www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Một chút cảm nghĩ về
ngôi trường Hoàng Diệu cũ


Nguyễn Hồng Phúc (Montréal - Canada Khóa 67- 72)

     Tôi rời trường Hoàng Diệu vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, sau khi lệnh Tổng-Động-Viên vừa được ban hành cho những nam học sinh sanh trước năm 1955. Nhiều bạn chấp hành lệnh này lên đường nhập ngũ. Một vài bạn trai khác, trong đó có tôi, chọn con đường khác đó là học nhảy lớp và luyện thi Tú-Tài I cuối cùng ở Việt Nam (kỳ thi Tú-Tài này được bải bỏ vào năm 1973).
    
Sau khi đậu Tú-Tài I, với sự giúp đỡ của thầy Phan Văn Nhiều huynh hiệu trưởng trường Lasan Khánh Hưng, tôi tiếp tục việc học lớp 12B2 trường TaberdSài G̣n. Tại đây tôi cảm thấy một sự cạnh tranh mảnh liệt giữa các học sinh đến từ mọi miền trên đất nước. Cũngđô thị Sài G̣n này người ta mới thấy đây môi trường rất tốt để học tṛ ganh đua, thi thố tài năng giữa các trường trung học nổi tiếng như Petrus-Kư, Chu Văn An, Trưng Vương, Trường Toản, Gia Long, Taberd, Jean-Jacques Rousseau, Marie Curie, Fraternite v…v…
    
Sự cách biệt về kiến thức giữa học tṛ đô thị tỉnh thành rất rệt trong những bộ môn như sinh ngữ, thực tập vạn vật hóa học. Cuối năm ấy, tôi  đứng hạng thứ 5 trên 60 học sinh lớp 12B2 trường Taberd, nhưng lại dẫn đầu 3 bộ môn: toán, hóa công dân. Sau khi đậu Tú-Tài II với số điểm 15/20 môn Pháp Văn, khá cao so với tiêu chuẩn được đi du học, tôi nộp đơn và được chấp thuận qua Canada du học. Tháng 11 năm 1973, tôi cuốn gói lên đường, bồi hồi bỏ lại tất cả kỷ niệm thời niên thiếuViệt Nam để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới trên đất lạ quê người với một tương lai không chút bảo đảm.
    
Đặt chân đến Canada, tôi mới thấy sự cạnh tranh lại càng mảnh liệt bội phần khi phải chung đụng với nhiều sắc tộc khác như Tàu, Nhật, Phi, Arabe, Pháp, Ư, Mỹ, Tây Ban Nha, Nam Mỹ, Phi Châu Canada. Sinh Ngữ Anh và Pháp Văn không phải là tiếng mẹ đẻ cho nên việc học hành của tôi có phần giảm sút chút đỉnh so với các cựu học sinh chương tŕnh Pháp như Marie Curie, Fraternité và Jean-Jacques Rousseau.
    
Trong bốn năm học thật vất vả về mặt vật chất v́ phải đi làm bán thời gian để cung cấp cho việc học hành và cuộc sống hàng ngày, tôi ra trường với mảnh bằng kỷ sư về cơ khí và vẫn tiếp tục đi làm để sinh sống. Với tấm ḷng ham học muốn hội để tiến thân về sau, tôi tiếp tục học lên Cao Học. Sau bốn năm học bán thời gian, vừa đi làm vừa đi học, tôi đạt được bằng Cao Học về Tài Chánh (MBA – « Master of Business Administration – Finance »). Sau đó tôi cũng tiếp tục học thêm Cao Học ngành Kỹ Sư Cơ Khí.
     Trải qua một quăng thời gian dài lê thê trên xứ người và lăn lộn trong cuộc sống thời sinh viên nghèo khổ cũng như lúc đi làm b́nh thường bằng nghề Kỹ Sư, có thể đă làm cho tôi gần như quên hẳn kỷ niệm với bạn bè cũ của trường Hoàng Diệu. Gần đây nhờ liên lạc với Bùi Ngọc Thạch, tôi t́m lại được những người bạn đồng môn ngày xưa để có dịp chia sẽ những kỷ niệm thời niên thiếunhà trường.
    
Nhân kỳ về thăm quê hương gần đây, tôi t́m thấy cuốn Kỷ-Yếu Lasalle Taberd 72-73 nằm nguyên vẹn trong một góc tủ. Trong tập Kỷ-Yếu có liệt kê những cựu học sinh, giáo viên và ban giám thị trường với những sinh hoạt của trường bằng h́nh ảnh cũng như những trang dành để vinh danh những học sinh xuất sắc trong từng bộ môn từng lớp. Xem xong tập Kỷ-Yếu này, tôi không khỏi có những suy nghĩ về ngôi trường cũ mà tôi đă theo học 5 năm. Mặc dù ngày nay đă nhiều cố gắng để làm ra đặc san Hoàng Diệu với vài trang vinh danh những cựu học sinh xuất thân từ Hoàng Diệu, nhưng nội dung chính của đặc san chỉ cho biết tin tức tổng quát của trường với tính cách thông tin. Trường chưa có truyền thống như những trường khác ở đô thị lớn như Sài G̣n, tập Kỷ-Yếu được phát hành đặc biệt cho từng niên khóa với h́nh ảnh từng học sinh các lớp sắp sửa ra trường cũng như c̣n đang ở tại trường với đầy đủ dư liệu về tên tuổi, cảm nghĩ của các thầy cô cho từng năm học. Đây  là một món quà rất quí giá cho học sinh về sau, dịp xem lại những kỷ niệm thuở học tṛ...
    
Đă hơn 37 năm xa cách, cuộc đời trôi nổi bôn ba nhưng những kỷ niệm thi đua học tập thời niên thiếu dưới mái trường Hoàng Diệu vẫn không phai mờ trong kư ức. Với những giờ dạy nhạc của thầy Thiên, giờ hội họa của thầy Thế, những buổi « đố vui để học », tính nhẩm đáp ứng nhanh về toán, lư hoá của thầy Nhiều và thầy Lân. Làm sao quên được cách giảng dạy triết lư của thầy Nguyễn Tư Thiếp. Học tṛ hay hỏi thầy « Tư Thiếp » nghĩa là ǵ? Có đứa trả lời thầy rằng « Tư Thiếp » là... « vợ lẽ » th́ bị thầy mắng khéo là ngu đần, không hiểu cái nghĩa sâu xa của tên thầy. Cái triết lư thầy giảng dạy đă giúp tôi học được cái tính phân tích tỉ mỉ (analytical analysis) ở xứ người.
    
Nhớ mỗi chiều chiều, bộ ba Thiếp, Nhiều và Lân thường đi dạo ngoài đường phố Hai Bà Trưng cho khuây khỏa sau những giờ dạy căng thẳng. Ở cái tỉnh nhỏ này ngoài việc đi bộ th́ đâu có  thú tiêu khiển nào khác. Những người thầy trẻ tuổi này đă hy sinh nhiều về tiện nghi và cuộc sống nhộn nhịp của đất Sài G̣n để về miền quê hẻo lánh như tỉnh Sóc Trăng nhận công tác giảng dạy.
    
Thầy Nguyễn Thái Lân dạy học tṛ cách tập trung tư tưởng vào sự suy nghĩ bằng cách học « thiền » trong lớp. Cô Nguyễn Phương Yến bị học tṛ cột áo dài vào bàn học khi cô đi xuống từng bàn học sinh để cắt nghĩa môn Pháp Văn một cách hăng say. Và nhất là không thể quên thầy Ngô Trọng B́nh dạy Anh Văn có cái h́nh dáng oai nghiêm và to lớn rất ư là Mỹ.
    
Không khí se lạnh của Montreal vào đầu xuân cũng như những emails của các bạn cũ Hoàng Diệu gửi đến từ Mỹ, Pháp và quê nhà tạo cho tôi cảm hứng viết vài cảm nghĩ này về trường Hoàng Diệu. Trong chuyến về thăm quê nhà gần đây nhất, tôi có dịp trở lại thăm trường, mới thấy trường khác xưa rất nhiều, hầu như đổi mới hoàn toàn. Chạnh nhớ sân trường cũ với hàng cây phượng vỹ mà mỗi độ hè về những cánh hoa đỏ thắm nở rộ cả một gốc sân. Nhớ những người thầy hết ḷng giảng dạy để tạo cho đàn em những kiến thức căn bản cho cuộc đời. Có những thầy và bạn đă vĩnh viễn ra đi, những người c̣n lại th́ cái tuổi trẻ cũng không c̣n.
    
cựu học sinh Hoàng Diệu nhưng dù ở phương trời xa thẳm nào, người ta vẫn không quên mái trường xưa yêu dấu. Bao cảm giác bồi hồi khi những kỷ niệm hiện về theo trí nhớ, thầy cũ bạn xưa ...
    
Hởi các bạn trẻ sau này, với sự khuyến khích của Bộ Giáo Dục cũng như những phương tiện tối tân hiện nay như máy vi tính, pḥng thí nghiệm (laboratoire) v...v.. các em nên cố gắng học tập tốt, thực hành sinh ngữ Anh Văn và Pháp Văn để sau này có cơ hội tiến xa hơn những đàn anh đàn chị đă đi trước và có hy vọng tạo cho ḿnh một chỗ đứng cao và tốt trong xă hội, hầu mang lại một vẽ vang nào đó  cho trường Hoàng Diệu ... và niềm hănh diện đến cho các thầy cô đă hết ḷng d́u dắt các em ...

Some thoughts of old Hoang-Dieu High School
N.H.Phuc
(Montréal-Canada 67-72)

     I left Hoàng Diệu High School in the Red Hot Summer 72 after mobilization order was issued for all male students born before 1955 at the class of 10B1.
     Most of students of this class must go to the military service obeying the new national order.
Some of us, including myself preferred to choose other alternative of not going to military service. I had 2 months to prepare the National Baccalaureate Part 1 examination. I succeeded this Baccalaureate with score Very Good. Then I applied to
Lasalle Taberd Saigon with the help of my Mathematic professor Phan Văn Nhiều of Hoàng Diệu at that time and the rector of Lasan Khanh-Hung. I pursued the class 12B2 at this school and wrote Baccalaureate Part 2 in summer 1973 with score Good and an excellent mark of French course 15/20 which exceeded largely the requirement of Ministry of Education to pursue study abroad. Arriving Canada in December 1, 1973 I felt the competition tougher/fiercer because of the presence of other foreign students from other countries such as Chinese, French, American, Spanish, Italian, Philippine, Japanese, Egyptian, Lebanese, South American, African, etc… Since my mother tongue was not English neither French my studies were more or less affected while other French program students of Jean-Jacques Rousseau, Marie-Curie and Fraternité enjoyed and succeeded well their studies. After 4 year of Engineering school I finally obtained the engineering degree and started working in different companies – aircraft, cement manufacturing and telecom. Since I grew up in a small town and in an average family, I always dreamed to get a much better life for my family and for my country, I decided afterwards to pursue the Master of Business Administration while working full time. I obtained finally an MBA degree in Finance and pursued again the Master of Mechanical Engineering. With a lonely life and no relatives in this country, I decided to get married shortly after engineering graduation. The busy life in Canada with a small family makes me disconnect with the former comrades of Hoàng Diệu.
     Recently with the help of one of my friends in
SocTrang, Bùi- Ngọc Thạch when I came back to VN in the occasion of my father death, I fortunately got a list of all former students of Hoang-Dieu then the souvenirs came back then. I found also an Achievement Year Book (Palmares) of Lasalle Taberd showing all activities during school year 72-73. It had also shown honored students and pictures of everything from students to professors, picnic and musical activities, graduation ceremony, school facilities, etc…After reading the book I felt ashamed of my former Hoàng Diệu school in a small town of SocTrang where the tradition is not well established yet. It might take some time to catch up with those famous High Schools in Saigon despite having a lot of efforts done by Hoang-Dieu staffs to create a new magazine of Hoàng Diệu with one page honoring former Hoàng Diệu students. Despite leaving 37 years from Hoàng Diệu, the competition spirit among comrade is still unforgettable in my memory. Life changed with time, up and down, rich and poor but minds are still with the old school where my youth was alive. How can we forget the time spent on musical course with professor Thiên and Fine Arts with professor Thế. The most enjoyable time was the quick tests of Mathematics and Physics in class. Those new young professors - Thiếp, Nhiều and Lân accepted new challenges for teaching posts in a small town like SocTrang instead of enjoying teaching in a vibrant and bustling city like Saigon. It is impossible to forget the philosophical teaching from professor Nguyễn Thiếp. Students often asked professor Thiếp what it means Thiếp and one student answered without hesitation that Thiếp means "private wife". That student got bad critic from professor Thiếp. The philosophical lessons learned from Professor Thiếp  taught me a lot of analytical analysis senses in Canada. The triple professors - Thiếp, Nhiều and Lân walked along main streets of SocTrang every evening in order to relax themselves after spending long hours with students during the day. Apart from those activities they had nothing to do in a town like SocTrang. Professor Nguyễn Thái Lân taught student how to learn and practice Yoga during lag time in class. Some annoying students attached the lower part of professor Yen’s robe to the table when she walked down to the student table to explain French lessons. Professor Ngô Trọng B́nh, teaching English had a build up body of an American in VietNam.
     The spring time in Montreal has arrived and with the reception of some emails for my birthday from comrades located around the world reminded me of all these souvenirs and brought me back to the time of 1972. It also provides me a source of inspiration to write down these words.
     I went to my town recently and visited the new
Hoàng Diệu school which is much different from 37 years ago. It also reminded me the Vietnamese Flame tree (Phuong-Vy) in a corner of the backyard of school that grew a lot of red flowers when time changed from spring to summer.
     Reminding me also of all those professors who tirelessly taught students how to learn life lessons and prepared them for a brighter future.
     Some of those professors and former comrades unfortunately passed away and the rest of us are getting older.
     Those former students despite the fact they are living in all corners of the world will never forget their old
Hoàng Diệu school.
     Message for young students today – you should spend more efforts in order to perform well in school with all encouragement from Ministry of Education providing all the necessary facilities in place such as computers, laboratories and English Practice. Your future will be secured with your efforts. You will make your professors proud of you, so does the
Hoàng Diệu High School.

(Montréal - Canada Khóa 67- 72)



Về lại mục lục của trang VĂN




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved