Chỗ tôi và cô bạn nằm ở ngay mũi tàu, là chỗ mà mọi người hàng ngày đi cầu và đi tiểu vào một cái bô lớn, rất hôi hám. V́ vậy, ông chủ tàu cho phép mở một lỗ hỗng lên trời để thoát bớt mùi hôi nồng nặc. Tôi không có khả năng chịu đựng như của cô bạn tôi, nên thường nửa đứng nửa ngồi dựa vào mạn tàu, tḥ đầu qua cái lỗ nhỏ để hít thở, và quan sát được mọi diễn tiến bên ngoài.
     Tôi ngạc nhiên thấy ḿnh từ từ b́nh tĩnh lại, có lẽ ư thức tôi trong khi t́m câu trả lời cho câu hỏi kia, trở nên mỗi lúc một tỏ tường. Đêm tối mênh mông, bầu trời đen loăng, mặt nước biển cũng đen một vẻ tàn ác lạnh lùng. Một gă thủy thủ trẻ tuổi lôi ra một cây đàn ghi-ta, cả bọn chúng vừa hát theo tiếng đàn vừa vỗ tay bắt nhịp, và bắt các cô gái vỗ tay hát theo. Mới đầu chúng hát những bản nhạc Thái Lan, có âm điệu hoang dă, có lẽ là bài hát của những người đi biển. Về sau chúng xen lẫn cả tiếng Anh. Tôi không thể nào quên được h́nh ảnh kỳ dị như trong một đêm huyền sử mộng muội của loài người, những khuôn mặt của các cô gái Việt Nam đáng thương hắt một thứ ánh sáng chập chờn từ ngọn lửa ma quái ngồi giữa những người đàn ông mặc váy xà rông sặc sỡ, da ngâm đen, vừa là ngư dân vừa là cướp biển. Những chiếc xà rông của chúng, mà tôi chưa thấy trước đây bao giờ, gây cho tôi một cảm giác kỳ lạ, như đứng trước nỗi hoang dă, trước những con thú sẵn sàng tấn công người khác hay hăm hiếp phụ nữ.
     Đêm đầu tiên trôi qua khá yên tĩnh. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, các cô gái được trả lại chỗ cũ, bọn thủy thủ tắt lửa trên tàu, đem theo vàng và tiền thu được, rút về tàu của chúng. Chiếc tàu này bắt đàu chạy dạt ra xa, nhanh chóng biến mất vào bóng đêm. Tôi thấy những người trên thuyền nh́n những cô gái vừa được thả xuống với ánh mắt khác lạ, Không ai nói ǵ ngoài tiếng trẻ con khóc. Mọi người đều hồi hộp trong yên lặng, ai cũng mong tai qua nạn khỏi. Lúc này không ai ngủ được. Thuyền chúng tôi đă hỏng máy hoàn toàn v́ trúng quả ḿn bị ném vào chân vịt. Một số người b́nh tĩnh hơn bắt đầu rủ nhau t́m cách xoay xở làm buồm để chờ gió lên ra khơi. Tôi cởi cái áo sơ mi mặc ngoài để làm buồm cũng như nhiều người khác, v́ trên thuyền không có vải. Chúng tôi dựng cột buồm bằng một mái chèo dài.
     Chiếc buồm gồm những tấm áo sơ mi và quần, nhiều màu xanh đỏ, xé ra, vá víu lại nh́n giống như thân phận của những người vượt biển. Tôi bắt đầu nghĩ đến cảnh chiếc thuyền trôi dạt chết máy, không biết đi về đâu, hay thậm chí bị tấp trở lại vào bờ biển Việt Nam, bị bắt, bị tù. Nh́n quanh tàu, tôi biết nước uống và thức ăn sắp cạn. Người chủ tàu thu tiền của tám mươi chỗ ngồi, nhưng thực tế số người xuống thuyền trên một trăm, v́ vào phút cuối, có thể ông ta bị ép phải đưa nhiều người hơn hoặc v́ cần tiền nên nhận nhiều hơn số dự định. Những người chuẩn bị ra khơi chỉ tính lương thực và nước uống cho hai ba ngày đường, có lẽ họ chỉ dự trù cho chuyến hải hành thẳng một mạch từ Việt Nam đến Malaysia, hoặc xa hơn một chút về phía nam là Indonesia. Không ai có ư định vượt biển vào Thái Lan cả, v́ hồi đó vùng vịnh này nổi tiếng về nạn cướp biển giết người.
     Sau sự lên tiếng của một số nhà báo Việt Nam và nước ngoài ở Mỹ và châu Âu và các tổ chức cứu người trên biển, Cao ủy Tị nan Liên iệp quốc h́nh như gây sức ép lớn với chính quyền Thái Lan, trước đó làm ngơ và dung dưỡng cho nạn cướp biển hoành hành. Chính phủ Mỹ và Liên hiệp quốc trong thực tế đă chi cho chính quyền Thái Lan hàng chục triệu đô la để thiết lập các ṭa án xét xử bọn cướp biển. Những cố gắng này trong khi làm giảm bớt phần nào tệ nạn cướp biển trên vịnh Thái Lan, lại dẫn đến một hậu quả xấu khôn lường. Bọn cướp biển trước đây, sau khi tấn công tàu vượt biên, cướp bóc hay hăm hiếp, thường bỏ đi. Sau này, để được an toàn, chúng đánh đắm thuyền, giết sạch những người bị cướp, mục đích là tiêu diệt nhân chứng, và bắt các thiếu nữ về những ḥn đảo xa xôi làm nô lệ cho chúng, hoặc bán vào các ổ điếm đầy dẫy ở Bangkok lúc bấy giờ.
     Mặt trời lên cao, trời nóng ngột ngạt. Một ngày chậm chạp trôi qua. Màn đêm lại dần dần buông xuống. Tôi nghe tiếng cầu nguyện của nhiều người. Một nhà sư mặc đồ giả trang thường dân, ngoài bốn mươi tuổi, gầy và cao, ngồi niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và rủ mọi người niệm theo để cầu nguyện. Tôi cũng thấy người nữ tu làm dấu thánh giá và đọc kinh. Đêm xuống, không ai c̣n đi lại trên bong tàu. Bỗng có tiếng thuyền máy chạy lại gần, tôi nghe rất rơ. Tiếng đụng nhau của hai mạn thuyền, tiếng ḥ hét trên bong.
     Tôi nh́n thấy chiếc thuyền này không giống chiếc hôm qua, sơn màu vàng và xanh, h́nh như hơi lớn hơn, cũng chiếu đèn sáng rực một vùng trên biển, có nhiều người đứng lố nhố trên thuyền. Bọn thủy thủ nhảy ào qua thuyền chúng tôi, la hét ầm ĩ, giáo mác sáng ḷa. H́nh như đây là một bọn khác. Anh bạn ngồi kế tôi là một người đi vượt biên nhiều lần không lọt, có kể với tôi rằng bọn cướp biển Thái Lan thường thông tin cho nhau, và chúng lần lượt đến cướp một chiếc tàu nhiều lần.
     Người thông dịch hôm qua lại làm nhiệm vụ. Sau một hồi tṛ chuyện, bọn thủy thủ im lặng trở lại và chúng để yên cho anh làm nhiệm vụ đưa người t́nh nguyện lên bong tàu như kiểu tối qua. Lúc này một số cô gái quá sợ hăi, không chịu lên bong tàu. Tôi thấy có người gọi tên cô bạn tôi một lần nữa. Mất hết kiên nhẫn, bọn thủy thủ đạp toang cánh cửa dẫn vào hầm tàu, chúng lục tục nhảy xuống. Tôi thấy có hai tên mang súng tiểu liên, một số tay không, một số cầm loại dao dài có lưỡi rất sắc như kiểu dao đi rừng. Cô bạn tôi ôm chặt bé Vân vào ḷng, mặt nàng co rúm sợ hăi, người đầy nhọ nồi, đen đúa. Tôi cầm chặt tay nàng, lẳng lặng không nói ǵ. Bọn thủy thủ dồn hết các phụ nữ lên bong tàu, một số đàn ông, có lẽ là những người chồng, cũng chen lấn đi theo. Tôi đứng lẫn vào đám đông ngay sát sau lưng nàng. Lúc này bé Vân vẫn cầm chặt tay nàng. Mẹ nó ngăn cản nhưng con bé vẫn không chịu buông nàng ra từ tối hôm qua.
     Thật là một phép lạ. Bọn thủy thủ Thái Lan cười nói nạt nộ, đi qua truớc mặt những người phụ nữ, lôi ra từng người một và đè họ xuống lột hết quần áo ngay trước mặt chúng tôi. Những cô gái sợ hăi kêu khóc. Có nhiều cô sụp lạy. Một cô bé khoảng mười bốn mười lăm tuổi chết ngất tại chỗ. Người thợ máy có vợ bị bọn thủy thủ kéo ra sàn thuyền, xông lại ôm chặt vợ vào ḷng. Một tên thủy thủ dùng báng súng đánh vào đầu làm anh ngất xỉu, máu chảy lênh láng. Tôi đứng sát cabin của tàu, tức là buồng lái, thấy có một chỗ rất tối ngay sau cái thùng phuy lớn dùng để đựng nước uống. Tôi kéo tay cô bạn và con bé núp vào sau đó. Tôi vẫn chưa biết phải làm ǵ.
     Đứng khuất sau những người khác, một người phụ nữ bồng đứa con trai nhỏ khoảng hai tuổi. Đó là một người phụ nữ cao, da trắng trẻo, có khuôn mặt đẹp và hiền hậu, tôi cũng nói chuyện với chị lúc mới xuống tàu. Chị là một giáo viên tiểu học, từ miền Trung vào Sài G̣n năm 75. Hai vợ chồng chị bị đưa lên vùng kinh tế mới v́ không có hộ khẩu ở Sài G̣n, người chồng bị chết v́ bệnh sốt rét rừng. Chị bán hết tài sản, bồng cháu nhỏ đi vượt biên. Một gă thủy thủ nh́n chị đăm đăm, rồi tiến lại giật đứa bé ra khỏi tay chị. Một đứa bé kháu khỉnh, không khóc. Tôi nghe gă thủy thủ nói bằng tiếng Anh, “baby son, baby son” với giọng vui vẻ pha chút âu yếm. Một tên khác đè chị xuống, xé toạc quần áo bày ra những khoảng da thịt trắng nơn. Chị vùng vẫy, cố vươn về phía đứa con và giằng lấy cháu. Tên thủy thủ ôm đứa bé lại vừa cười vừa gọi “baby son, baby son, baby son.” Nó lấy hết sức, dùng hai tay nâng cháu lên cao, và đột ngột ném xuống. Đứa bé bay qua mạn thuyền như một con búp bê, rơi xuống ḷng biển sâu tối đen không một tiếng động.
     Nửa đêm, mọi người đều mệt lả, và ngủ thiếp đi. Trăng non bắt đầu lên. Cảnh biển về đêm đẹp một vẻ lạnh lẽo hăi hùng. Tôi nằm nghiêng người, mắt mở mắt nhắm nh́n qua chiếc cửa sổ thông hơi ở mũi thuyền, ngay trên chỗ mọi người ngồi đi tiêu đi tiểu vào một cái thùng nhựa lớn làm hố xí tạm thời. Mặc dù mọi người đều bịt mũi khi tới gần, tôi không thấy hôi lắm, có lẽ v́ suốt ngày nằm gần nó nên cũng quen đi. Tôi nhớ những đêm trăng vàng rực rỡ nơi làng quê xa xôi. Những đêm trăng, đi dọc bờ sông nghe tiếng gió ŕ rào thổi trong những cánh đồng bắp non vừa trĩu quả, những vạt cà chua chín đỏ rực và những vồng hoa cải vàng, một loại hoa vẫn chịu khó nở dưới trời lâm râm mưa bụi, khi mưa vừa tạnh th́ trăng lên. Tôi đứng lên tḥ đầu ra ngoài, đưa mắt nh́n biển khơi, không có một vệt đất đen của xóm làng, biển im lặng như tờ, gió chỉ đủ để làm rung động một chút sóng ánh trăng từ xa tiến lại. Tôi nhớ một bài thơ “Thuyền Đi” của Huy Cận:

     Sang đêm thuyền đă xa vời;
     Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn.
     Canh khuya tạnh vắng bên cồn,
     Trăng phơi đầu băi, nước dồn mênh mang.


     Những ngày c̣n ở trung học đệ nhất cấp, tức là từ lớp sáu đến lớp chín bây giờ, bên cạnh những giờ văn, gồm thơ mới của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư... và tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Trần Tiêu, Hoàng Đạo, Thạch Lam ... chúng tôi c̣n được giáo sư Việt văn cho đọc những tác phẩm không được dạy chính thức trong nhà trường, như thơ Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương …. Giờ đây, trong đêm mênh mông, ánh trăng nồng ấm và huyền ảo ở làng quê đến với tôi, kỳ lạ thay, không kèm theo một vị mỉa mai cay đắng nào, mà thường trong những hoàn cảnh như thế này, người ta hay cảm nhận. Đứng trong mùi hôi thoang thoảng của phân người, nh́n qua ô cửa hẹp, lặng ngắm một vầng trăng góa bụa, tôi thấy dâng lên trong ḷng nỗi thương cảm vô bờ. Một nỗi thương cảm không biết hướng về đâu, dành cho ai, và ai cần đến nó.
     Trải qua một ngày vô sự. Mặt trời màu trắng như một chiếc dĩa kim loại đi qua trên đầu, và những vầng mây nhỏ, mỏng như khói lam chiều, không đủ che hết sức nóng chói chang. Những chiếc máy bay cao vút bay trên bầu trời, gợi nghĩ về một thế giới xa xôi, ở đó là một xă hội khác, một nhân loại khác, một nền văn minh khác, không có tí ǵ chung với số phận của đồng bào tôi và những con người nhỏ bé đang trôi dạt lênh đênh giữa sự săn đuổi của bầy thú dữ. Thỉnh thoảng có một chiếc máy bay lướt qua thật thấp trên đầu. Người phi công có nh́n thấy chúng tôi không?
     Những người trên thuyền xúm lại đốt lửa làm khói bằng đủ thứ mà họ có được từ giấy vụn đến áo quần và những mảnh gỗ của mạn thuyền bị tàu cướp biển xô vỡ ra. Những sợi khói ngoằn nghoèo bay lên trong niềm tuyệt vọng ảm đạm. Thực phẩm đă gần hết, nước uống c̣n nguy hiểm hơn. Tôi biết nàng không đói. Tôi cũng không đói. Có lẽ v́ quá mệt mỏi và sợ hăi. Nhưng khát. Những đứa trẻ con khóc không thành tiếng và không ra nước mắt, v́ nước trong người chúng đă dần cạn kiệt. Chiếc thũng phuy đựng nước uống gần cabin trên bong, nơi tôi ngồi núp với nàng, bị lật nghiêng, c̣n đọng lại một ít nước cáu bẩn, mọi ngưỡi chia nhau mỗi người một hớp nhỏ. Tôi đưa cho cô bạn tôi  cả phần của ḿnh, nhưng nàng không uống.
     Trước đó cả tôi và nàng đều chứng kiến cảnh bọn thủy thủ, sau khi hăm hiếp xong, nhảy vào thùng phuy rửa ráy. Bé Vân vẫn quấn quít bên cạnh nàng, nhưng nó đă mệt lả, mắt mở lớn nhưng không tṛ chuyện nhiều như lúc mới xuống thuyền. Cô bạn tôi sờ tay vào môi của nó, thấy khô nứt nẻ. Chúng tôi c̣n một bi đông nước để dự trữ cuối cùng, thứ bi đông của quân đội bằng nhựa màu xanh lá cây, đựng khoảng nửa lít nước. Tôi dùng cái nắp bi đông để canh từng hớp nước. Mỗi ngày từ sáng đến chiều, tôi chỉ uống hai lần, mỗi lần đúng một nắp nhỏ, không cưỡng được ḷng ḿnh phải rót cho thật đầy. Cô bạn tôi và bé Vân mỗi người cũng được chia hai lần một ngày và mỗi lần một ngụm. Nhưng lần thứ hai của nàng, th́ nàng lắc đầu rồi đưa cho bé Vân uống. Con bé bốn tuổi thè lưỡi ra liếm từng giọt thong thả. Tôi lắc b́nh nước, đoán chừng chỉ c̣n một phần . Sẽ c̣n bao nhiêu ngày nữa chờ đợi chúng tôi?
     Tôi bắt chước một người khác, khi đi tiểu th́ dùng một chiếc khăn lông nhỏ để hứng nước tiểu. Lúc khát nhất, tôi vắt chiếc khăn ra những giọt nước màu vàng để nhấp lên môi. Tôi lén làm việc này không cho nàng biết, và cố để dành phần nước cho nàng về sau. Có lần từ trên bong tàu hóng gió, tôi đi xuống, th́ thấy nàng cầm chiếc khăn của tôi đắp lên má và khóc lặng lẽ. Những buổi chiều mặt trời sắp lặn, biển thật buồn như nỗi cô đơn của những người tiền sử. Mặt trời màu huyết dụ, càng đi xuống th́ càng có vẻ lớn lên. Tôi thường dẫn nàng và bé Vân lên bong tàu cho bớt mùi phân người. Gió biển phóng khoáng cũng làm chúng tôi khỏe lại. Cô bạn tôi không phải là người thường đi ngắm cảnh thiên nhiên, nhưng những ngày đó, nàng thường cầm lấy tay tôi, và hai đứa ngồi yên lặng nh́n mặt trời từ từ nhúng ḿnh nó vào nước, có khi như một thỏi son của thiếu nữ, có khi như một quả cầu bằng sắt nung đỏ, đôi khi hiền lành như một vị triết nhân im lặng, đôi khi dữ dội như khuôn mặt tử thần.
     Gió lên. Chiếc buồm kết bằng những tấm áo sơ mi rách nát tung lượn kéo thuyền đi băng băng về phía trước. Đă mấy ngày người chủ thuyền không c̣n thức ăn và nước để chia cho mọi người. Tôi nghe nói những người đi trên sa mạc cháy bỏng thường thấy ảo giác là những vũng nước nhấp nhô trước mặt, khi họ cố đi tới gần th́ chúng lại chạy ra xa. Tôi hiểu và cố dè chừng điều này, nhưng khi nó xảy ra th́ thật bất ngờ. Miệng tôi khô rát, lưỡi bỏng. Tôi cố nuốt nhưng không c̣n nước bọt, tim đập mạnh, mồ hôi rịn ra trên ḷng bàn chân và bàn tay đầy vị mặn, sau một ngày chúng biến đi đâu mất, sờ không thấy mồ hôi nữa. Da ở nhiều chỗ mỏng đi, khô rộp lên và bong ra. Đầu những móng tay nàng có những dấu chấm chảy máu, trên miệng và trong lưỡi của nàng có những vết lở loét nhỏ.
     Buổi sáng thức dậy sau giấc ngủ chập chờn, tóc nàng rụng đầy trên vai tôi, rơi vào trong túi áo. Ngày c̣n là sinh viên, n àng có mái tóc dài óng mượt ngang lưng, xanh mướt. Ban mai mùa hè rực rỡ nắng gió, bọn học sinh cùng lớp chúng tôi hay rủ nhau đạp xe ra biển. Gió ngược chiều thổi bay mái tóc dài của các cô về phía sau, như h́nh ảnh của những người đi sớm trước ban mai , mà thời gian ở măi phía sau c̣n níu lại. Mặc dù ở thành phố, tôi nhớ nàng vẫn thường bắt chước mẹ, một người phụ nữ của vùng quê quan họ Bắc Ninh, gội tóc bằng bồ kết. Hồi đó xà pḥng hiệu Camay là loại sang trọng và được ưa chuộng ở các thành thị miền Nam, tôi thường dành dụm số tiền ít ỏi của ḿnh để mua cho nàng những bánh xà pḥng thơm phương Tây như món quà tặng quư giá. Nhưng thật ḷng, tôi không thích bằng mùi bồ kết của nàng, có lẽ v́ kỷ niệm.
     Sau khu vườn của bà ngoại tôi, có một cây bồ kết dại, những trưa hè tôi thường quanh quẩn ra chơi. Tôi nhớ mùi hương bồ kết đêm đêm bay ngan ngát trong bầu trời một thôn xóm b́nh yên, những năm sau cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, trước khi miền Bắc từng đợt đưa quân vào miền Nam, và trước khi những người lính thủy quân lục chiến Mỹ đặt chân lần đầu tiên lên hải cảng Đà Nẵng. Cầm những sợi tóc khô mỏng dễ găy vụn của nàng trên tay, tôi nhớ mùi hương của tóc nàng trong đêm Sài G̣n tĩnh lặng, trong những ngỏ hẻm xa xôi chỉ c̣n lập ḷe ánh đèn của những người đi bán hủ tiếu rong.
     Nửa đêm đang chập chờn ngủ, một cảm giác khó chịu bất ngờ làm tôi thức dậy. Áo quần tôi ướt sũng. Nước đă tràn vào thuyền, mọi người đều thức dậy, tiếng la hét ồn ào hoảng loạn. Nước ngập lên mắt cá chân. Tôi phát hiện ra một lỗ thủng trên thân tàu, nước biển xối xả chảy vào. Có một người ngồi dựa vào thành tàu, cố dùng lưng ḿnh để bịt lại. Tôi lấy hết quần áo của mọi người chêm vào lưng anh, cố ngăn ḍng nước hung dữ. Nước rịn ra từ các lớp vải. Mặt anh tái ngắt như một xác chết, có lẽ v́ lạnh, nhưng anh vẫn b́nh tĩnh. Mọi người lúng túng nhưng thơng tay chờ đợi, không ai biết phải làm ǵ, kể cả những người đă từng đi biển. Nước mới đầu rịn ra rồi phun mạnh thành ḍng, tiếp tục tràn vào ḷng thuyền, lênh láng, ngập cả cổ máy và lên đến gần đầu gối. Bàn tay của thần chết bắt đầu sờ soạng lên những thân thể gầy c̣m v́ nắng gió và đói khát.
     Trong thuyền không có sẵn một dụng cụ nào để múc nước. Người ngồi dựa vào thành tàu đă kiệt sức, té sấp vào mặt nước. Tôi ngồi thay vào chỗ anh, cố gượng hết sức, nhưng biết là vô ích. Có một người nghĩ ra một sáng kiến, ḥ hét mọi người lấy những chiếc can đựng dầu chạy máy, đổ hết dầu ra biển, cậy bật và mở lớn các nắp can thành những gàu múc nước. Lúc đó mọi người mới xúm lại chuyền tay nhau tát nước ra ngoài. Thuyền từ từ nổi lên, v́ vậy lỗ hỗng trên tàu, có lẽ trồi lên mặt nước, nên không c̣n phun mạnh nữa. Chúng tôi thay nhau tát nước đến ră rời tay chân. Đến gần sáng th́ nước chỉ c̣n lúp xúp.
     Ngày thứ chín trên biển trôi qua. Một đứa bé trai hai tuổi chết trên tay mẹ. Người mẹ khóc lặng lẽ không thành tiếng. Tôi đến gần nh́n khuôn mặt trẻ thơ xám lạnh. Mặt cháu đầy những đốm tàn nhang đỏ, mắt khô như mắt một con cá nằm trên cạn nhiều giờ. Hai bàn tay cháu co quắp lại. Tôi đặt tay lên ngực, lên bụng của cháu, cúi người lắng nghe hơi thở. Nhưng cháu thực sự đă đi rồi. Tôi lặng lẽ vuốt mắt bé, nhưng hai mí mắt không nhắm hết lại được. Tiễn biệt em, một linh hồn nhỏ, vừa bay đi sau những ngày ngắn ngủi đậu lại trên trái đất, một quả cầu màu xanh ba phần tư là nước mà nhà thơ Xuân Diệu đă từng gọi là “đi như giọt lệ giữa không trung.” Cậu bé trai hai tuổi của tôi, cầu mong em kiếp sau, nếu quả thực người ta c̣n có kiếp sau, sẽ được sống nhẹ nhơm và b́nh an.
     Đêm thứ mười, bọn cướp biển lại đến. Chúng neo thuyền chúng tôi vào sát chiếc thuyền lớn của chúng, bắc những thanh gỗ dài làm cầu để chạy qua chạy lại. Thoạt đầu, chúng ném xuống ḷng thuyền nhiều trái cây và nước uống. Mọi người quên cả sợ hăi, dành nhau những quả cam căng tṛn vàng óng và những b́nh nhựa nhỏ đựng đầy nước mát lạnh. Một trái măng cụt lăn vào chân tôi, tôi cầm lên thứ trái cây quư giá, vỏ màu nâu ấm áp, tṛn trịa như quả bóng nỉ. Tôi cầm nó trong tay, cảm nhận qua da thịt ḿnh vị ngọt và vị đắng của số phận. Tôi định bụng sẽ dành nó cho nàng trong những phút cuối cùng. Bọn cướp biển không cần ra oai như những lần trước, có vẻ thông thuộc đường lối và mọi người. Có lẽ đây là chiếc tàu đă tấn công chúng tôi lần thứ nhất. Chúng xua đuổi và áp giải mọi người lên bờ, đàn bà, con nít và đàn ông. Bổng có tiếng một loạt đạn nổ ở đuôi tàu, nhưng tôi không rơ có ai bị bắn hay không.
     Nàng nép vào tôi run rẩy. Hai chúng tôi cố đứng chen vào giữa và sau những người khác. Tôi chờ những lúc bọn thủy thủ quay đi, tránh ánh mắt của chúng, là lập tức bôi đầy nhọ nồi lên mặt, cổ, tay và chân nàng. Bé Vân không ngớt chạy tới bên mẹ rồi chạy về bên cô bạn tôi. Mặt con bé đầy vẻ lo âu như một người lớn. Tôi suy nghĩ rất căng thẳng trong đầu. Tôi biết rằng tôi không thể làm được ǵ nhiều cho những người khác, nhưng vào giờ phút này, một thứ t́nh cảm có phần nào ích kỷ nổi lên. Tôi tự hỏi, một người phụ nữ như nàng mong muốn ǵ ở tôi lúc này. Sự che chở chăng? Tôi hoàn toàn không có. Một hành động nghĩa hiệp hoặc anh hùng chăng? Có vẻ lố bịch. Hoàn toàn cúi đầu cam chịu số phận chăng? Tôi không biết. Bọn cướp biển rơ ràng đă có một kế hoạch sẵn. Chúng đếm đi đếm lại từng người. Những tên mang súng tiểu liên đứng ở xa xa. Ba bốn đứa có vẻ là thủ lănh đi đi lại lại. Chúng không cười nói hoặc la hét ồn ào như những lần trước. Mọi người gần như yên lặng, một nỗi yên lặng khủng khiếp dày ṿ. Nghe rơ tiếng sóng biển ŕ rào. Tiếng một người thủy thủ ở bên tàu kia hát một khúc hát không nghe rơ bằng thứ tiếng ǵ, buồn man mác, ngân nga vọng lại. Kỳ lạ thay, trong lúc này, tôi vẫn nhận ra giọng hát của hắn hay và trầm như của một ca sĩ chính hiệu, nhưng không có tiếng đệm đàn ghi ta như mọi khi. Tôi cúi đầu xuống. Chỉ có vầng trăng non là lên cao, cao măi.
     Thời khắc trôi qua không c̣n biết nhanh hay chậm. Tôi nh́n những cô gái khoảng mười sáu mười bảy tuổi, đi vượt biên một ḿnh, túm tụm lại với nhau như một bầy chim lạc mẹ, tự hỏi số phận của các cô sẽ về đâu. Một cô bé nhỏ tuổi nhất, có vẻ mặt xinh xắn, ngất đi, ngă xuống bong tàu. Hai ba tên thủy thủ như thú dữ thèm mồi đang ŕnh cơ hội, liền xô tới. Chúng xé rách toạc quần áo cô bé, và chỉ trong chớp mắt, phơi trần truồng thân thể một đứa con gái mới lớn ra trước mắt mọi người. Bổng có một bóng người, th́ ra là người đàn ông có vợ chết trong rừng, mang theo trong chuyến đi một đứa con gái bảy tám tuổi, có lẽ không kiềm chế được nữa, đột ngột lao ra từ phía sau, đứng chắn trước mặt chúng. Tôi thấy tóc anh gần như dựng lên, mặt đanh lại vừa có vẻ sợ hăi, vừa hết sức cương quyết. Bọn thủy thủ lùi lại, bối rối. Chúng đứng yên một lúc khá lâu. Những chiếc quần xà rông của chúng, tương tự như váy ngắn của đàn bà phương Tây, bay lật lên xập x̣e trong gió tối. Tất cả nh́n anh chằm chặp nhưng không nói ǵ, rồi quay lưng bỏ đi. Một loạt đạn vang lên từ phía sau, xô người đàn ông ngă ập xuống sàn tàu. Tôi không thấy máu, có lẽ đạn trổ từ sau ra trước, và anh nằm úp lên vũng máu của chính ḿnh. Những ngón tay anh sờ soạng trên mặt gỗ bóng như những dấu hỏi không có câu trả lời.
     Sau cảnh thị uy vừa rồi, mọi người riu ríu tuân lệnh bọn thủy thủ như một đàn cừu. Những tên thủy thủ đếm lại một lần nữa, vừa kéo vừa đẩy khoảng mười lăm, mười sáu phụ nữ, dồn họ lên những thanh gỗ bắc cầu giữa hai bên để đi qua tàu của bọn chúng. Cô bạn tôi nắm chặt tay tôi, và với giọng nói trở nên b́nh tĩnh lạ thường, nàng th́ thầm: “nghe lời em, giữ ǵn tính mạng. Nếu em bị bắt, hăy để em đi. Anh hăy hứa nghe lời em .” Nàng lặp đi lặp lại hai ba lần. Hay nhiều lần hơn nữa. Tôi không nói ǵ, phẫn uất và tuyệt vọng, thấy ḿnh hoàn toàn bất lực. Tôi nhắm một tên thủy thủ đang cầm súng đứng quay lưng lại phía ḿnh, có vẻ lơ đễnh nhất, và chuẩn bị hành động cuối cùng. Tôi từ từ buông tay nàng ra, để dễ dàng xoay chuyển khi t́nh huống bất ngờ xảy đến.
     Thật vậy t́nh huống bất ngờ đă đến, nhưng theo một cách hoàn toàn khác. Bất chấp những quần áo xốc xếch mà nàng cố t́nh mặc trên người, những dầu mỡ và muội đèn đen kịt tôi cố t́nh bôi lên người nàng, có lẽ bọn thủy thủ vẫn nhận ra trước mặt chúng là một cô gái đẹp, kiểu thành thị. Chúng chỉ vào cô bạn tôi và nắm tay nàng lôi đi. Tôi ôm lấy nàng, nhưng trong một khoảnh khắc bất ngờ, nàng đẩy mạnh tay tôi ra, và thoắt một cái, lách người về phía sau tên thủy thủ. Hai tên khác bẻ ngoặt tay tôi, hất vào thành tàu. Một báng súng thúc vào bắp chân làm tôi khuỵu xuống. Diễn biến rất nhanh, nhưng tôi vẫn c̣n kịp thấy nàng thoăn thoắt bước lên thanh gỗ làm cầu tàu, đi giữa những người đàn bà khác. Nàng ngoái nh́n về phía tôi. Trong một phần của giây đồng hồ ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp ánh mắt nàng. Nàng nh́n tôi với đôi mắt thăm thẳm. Rồi nàng quay đi. Và đột ngột lao xuống biển như một con én.
     Ngôi nhà từ đường của bên ngoại tôi có mái hiên rộng và dài, đầy rêu phong. Mùa xuân, én thường bay về làm tổ. Chúng vừa bay, vừa kêu ríu rít. én là loài chim thông minh và tinh nghịch. Đôi khi chúng bay liệng nhiều ṿng trên cao rồi đột ngột sà xuống thấp, lao hẳn vào người, đến nỗi tôi tưởng là có thể đưa tay ra bắt được. Có lần một con chim én cũng đùa giỡn với tôi như thế, trong một buổi chiều, nhưng không phải vừa bay vừa hót, mà bay nghịch ngợm trong im lặng . Rồi sau đó nó vút lên cao, khuất sau những đám mây chiều có đường viền đỏ rực mặt trời, biến mất, không bao giờ trở lại nữa.

o o o O o o o

     Qua nhiều năm sau khi đă định cư ở Mỹ, tôi một ḿnh trở lại Sài G̣n. Tôi chưa có dịp trở lại bến Ninh Kiều, nhưng đă có lần về đứng trong khu vườn nhà ngoại tôi, cây cối trong vườn bị bom đạn tàn phá gần hết, nhưng cây bồ kết dại vẫn c̣n xanh lá. Tôi đứng dưới cái bóng lặng lẽ của nó trong buổi chiều yên tĩnh nghĩ những mùa mưa và những ngày khô hạn trên quê hương ḿnh, những năm tháng đói nghèo và kiếp sống uất ức lầm than. Tôi đi lang thang qua những thị trấn mới mở đầy bụi bặm, những làng mạc năm xưa tản cư người về c̣n thưa thớt, những bến đ̣ tịch mịch, nhưng không biết để t́m kiếm một điều ǵ. Tôi không hề nghĩ đến chuyện trở lại ngôi nhà cũ của cô bạn tôi, sợ sẽ không chịu nổi vết thương xé nát ḷng ḿnh. Gia đ́nh nàng cũng đă đi định cư hết ở nước ngoài, nghe nói không c̣n ai ở Việt Nam. Một người bạn cũ biết chuyện đă khéo léo chở tôi đi mà không nói trước. Đường phố Sài G̣n đă thay đổi nhiều, trên chiếc xe Honda của anh, qua những ngơ quanh co bí hiểm, tôi hoàn toàn lạc mất phương hướng, cho đến khi dừng lại trước ngôi nhà cũ của nàng. Đêm nay trăng lại sáng, căn phố nhỏ vẫn yên tĩnh như ngày trước. Một căn nhà gạch có dàn hoa giấy, chỉ có lớp sơn là mới.
     Tôi đứng lẫn vào bóng lá của cây mận trước nhà. ánh trăng và ánh đèn đường phản chiếu vào nhau ḥa lẩn mùi thơm của mùa mận trổ hoa. Cánh cửa sổ sơn xanh trên lầu, chỗ pḥng ngủ của nàng, vẫn nửa khép nửa mở như ngày nào. Có tiếng nhạc karaoke vọng ra và tiếng trẻ con cười nói. Căn nhà có lẽ đă đổi chủ nhiều lần, và đây hiển nhiên là một gia đ́nh khác. Sau một hồi thật lâu, tôi lặng lẽ ra về với người bạn. Anh tử tế không nổ máy xe mà dẫn tôi đi bộ một quăng khá xa ra đầu hẻm, nơi có một quán cà phê nhỏ vừa bán cà phê vừa bán phở vẫn c̣n mở đến khuya. Tôi nhận ra bà chủ quán người Bắc di cư mấy chục năm về trước vẫn c̣n, tuy già đi nhưng không khác xưa là mấy. Tôi đắn đo một lúc, uống hết ly cà phê, chờ đến khi đứng dậy trả tiền, đánh bạo hỏi thăm về gia đ́nh cũ của nàng. Kể chuyện một hồi, những chuyện mà tôi cũng có biết phần nào, bà chủ quán tiễn tôi ra cửa, và nói thêm: “cách đây sáu bảy năm, cô ấy có về đây một lần, ngồi khóc thật lâu, rồi đi. Tôi hỏi măi mà cô ấy không chịu nói ǵ cả. Tôi giữ lại không cho đi, th́ cô ấy hứa mỗi năm đến Tết lại về thăm. Nghe nói là làm ăn ở Campuchia hay ở đâu xa lắm. Nhưng từ đó đến nay tôi không thấy cô về …

Thuyền Nhân



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved