www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Chuyện Người Ba Miền

Lạc Long Huỳnh Quốc Phú
(Kể Chuyện Đời Xưa trước 1975)

     Sau Tết Mậu Thân năm 1968, tôi lên đường nhập ngũ để làm nhiệm vụ của một người trai thời loạn. Kể từ đó, trong cuộc sống quân ngũ, tôi đă dịp đi rất nhiều nơi, được tiếp xúc với dân cư của tất cả các miền, tới nhiều vùng mà người dân thường không tới được, nhờ vậy biết được  nhiều phong tục và ngôn ngữ khác nhau. Lúc ban đầu, sự khác biệt từ giọng nói đến danh từ đă làm tôi bỡ ngỡ, nếu không nói là hơi khó chịu. Nhưng chỉ sau chín tuần huấn luyện căn bản tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, nguyên một đại đội hỗn tạp khoảng hai trăm thằng lính ṭ te, đều trở thành đen thui giống nhau, tất cả giọng nói, kể cả những giọng mà những thằng miền nam cho là trọ trẹ, tôi cũng đă nghe quen tai rồi.
     Đây là một trong những bài kể chuyện đời xưa của tôi. Đến cái tuổi ngoài sáu bó nh́n lại, ôi bao nhiêu là kỷ niệm, kể lại cho nhau nghe, kể để ḿnh sống lại thời tuổi trẻ, kể để cho khối óc già nua của tôi làm việc trở lại, và sau cùng, kể để cho bộ óc già nua của tôi thích làm cái việc mà nó thích làm nhất: kể chuyện đời xưa.
    
Ngoài ra, v́ đây là những chuyện kể ra từ nam chí bắc, từ đông sang tây, từ tốt tới xấu, từ thanh tới tục, của dân, của lính, nên nó không có một đề tài nhất định. Những ǵ tôi nghe, tôi thấy, tôi kể lại dưới cặp mắt của một người miền nam. V́ là dân miền nam, hơn nữa đây chỉ là những nhận xét của cá nhân tôi, cho nên nó không hẳn đúng với tất cả mọi người. Tôi không có tham vọng bắt chước cụ Vương Hồng Sển sưu tầm những chuyện trong dân gian, tuy nhiên nếu một ngày nào đó, cụ chịu nhận tôi làm đệ tử th́ tôi sẽ hănh diện nhận ngay. Nhưng chỉ tiếc rằng, chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra bởi v́ cụ Vương Hồng Sển đă viên tịch hơn mười năm nay rồi!

-----

    
CHUYỆN NGƯỜI MIỀN BẮC.

    
Tôi là người sinh ra và lớn lên tại Sóc Trăng, người cùng quê với cụ Vương Hồng Sển đấy nhá; một xứ hiền ḥa ở gần tận cùng phía nam của nước Việt Nam. Người dân Sóc Trăng có lẽ bắt đầu tiếp xúc với người miền bắc từ năm 1954. Sau khi cả triệu người bắc ĺa bỏ quê hương vào nam lánh nạn cộng sản, nhiều khu dinh điền được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thành lập để giúp những người di cư lập nghiệp trở lại. Những khu dinh điền này hầu hết là người Công Giáo và được lănh đạo bởi một vị linh mục. Tại tỉnh Sóc Trăng có làng Đại Hải, hay c̣n gọi là Cống Đôi. Đại Hải cách Sóc Trăng 19 cây số nằm trên Quốc Lộ 4 từ Sóc Trăng lên Cần Thơ.
     V́ hầu hết những người di cư này có đạo Công Giáo cho nên nhiều người dân Sóc Trăng cứ tưởng, hễ là người bắc đều là những người theo đạo Công Giáo. Thêm một điều nữa là hầu hết những người bắc này đều ăn thịt chó, cho nên nhiều người cứ tưởng là người bắc nào cũng ăn thịt chó. Có lẽ v́ không đủ chó cung cấp cho giới tiêu thụ, nên người của làng Đại Hải thường hay lân la sang những xóm khác để mua thêm. Vác cái bao bố trên vai, đi đến đâu người này đều bị cái giống gia súc có linh tính sủa vang cả một góc trời. Với kinh nghiệm vài lần như vậy, người dân xóm tôi biết chắc là ông mua chó đang có mặt gần đó mỗi khi chó cả xóm đồng loạt sủa vang. Theo tôi nghĩ, mấy con chó xóm tôi ngu quá, đáng lẽ chúng phải im thin thít để người mua chúng đi qua mà không ai biết, chứ sủa ồn ào như vậy th́ người chủ nào muốn bán chúng, th́ sẽ không bỏ mất cơ hội này. Có người trong xóm tôi c̣n tỏ ư nghi ngờ là mấy ông này c̣n bắt cả con nít bỏ trong bao nữa.
     Có nhiều sự dị biệt giữa người dân hai miền, nhưng rồi, không biết từ lúc nào tôi thấy người dân Sóc Trăng cũng biết ăn rau muống chẻ, cũng biết giă cua đồng làm bún riêu, thậm chí nhiều dân nhậu cũng bắt đầu ghiền thịt chó. Nhiều học sinh cấp trung học của làng Đại Hải, mỗi sáng phải đón xe đ̣ về Sóc Trăng để học. Hầu hết những người này là học sinh chăm chỉ. Đối với họ, học là một cơ hội quý giá để tiến thân, so với nhiều người sinh trưởng ở miền nam như tôi, coi việc đi học là bị bắt buộc. Người miền nam có tiếng là lè phè, có bị đói, bị khổ bao giờ đâu mà phải lo học hành cho cực khổ? Tôi vẫn c̣n nhớ một chuyện vui vui của lớp bên cạnh và do một người trong lớp đó kể lại:
Trong giờ Việt Văn của lớp này, thầy giáo gọi anh L. hỏi bài:
     -“L. em giải thích nhân loại là ǵ?”
     L. đứng lên trả lời một cách nhanh nhẹn không vấp một hơi thở nào:
    
-“Dạ thưa thầy, nhân nà người, noại nà noài, nhân noại nà noài người.”
     Cả lớp đều cười thích thú v́ câu trả lời của anh L.
     Trước khi vào quân đội, tôi đă có dịp làm quen với giọng bắc qua một số giáo sư dạy. Tôi cũng quen một vài bạn người bắc mà gia đ́nh định cư tại Sóc Trăng v́ công vụ. Nhưng thật sự tôi hiểu rơ người bắc nhiều hơn là sau khi nhập ngũ. Cho đến bây giờ th́ tương đối tôi biết khá nhiều về người bắc bởi v́ hiền thê của tôi cũng là... người bắc chính cống.
     Hầu hết người miền nam nghe giọng bắc th́ cứ tưởng là giống nhau, nhưng không, người bắc cũng có sự khác biệt lớn lắm. Mỗi vùng có một giọng nói khác nhau. Người miền thượng du khác người miền duyên hải và dĩ nhiên, người ở tại Hà Nội lúc nào cũng tự hào là họ văn minh và có giọng nói đúng nhất. Khi c̣n ở trong quân ngũ, có một lần tôi nghe hai anh người bắc chửi lộn với nhau, một anh mở miệng chửi:
     -“Đ.M. chú mày là Bắc Kỳ Va Ly Mây mà.”
     Tôi hết sức thắc mắc, chẳng hiểu “Bắc Kỳ Va Ly Mây” là Bắc Kỳ ǵ? Phải đợi đến ngày hôm sau tôi mới có dịp hỏi anh ta:
     -“Ê mày, Bắc Kỳ Va Ly Mây là Bắc Kỳ ǵ vậy?”
     Anh ta trả lời:
     -“Bắc Kỳ đi tàu há mồm đấy.
     À th́ ra mấy anh “Bắc Kỳ” cũng kỳ thị nhau lắm. Anh này chê anh kia thuộc loại nhà quê, Bắc Kỳ 54 xách cái va ly bằng mây đi vào nam bằng tàu há mồm của Mỹ đấy. Tuy nhiên, tôi cũng đă từng gặp nhiều anh Bắc Kỳ Va Ly Mây này và họ rất tự hào về nguồn gốc của ḿnh. Họ c̣n tự nhận ḿnh là Bắc Kỳ Thịt Chó và c̣n hát nghêu ngao: “Từ bắc vô nam tay cầm nắm rơm, tay kia cầm sợi dây, để bắt con cầy...”
     Chú thích: Sau này lại có người giải thích cho tôi biết, Bắc Kỳ Va ly Mây là những người bắc được tây mộ đi làm phu đồn điền. Dù ǵ đi nữa, ư nghĩa vẫn là coi thường những người này thuộc loại quê mùa.
     Trong khoảng thời gian tôi thụ huấn tại quân trường Thủ Đức, một hôm có một đoàn văn nghệ tâm lư chiến đến tŕnh diễn ủy lạo Sinh Viên Sĩ Quan. Lúc ấy nhạc Trịnh Công Sơn rất thịnh hành. Khi người nữ ca sĩ hát bản nhạc Diễm Xưa đến câu:

    
“Chiều nay c̣n mưa sao em không lại?
     Nhớ măi trong cơn đau vùi...”

    
Lúc người ca sĩ hát đến câu thứ nh́ th́ cả một đám “Bắc Kỳ” Sinh Viên Sĩ Quan đồng loạt hát theo: “Nhớ măi trong cơn đau bùi.”
     Họ nhấn mạnh và kéo dài chữ bùi và đồng thời cả bọn cười lên một cách khả ố. Những thằng miền nam như tôi chả biết mấy tên đó cười cái ǵ? Sau đó tôi phải hỏi một tên trong bọn th́ mới biết “cái buồi” (không phải là bùi) là cái của quư của người đàn ông đấy. Th́ ra là vậy, mấy tên “Bắc Kỳ” này lấy làm thích chí mỗi khi nghĩ đến những cơn đau...b.u.ồ.i.i...của chúng. Duy chỉ có một điều tôi thắc mắc là, thông thường để chỉ cái đó của người đàn ông, người ta dùng chữ “con”, c̣n để chỉ của người đàn bà th́ người ta dùng chữ “cái”, trong khi danh từ “cái buồi” lại dùng để chỉ cho giống đực th́ thật sự tôi không biết phải giải thích như thế nào?    

-----

    
CHUYỆN NGƯỜI MIỀN TRUNG.

    
Đối với một người miền nam quê tại Sóc Trăng như tôi, người miền trung thật sự xa lạ cho đến khi tôi vào trong lính. Địa h́nh miền trung hiểm trở, cho nên tiếng nói từng vùng cũng khác nhau khá nhiều. Từ Quảng Trị vào đến Thừa Thiên là khác rồi. Nói thật chính xác, người dân cách thành phố Huế mười cây số là giọng nói cũng đă khác. Qua khỏi đèo Hải Vân về phương nam, th́ Quảng Nam, Quảng Ngăi đă hoàn toàn khác hẳn. Một người bạn miền nam của tôi được lệnh thuyên chuyển ra Đà Nẵng, ngày đầu tiên tại một quán ăn anh ta gọi:
     - “Cô cho tôi một dĩa cơm sườn và một chai nước cam”
     Cô chủ quán lập lại:
     - “ Một dĩa cơm sườn và một chai nước cơm”
     Anh bạn tôi liền đính chánh:
      “ Nước cam chứ không phải nước cơm cô ơi”
     Cô chủ quán trả lời:
     “Tôi biết rồi, một chai nước cơm”
     Anh bạn của tôi lùng bùng một lát mới biết là chữ “cam” phát âm theo giọng địa phương là “cơm” đó.
     “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn.”
    
Một người bạn Huế của tôi diễn tả miền trung là nơi: núi lấn người xuống biển, biển lại đánh người trốn lên núi. Đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, thiên tai đầy dẫy, hạn hán vừa qua là tới mưa băo, rồi trời đày cơn lụt hằng năm…hoàn cảnh như vậy nên con người phải quật cường phấn đấu để sinh tồn. Phải có tiếp xúc với họ th́ mới biết người miền trung chịu cực, chịu khó cỡ nào. Người ngoài đó làm cái ǵ cũng đều để hết tâm tư và làm tới nơi tới chốn.
     Khi c̣n thụ huấn tại Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung, mỗi đêm chúng tôi đều phải ra nằm ứng chiến tại ṿng đai pḥng thủ. Sau một ngày  học tập mệt mỏi, hầu hết các khóa sinh đều hay la cà ở mấy gánh chè, vừa để trêu ghẹo mấy cô, vừa để thưởng thức một ly chè để bồi bổ cho thân thể. Khi sắp sửa măn khóa chín tuần, vào một đêm, tôi bắt gặp một anh cùng trung đội, anh này là người xứ Quảng, không rõ là Quảng Nam hay Quảng Ngăi. Sau khi sửa soạn xong chỗ ngủ, anh ta rút từ trong ba lô ra một cái đèn hột vịt làm bằng lon sữa ḅ, một chai dầu hôi nho nhỏ, cho dầu vào đèn rồi đánh diêm, xong xuôi anh rút quyển tập ghi chép “binh thư” ra ôn lại. Tôi hết sức ngạc nhiên là tại sao lại có người chịu khó đến như vậy. Mấy thằng miền nam như tôi cứ nghĩ rằng, khi đă đi lính, th́ có nghĩa là không cần phải học hành ǵ nữa. Vả lại chín tuần huấn luyện tại Quang Trung chỉ là để tốt nghiệp thành một...binh nh́ mà thôi.
     Một lần khác, vào một buổi ăn trưa tại Quang Trung, trong khi tôi rất khó khăn nuốt từng miếng cơm lính với cá mối làm chuẩn, th́ trước mặt tôi cũng là một anh xứ Quảng. Anh này vừa ăn vừa khen: “Cơm lính ngon quá, cơm lính ngon quá”. Ban đầu tôi tưởng anh ta châm biếm cơm lính, đến khi anh ta lập lại lần thứ ba, tôi mới để ư th́ trời ơi, cái gà mèn của anh ta chứa đầy ắp cơm trắng, một con cá mối nhỏ xíu, một chén nước mắm với nước muối nhiều hơn nước mắm, chỉ có vậy thôi mà anh ta tiêu thụ hết cả một gà mèn cơm to tướng đó.
     Trước khi măn khóa Thủ Đức để ra đơn vị, một anh trong đại đội của tôi tuyên bố là:
     “ Tụi mày biết không? Thằng Chữ đi lính bảy tháng dư được hai chục ngàn”.
     Anh Chữ là người Huế, hiền hậu. Tôi không tin đó là sự thật, nhưng tôi thấy anh Chữ không lên tiếng phản đối, chỉ cười mà thôi. Theo sự tính nhẩm của tôi, nếu quả thật anh ta để giành được hai chục ngàn, th́ trong suốt thời gian thụ huấn, anh ta hoàn toàn không xài một đồng đến tiền lương. Trong khi những thằng miền nam như tôi, tên nào mà không xin thêm tiền nhà là hănh diện lắm rồi chứ đừng nói là dư được một đồng.
----
     Một câu chuyện dưới đây đã làm tôi cười hoài mỗi khi kể lại:
     Sau khi làm thủ tục nhập khóa tại trại Nguyễn Tri Phương thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, mười hai tên, trong đó có tôi, từ Vùng 4 Cần Thơ, bị trễ khóa và phải đợi đến khóa sau. Trong khi chờ đợi, chúng tôi tạm trú trong một pḥng văng lai trước khi được cấp giấy phép về nhà hai tuần. Ngoài mười hai người chúng tôi trong căn pḥng to lớn này c̣n có một anh tên Cho. Anh Cho cũng là người xứ Quảng. Tôi không hiểu v́ sao từ Vùng 1 vào, lạc loài chỉ có một ḿnh anh bị trễ khóa. Câu chuyện đưa đẩy nên chúng tôi biết anh Cho mới lấy vợ được ba tháng. Sau khi thố lộ tâm sự nhớ nhung người vợ mới cưới của ḿnh th́ đề tài khai thác của mấy tên từ Vùng 4 bắt đầu nhộn nhịp:
     “Ê cha, cái đêm động pḥng cha có làm ǵ được không?”
      Anh Cho:“Đâu có dám làm ǵ, chỉ có đụng tay thôi.”
     “Như vậy th́ tới chừng nào cha mới làm được?
      Anh Cho:“Phải ngày hôm sau, tôi mới dám ôm bả.”
      “Ê, mỗi đêm cha làm mấy lần?”
     Anh Cho:“ Khoảng bốn năm lần .
     Một tên trong bọn của tôi c̣n cắc cớ hỏi:
      “Hỏi thiệt cha nghe, lấy vợ được ba tháng rồi, chứ cha có thấy cái đó của vợ cha chưa?”
     - Anh Cho thật thà trả lời:
     “Chưa, ḿnh không dám nh́n v́ sợ vợ nói ḿnh là mất tư cách.”
     Nghe đến đây, tôi thật sự không thể nín cười được nữa. Tôi cười đến độ xém té từ giường trên cao xuống đất. Tội nghiệp anh Cho, anh là một người rất thật thà, cô đơn, đang nhớ người vợ mới cưới của ḿnh da diết. Anh trả lời những câu hỏi có tính cách ṭ ṃ, trêu ghẹo với một nét mặt thành khẩn như là để giải bày tâm sự nhớ nhung của ḿnh. Cá nhân tôi không dám ghẹo anh v́ tôi không nỡ chọc ghẹo một người quá thật thà như anh, nhưng thật t́nh mà nói, tôi không thể nào nín cười được. Anh c̣n cho cả bọn tôi xem một cái quần của vợ anh với lời giải thích là dùng để...thưởng thức nếu có nhớ quá...
     Nói về miền trung th́ phải nói tới Huế, nếu nói tới Huế th́ không thể nào không nói đến con gái đất Thần Kinh. Trong một chuyến công tác ra Vùng 1, tôi có dịp ghé lại Huế sáu tiếng đồng hồ. Dưới mắt tôi, một người miền nam chính cống, cảm thấy Huế rất cổ kính và có dáng dấp buồn buồn. Chiếc trực thăng của chúng tôi đậu bên bờ Sông Hương, bên kia bờ là Phú Văn Lâu, nơi mà ngày trước vua ngự để hóng mát. Gần băi đậu trực thăng là trường nữ trung học Đồng Khánh với những tà áo trắng thướt tha. Cả bọn chúng tôi vẫy tay chào các em lia lịa và cũng được các em nồng nhiệt đáp ứng. Có được mấy tiếng đồng hồ không làm ǵ, chúng tôi đi bộ qua cầu Trường Tiền, ghé chợ Đông Ba. Tại đây tôi cũng bày đặt mua một cái nón lá bài thơ để cho ḿnh có cảm tưởng là một du khách. Một điều đặc biệt là những phụ nữ tại đây, dù là buôn gánh bán bưng, nhưng khi đi ra đường họ đều mặc áo dài.
     Đi ngang qua một quán cốc có để bảng “Bún Ḅ Huế,” cả đám chúng tôi ghé vào v́ mùi thơm quá hấp dẫn. Đúng là bún ḅ Huế v́ nó cay xé gió. Bốn người chúng tôi vừa ăn vừa xuưt xoa, vừa lau mồ hôi rịn trán, trong khi đó mấy khách hàng ngồi kế bên, mỗi lần ăn họ c̣n cắn thêm ớt trái.
     Thức ăn của người Huế rất cay, hầu hết các món ăn đều có ớt, hơn nữa trong mỗi bữa ăn c̣n có thêm dĩa ớt trái. Tôi có người anh làm trong Bộ Giáo Dục, trong một chuyến công tác tại Huế, anh tôi được một người bạn mời ăn cơm. Bữa ăn của người Huế được bày biện rất nhiều món, mỗi món một ít, chén dĩa bày ra chật cả bàn và mỗi người có một dĩa ớt trái riêng. Khi bữa ăn đến nửa chừng, th́ đứa con gái của chủ nhà khoảng tám tuổi chỉ cái dĩa ớt trống trơn của ḿnh mếu máo. Anh tôi tưởng là cháu bé khóc v́ bị cay quá, ai ngờ khi biết ra, bé khóc là v́ không c̣n ớt cho bé nữa.
     Sau khi ăn xong bún ḅ Huế, chúng tôi lại dạo chơi chợ Đông Ba,  đến khi không c̣n chỗ nào để đi nữa, cả bọn chúng tôi đồng ư với nhau là đi...lắc đ̣. Đă ra tới đây mà không biết “lắc đ̣” th́ quả thật là một sự thiếu sót. Sự ṭ ṃ đă làm tôi muốn biết lắc đ̣ ra sao hầu để về khoe “chiến tích” của ḿnh với những bạn bè miền nam. Cả bọn lần ṃ xuống một bến đ̣ bên bờ Sông Hương. Nơi đây, vài chục chiếc ghe đậu thành từng khúm nhỏ. Khi bốn người chúng tôi tới gần, nhiều bàn tay vẫy vẫy mời mọc, th́ ra là vậy, đó là một xóm... chị em ta nổi trên sông...
      Tôi vẫn c̣n nhớ măi h́nh ảnh cái bến đ̣ ấy, nơi đó, đă cho tôi một kỷ niệm khó quên, bởi v́ tôi không thể t́m thấy ở bất cứ nơi nào khác có một cái bến đ̣ giống như vậy...
     Trong khoảng thời gian phục vụ tại Pleiku, tôi có quen một cô người Huế. Phải công nhận là giọng nói con gái Huế thật là dịu dàng, nhẹ nhàng. Giọng nói này dễ làm con trai miền nam như tôi mơ màng và sau cùng là đầu hàng một cách dễ dàng. Nhiều người nói rằng, con gái Huế rất lăng mạn. Riêng cá nhân tôi cảm thấy con gái Huế rất dễ thương và lúc nào cũng có một ít thi vị hóa trong sự giao thiệp của hai người.

    
Con trai xứ Quảng ra thi,
     Thấy cô gái Huế ớc đi không đành.

Người con trai xứ Quảng ra thi bỏ lại con tim tại Huế, th́ những người con trai miền nam đổi ra Vùng 1 cũng chẳng hơn ǵ:

    
Con trai Sài G̣n ra đây,
     Loay hoay vài bước ẵm ngay một nàng.

    
Có lẽ v́ không duyên số, câu chuyện t́nh của tôi không có hậu, nhưng dù sao, đó cũng là một kỷ niệm đẹp trong đời khó quên...

-----
    
CHUYỆN NGƯỜI MIỀN NAM.

    
“Lè phè,” đó là hai chữ mà hầu hết mọi người đồng ư khi nói về người miền nam. Nếu so với người miền trung và miền bắc th́ người miền nam không phải là đối thủ trên những phương diện học vấn và chính trị.
     Người miền trung và miền bắc rất chú trọng đến việc tạo dựng một công danh sự nghiệp cho ḿnh. Họ không bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào đến với họ, trong khi đó, người miền nam rất lơ là, có thể nói là ngại chịu cực, v́ vậy con đường công danh rất giới hạn. Đồng bằng miền nam là đất mới, mầu mỡ. Ruộng mênh mông đầy lúa, vườn cây trái xum xuê. Dưới sông, trên ruộng, tôm cá chẳng những bắt ăn không hết, mà còn dư thừa để làm khô làm mắm giành cho cả năm, người dân có bị đói bao giờ đâu mà phải chịu khó học hành, làm chính trị? Đó là những lư do tại sao người miền nam trở nên lè phè.
     Lúc tôi 7 tuổi, có một người ăn xin vào nhà xin năm cắc. Má tôi nói là không có tiền lẻ, nên cho người ăn xin một lon gạo, nhưng người ăn xin này lại từ chối lon gạo đó chỉ v́ ông ta không muốn... vác nặng. Cũng như tôi vẫn c̣n nhớ lúc đó, mỗi lần người hàng xóm của tôi than văn là hôm nay ăn cơm với ba khía, có nghĩa là người đó không c̣n đủ tiền để mua thịt cá, chứ chưa bao giờ tôi nghe họ than là không có cái ǵ để ăn. Ba khía là một loại mắm cua, rất rẻ, lúc đó năm cắc hai con, ăn rất ngon.
     Kể cả trong thời kỳ chiến tranh, mặc dù đời sống kinh tế càng lúc càng khó khăn, nhưng tính t́nh người miền nam vẫn lè phè và ỷ lại vào mảnh đất ph́ nhiêu của vùng đồng bằng miền nam nước Việt. Trong một lần công tác ở Cà Mau, tôi có gặp một ông Trung Úy Địa Phương Quân. Ông này đang chờ chuyến bay trở về Năm Căn, nơi ông ta đang đồn trú với một đại đội. Ông ta khoe rằng:
     “Tôi là người Sài G̣n, lúc mới ra trường, khi nhận lệnh đổi về Cà Mau, tôi tưởng là cuộc đời của tôi tàn rồi. Không ngờ ở đây riết rồi thấy quen. Làm trưởng đồn ở Năm Căn tôi không cảm thấy thiếu thốn ǵ hết, tôm cá dư thừa, muốn nhậu lúc nào cũng được. Tôi c̣n có thêm một bà...vợ bé là cô giáo ấp ở trong đó nữa đó.”
     Ông Trung Úy này c̣n tuyên bố là, nếu như có lệnh thuyên chuyển về Sài G̣n th́ ông ta sẽ xin ở lại.
     Nói về địa h́nh, ngoại trừ lác đác một vài ngọn núi như Núi Bà Đen ở Tây Ninh và mấy ngọn núi trong vùng Thất Sơn Châu Đốc, phần c̣n lại của miền nam đều bằng phẳng với những sông ng̣i chằng chịt. Sự lưu thông trên bộ hay dưới nước đều dễ dàng. Chính v́ như vậy cho nên giọng nói của người miền nam không khác biệt từ vùng này đến vùng khác. Một người sinh trưởng ở Cà Mau, giọng nói cũng không khác nhiều với một người sinh trưởng ở Sài G̣n. Mặc dù là vậy, lối phát âm của người nam cũng có cái đặc biệt của nó. Có những chữ, có lẽ v́ lười biếng đánh lưỡi nên người ta phát âm một cách cho suông miệng và những chữ này thường nghe nhiều hơn ở những tỉnh cực nam như: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Rạch Giá. Thí dụ:
     Chữ “R” nói thành “G” như: “Rảnh rỗi” thành “Gảnh gỗi.”
     Chữ “TR” nói thành “CH” như: “Trân trọng” thành “Chân chọng.”
     Chữ “V” nói thành “D” như: “Vẻ vang” thành “Dẻ dang.”
     Chữ “G” nói thành “D” như: “Cái ǵ?” thành “Cái d́?”
     Chữ “S” nói thành “X” như: “So sánh” thành “Xo xánh”
     Ngoài ra người miền nam phát âm không phân biệt dấu hỏi hay dấu ngă, chữ có “G” hay không có “G,” chữ “I” ngắn với “Y” dài và c̣n rất nhiều chữ nữa mà người miền nam phát âm chỉ để cho suông miệng chứ không cần phân biệt ư nghĩa.

    
Anh “ga” ngoài “guộng,”
     Anh bắt cá “gô,”
     Anh bỏ “dô gổ,”
     Nó nhảy “gột gẹt.”

    
Hay là:

    
“Gầu gỉ gâu gia ga gậm gạp,
     Gờ gâu, gâu gụng, gờ gún, gún gun ginh.”

    
Ca dao:

    
“Chong” đầm “d́” đẹp bằng “xen,”
     Lá xanh bông “chắng” lại chen “nhỵ” “dàng.”
     “Nhỵ” “dàng” bông “chắng” lá xanh,
     Gần “bùng” mà chẳng hôi tanh mùi “bùng.”

     Một câu chuyện vui vui xảy ra khi tôi phục vụ tại phi trường Cần Thơ:
     Hai người bạn trong đơn vị của tôi, một là người bắc và một là người nam, cả hai rủ nhau ra phố chơi từ sớm. Trong khoảng thời gian này, nhân viên của đoàn pḥng thủ phi trường làm một hàng rào kẽm gai chắn ngang con đường mà hằng ngày chúng tôi thường đi.
     Khi hai anh trở về th́ trời đă tối. Anh người bắc chở anh người nam, anh này lo nói chuyện nên không để ư đến hàng rào kẽm gai trước mặt. Khi chiếc Honda của hai anh đến sát bên hàng rào th́ anh người nam ngồi sau hoảng hốt la lên: “Gào...gào.” Anh người bắc chẳng hiểu ǵ cả và trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó anh ta đâm sầm vào cái hàng rào kẽm gai. Kết quả là cả hai đều bị trầy trụa. Khi kể lại chuyện này, anh người bắc vẫn c̣n tức tối: “Hàng rào th́ nói hàng rào, chứ la gào gào th́ ai mà hiểu được!”
     Trong lúc b́nh thường, anh bạn người nam của tôi phát âm chữ “R” như mọi người, nhưng trong lúc hốt hoảng anh hiện nguyên h́nh là một người miền nam “gặc gòng.” Riêng cá nhân tôi, khi nhập ngũ tôi biết chữ “R” mà phát âm thành chữ “G” là đề tài hài hước cho những người vùng khác chọc ghẹo, vậy mà trong lúc bất chợt, một lần tôi trả lời câu hỏi của một người bạn: “Tao làm gồi,” và dĩ nhiên tôi bị cả đám chọc quê: “Bắt cá gô, bỏ gổ, nhảy gột gẹt”. Sau lần đó tôi không bao giờ quên khi phát âm chữ “R” nữa.
     Sóc Trăng quê tôi có rất nhiều người Tàu gốc Triều Châu c̣n gọi là Người Tiều. Họ làm ăn rất chăm chỉ và nắm hầu hết nền kinh tế quan trọng. Người miền nam vốn dĩ lè phè, lại thêm người Tiều tính t́nh rất đơn giản, không xem trọng bề ngoài, kiểu cách, quanh năm nhiều người chỉ mặc một quần ngắn và cái áo lót ngắn tay.
     Khi được lệnh thuyên chuyển từ Cần Thơ ra Pleiku, tôi gặp anh Hào (không phải tên thật,) lúc đó Hào lại đang làm thủ tục thuyên chuyển từ Pleiku về lại Cần Thơ. Hào là người cùng quê Sóc Trăng với tôi và là gốc người Tiều.
     V́ là bạn bè thân thiết, nên trước khi rời Pleiku, Hào được một người bạn thân tên Trân (không phải tên thật) người Cần Thơ gửi gấm:
     “Ông cầm cái thư này về gặp bà chị tôi, bả sẽ giúp ông trong lúc đầu.”
     Sau khi Hào về Cần Thơ khoảng một tháng, Trân chạy lại kiếm tôi với một bức thư trong tay và một bộ mặt nhăn nhó khó coi:
     “Ông coi nè, thằng Hào về Cần Thơ làm tôi mất mặt quá!”
     Vừa nói Trân vừa ch́a cái thư cho tôi xem. Cầm cái thư, nhưng v́ lịch sự tôi không mở ra đọc. Tôi hỏi Trân có chuyện ǵ vậy? Trân trả lời:
     “ Ông coi đó, nó về dưới đó làm tôi mất mặt với bà chị của tôi quá đi!”
     Sau đó Trân bắt đầu kể lể: bà chị của Trân chỉ lớn hơn Trân có một tuổi, có nghĩa là cùng cỡ tuổi chúng tôi, làm cô giáo, độc thân. Cùng ở chung nhà c̣n có hai cô em gái và một em trai, tất cả đều còn độc thân và đã trưởng thành. Những ngày đầu về Cần Thơ, Hào có tá túc nhà chị của Trân một thời gian ngắn. Theo lời bà chị của Trân kể lại, khi về đến nhà, Hào thường hay cởi trần trùng trục, chỉ mặc có cái quần đùi và cứ đi tới đi lui trước mặt mọi người, kể cả những lúc bà chị của Trân có bạn gái đến thăm. Khi ăn cơm, Hào rút cả hai chân ngồi chồm hổm trên cái ghế. Trong khi ăn, Hào quơ đũa càn quét tô canh, và tệ hơn nữa là cây muỗng nào để ra cũng bị Hào dùng để múc canh và húp sùm sụp. Tôi nghe Trân kể xong cười ngất, v́ đó là những h́nh ảnh quen thuộc tôi đă từng thấy ở những gia đ́nh người Tiều tại quê tôi. Có một điều tôi lấy làm ngạc nhiên là, sau một thời gian khá dài trong lính, Hào vẫn là Hào của Sóc Trăng ngày nào không thay đổi...    
     Nếu nói gái bắc là bén nhạy, hiểu ư người; gái Huế nhẹ nhàng, thi vị và lăng mạn th́ theo tôi cái đáng yêu của người con gái miền nam là sự mộc mạc và đơn giản.
     Nếu nh́n dưới phương diện của một người đứng ngoài th́ mộc mạc đơn giản là điều tốt. Nhưng nếu nh́n về phương diện xử thế khéo léo, th́ khả năng của con gái miền nam sẽ bị nghi ngờ khi phải làm dâu nhà chồng là người trung hay bắc. Một người bạn người Huế của tôi nhận xét như vậy: “ Nếu đưa một con cá lóc cho một cô dâu người Huế, th́ cô dâu người Huế sẽ làm ra ba món. Nếu đưa con cá lóc đó cho một cô dâu người nam th́ gia đ́nh chỉ được một món mà thôi.”
     Tôi có quen một người bạn tên Vĩnh Nam (không phải tên thật), là một cựu Sĩ Quan Hải Quân trong QLVNCH. Cha anh là gịng giơi hoàng tộc, vai vế gia tộc của anh còn cao hơn cựu hoàng Bảo Đại một bậc. Không hiểu v́ lư do ǵ mà cha anh vào nam rất sớm, gặp mẹ anh và ở lại miền nam. Anh sinh trưởng tại Trà Vinh và là một người tính t́nh xuề x̣a. Nếu không nh́n thấy cái họ Vĩnh, th́ không ai có thể biết anh là gốc người Huế. Những người Huế cổ xưa vẫn c̣n kính trọng những người thuộc gịng giơi hoàng tộc, nên khi tiếp chuyện, họ vẫn cung kính gọi anh là “Mệ” (Hoàng Gia.) Tôi vẫn thường gọi đùa anh là “Mệ Trà Vinh” trong những lần gặp gỡ. Anh đă kể cho tôi nghe một vài chuyện trong gia đ́nh kết hợp giữa cha Huế mẹ Nam của anh:  
     Có một lần, mẹ anh rủ cha anh đi xem hát. Cha anh đang mải mê công việc nên không muốn đi. Mẹ anh cứ theo năn nỉ măi, cha anh bực ḿnh khoác tay nói sẵng: “Sao cũng được” để không c̣n phải nghe mẹ anh lải nhải nữa. Mẹ anh tưởng cha anh đồng ư, hăm hở đi sửa soạn. Nào ngờ sau đó mẹ anh khám phá ra là chữ “Sao cũng được” của cha anh là nói lẫy để mẹ anh đừng đ̣i hỏi nữa, chứ không có nghĩa là đồng ư. Chỉ có vậy thôi mà mẹ anh giận cha anh cả tháng trời, bởi v́ theo ư nghĩ đơn giản của người miền nam th́ “Sao cũng được” có nghĩa là anh đă chiều ư tôi rồi, chứ không phải rắc rối lắt léo hiểu là anh đang nói lẫy.
     Khi ông nội của anh qua đời, cả gia đ́nh anh phải ra Huế chịu tang. Trước khi đi, cha anh thừa biết mẹ anh là con dâu miền nam, tính t́nh đơn giản, bụng nghĩ sao, mặt hiện ra vậy, không mầu mè, không biết đóng kịch. Cha anh năn nỉ mẹ anh là khi ra tới Huế, mẹ anh phải tỏ ra hết sức bi ai, đau khổ và phải khóc lóc một cách thảm thiết để cho trọn đạo làm dâu, nhất là dâu của hoàng tộc. Mẹ anh nhận lời và hứa sẽ cố gắng hết ḿnh. Đến Huế, khi cả gia đ́nh anh vừa vào đến cổng rào, th́ cha anh vội vàng quỳ xuống đồng thời khóc lóc một cách thảm thiết. Vừa khóc, cha anh vừa đi bằng hai đầu gối đến tận quan tài của ông nội anh. Mẹ anh và mấy anh em của anh hoảng hồn, tất cả đều quỳ xuống và lổm ngổm ḅ theo cha anh.
     Tang lễ xong xuôi, trên đường trở về nam, cha anh trách mẹ anh sao không khóc nhiều hơn. Mẹ anh nói là đă khóc nhiều lắm mà. Cha anh trách mẹ anh là: “Mặt em nhăn nhó giống như khỉ ăn ớt nhiều hơn là giống một người đang khóc!”
     Mặc dù phong tục của người bắc cổ xưa rất khắt khe và rắc rối đối với con dâu, nhưng kể từ sau năm 1954, số lượng người bắc di cư vào nam khá nhiều. Sự tiếp xúc và hội nhập vào miền nam đă làm thay đổi thành kiến của các bậc cha mẹ người bắc khi có con dâu là người miền nam. Những cuộc t́nh kết hợp giữa trai bắc gái nam càng ngày càng nhiều. Người miền bắc sống trong nam cũng hiểu rằng họ không thể đ̣i hỏi nàng dâu người nam phải sống hoàn toàn theo phong tục của người bắc, cũng như những nàng dâu người nam khi lấy chồng bắc th́ họ cũng rất để ư mỗi khi phải tiếp xúc với gia đ́nh bên chồng. Những chàng trai người bắc lớn lên ở trong nam lần lần rồi cũng nhiễm tính lè phè và sống một cách ḥa đồng như những người dân miền nam.
     Một anh bạn người bắc của tôi kể lại với giọng hết sức là tiếc rẻ khi cuộc t́nh bắc nam của anh không thành: trong mỗi lần đến thăm người con gái anh quen, anh đều được sự đón tiếp một cách niềm nở và chân thành của bà mẹ:
     “Con vào đây chơi, để Má đi lấy trái cây cho con ăn.”
     Kể lại bằng cách nhái giọng người nam, mắt anh lim dim, anh cố t́nh kéo dài chữ “Ma.a.á” mà theo anh diễn tả nghe sao đậm đà và thân mật quá chừng. Sau khi kể, anh chắc lưỡi như là tiếc nuối kỷ niệm một mối t́nh đẹp trong cuộc đời ḿnh.
     Như tôi đă nói từ đầu, cái đáng yêu của người con gái miền nam là sự mộc mạc và đơn giản. Có thể tôi quá chủ quan và cố t́nh bênh vực con gái miền nam v́ tôi là người miền nam. Tuy nhiên nh́n tới nh́n lui, tôi thấy rất nhiều chàng trai người bắc, sau khi sống một quăng đời niên thiếu ở miền nam, đă không c̣n ngần ngại bỏ lại con tim của ḿnh nếu gặp một nàng mộc mạc yêu kiều nào đó. Bằng chứng, theo thống kê mà tôi đếm được, lúc c̣n ở trung học, rất nhiều thầy trẻ độc thân người bắc, sau khi đổi về dạy tại trường trung học Hoàng Diệu Ba Xuyên của tôi, chỉ vài năm sau, một số đông các thầy đã bỏ lại con tim của ḿnh tại nhà những cô học tṛ nho nhỏ khá nhiều.
     Nói tóm lại: nếu gái bắc khôn khéo, hiểu ư người; gái Huế nhẹ nhàng lăng mạn, th́ người con gái miền nam nhờ vào sự mộc mạc, đơn giản. Sự mộc mạc đơn giản này, lúc đầu những chàng trai người trung và bắc tưởng là quê mùa, nhưng đến khi đă bỏ lại con tim của ḿnh rồi, th́ họ mới biết đó là sự lợi hại của những người con gái miền nam đó.
     Ôi con gái cả ba miền tôi đều thấy rất dễ thương, chỉ có mỗi một điều đáng tiếc là khi thương, tôi chỉ được quyền chọn một mà thôi!     

2011
Lạc Long Huỳnh Quốc Phú
(Hiền nội edit)



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved