www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Xứ Phật Huyền Bí

Nguyễn Hữu Kiệt dịch

Chương 1
Phương Pháp Môn Kriyâ Yoga

     Pháp môn Kriyâ Yoga, thường được đề cập đến trong quyển sách này, đă từng được phổ biến rộng răi ở xứ Ấn Độ nhờ bởi đức Lahiri Mahasaya, vị tôn sư của thầy tôi. Danh từ Kriyâ do Phạm Ngữ Kri, có nghĩa là hành động, và cùng một gốc rễ với danh từ Karma, nguyên lư tự nhiên về nhân quả. Kriyâ Yoga có nghĩa là "Hợp nhất với đấng Vô Cùng do sự trung gian của một nghi thức hay hành động". Người Yogi thực hành đúng đắn pháp môn này sẽ lần lần tự giải thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp quả.
    
Theo một nguyên tắc cổ xưa có tự ngh́n đời về trước, tôi không thể tiết lộ trọn cả pháp môn Kriyâ Yoga trong một quyển sách dành cho đại chúng. Chỉ có người đạo sĩ Kriyâ Yogi mới có thẩm quyền truyền dạy pháp môn này, mà tôi sẽ tŕnh bày dưới những nét đại cương.
    
Pháp môn Kriyâ Yoga là một phương pháp giản dị về cả hai mặt tâm linh và thể chất, giúp cho con người bài tiết chất thán khí của cơ thể ra ngoài và tiếp thêm dưỡng khí vào máu. Những nguyên tử dưỡng khí phụ trội sẽ chuyển thành một luồng sinh khí phục hồi sinh lực cho bộ phận kinh tủy năo. (Bác sĩ George W. Crile, nhà Bác học Mỹ nổi tiếng, năm 1940 có tŕnh bày trong một phiên họp của Hội Phát Triển Khoa Học Mỹ, những cuộc thí nghiệm đă giúp cho ông chứng minh rằng tất cả những tế bào trong cơ thể con người đều chứa âm điện, trừ ra những tế bào của óc và thần kinh hệ chứa dương điện bởi v́ những tế bào này tiêu thụ chất dưỡng khí mau lẹ hơn.)
     Người Yogi có thể tŕ hoăn, hoặc ngăn ngừa sự già cỗi của các tế bào bằng cách ngăn chặn sự tích tụ của máu đen, những nhà đạo sĩ tiến hóa cao có thể thay đổi các tế bào của họ thành chất tinh lực thuần túy. Elie, Jesus, Kabir và các nhà tiên tri khác đều biết rơ pháp môn Kriyâ hay một pháp môn tương tự có thể giúp các ngài biến thể hay tàng h́nh tùy
theo ư muốn.
    
Kriya Yoga là một pháp môn rất cổ, mà Lahiri Mahasaya đă thụ giáo của tôn sư Babaji, vị này đă phát hiện và chấn chỉnh lại pháp môn ấy sau nhiều thế kỷ bịđắm ch́m trong quên lăng. Babaji đă nói với Lahiri Mahaysaya.
     Pháp môn Kriya Yoga mà Thầy dùng con làm trung gian để truyền bá cho đời vào giữa thế kỷ mười chín này, chính là cái pháp môn mà cách đây nhiều ngàn năm, đức Krishna đă truyền dạy cho Arjuna.
Đạo sư Pantanjali, đấng Christ, thánh Jean, thánh Paul và những vị thánh tông đồ khác cũng đă từng biết rơ pháp môn ấy. Krishna, đấng tiên tri lớn nhất Ấn Độ, đă đề cập đến pháp môn Kriyâ Yoga trong một câu thánh kinh Bhhagavad Gita: "Những người khác vận chuyển luồng sinh khí bằng cách điều chỉnh hơi thở ra hít vào, và tập luyện phép khí công Pranâyama".
     Câu ấy có nghĩa là: "Người Yogi
ngăn chận sự già nua của thể xác bằng cách tiếp thêm luồn sinh khí, và ngăn sự trưởng thành bằng phương tiện bài tiết. Bằng cách hóa giải sự già nua và trưởng thành của thể xác, và điều ḥa nhịp độ của quả tim, người Yogi nắm vững cái bí quyết của vấn đề sanh tử".
     Krishna cũng nói rằng trong một tiền kiếp, ngài đă truyền dạy pháp môn Yoga bất tử này cho Vivasvat, bật giác ngộ của thời đại cổ, việc này truyền lại cho đức Manu, nhà sáng lập nên luật pháp Ấn Độ. Đức Manu truyền lại cho Ixvâku, nhà sáng lập nên triều đại vương tướng của Ấn Độ. Được truyền khẩu từ thể kỷ này qua thế kỷ khác, pháp môn Yoga này được các đấng Chân Sư ǵn giữ trải qua thời gian cho đến kỷ nguyên duy vật. Nhưng v́ các vị tăng lữ thời xưa bao trùm nó trong một bức màn bí mật và cũng do bởi sự thản nhiên của người đời, nên rốt cuộc khoa pháp môn thiêng liêng này đă lần lần biến mất.
     Đạo sư Pâtanjali viết như sau: "Pháp môn Kriyâ Yoga gồm có: Kỷ luật của xác thân, kiểm soát tư tưởng, và tham thiền về thánh ngữ AUM".
Pâtanjali cho rằng Thượng Đế, tức là sự rung động trong vũ trụ của tháng ngữ AUM mà người hành giả nghe được trong cơn tham thiền. AUM tức là danh từ sáng tạo, là tiếng động cơ của vũ trụ. Người hành giả tu luyện Yoga sẽ có lúc nghe được âm thanh văng vẳng của thánh ngữ AUM vang lên từ chỗ sâu thẳm của nội tâm ḿnh. Trong khi y nhận được một sự khích lệ tâm linh như thế, người hành giả biết rằng y đă tiếp xúc với cơi thiêng liêng.
     Trong trạng thái tiếp xúc sơ khởi với Thiêng Liêng như vừa kể trên (Savikalpa Samâdkhi), tâm thức của người hành giả đắm ch́m trong tâm thức của vũ trụ, nguyền sinh lực thoát ra khỏi xác thân y, làm cho xác thân y có vẻ như chết, cứng đơ, bất động. Người Yogi hoàn toàn ư thức được sự sống chậm lại của thể xác y. Khi y đạt tới trạng thái cao siêu hơn (Nirvikalpa samâdlhi), tâm thức của y ḥa hợp với Thiêng Liêng trong khi y vẫn tỉnh táo và hoàn toàn ư thức được mọi việc xảy ra chung quanh ḿnh.
     Sri Yukteswar giảng giải cho các đệ tử như sau:
     - Pháp môn Kriyâ Yôga là một phương pháp hối thúc sự tiến hóa của con người. Từ thời cổ xưa, các nhà đạo sĩ Yogi đă khám phá ra điều bí mật này, là tâm thức vũ trụ được nối liền chặt chẽ với sự kiểm soát hơi thở, đó là sự góp phần bất hủ và độc đáo của Ấn Độ vào cái kho tàng kiến thức của nhân loại. Nguồn sinh lực của con người, lúc b́nh thường bị hao tán do bởi sự náo động hằng ngày, phải được gom lại để dùng trong những hoạt động tâm linh cao siêu hơn bằng cách thực hiện hành pháp Yoga làm lắng dịu nhịp độ của hơi thở.
     Người Yogi dùng tư tưởng dẫn luồng sinh lực đi theo một đường ṿng xuyên qua sáu bí huyệt của tủy xương sống (từ bí huyệt trên đỉnh đầu xuống các bí huyệt ở cuống họng, ở tim, ở rún, ở lá lách và xương mông), rồi đi ngược trở lên, để khép một ṿng tṛn tương đương với mười hai cung Hoàng Đạo, tượng trưng vũ trụ trong con người (Tiểu thiên địa). Một lần công phu chừng nửa phút đồng hồ ṿng quanh xương sống
theo pháp môn kriyâ, giúp cho con người thực hiện một sự tiến bộ bằng một năm tiến hóa tâm linh thông thường.
     Một lần phép công phu Kriyâ thực hiện trong ṿng một ngày đem đến cho người Yogi một sự tiến hóa tâm linh tương đương với một ngàn năm tiến hóa tự nhiên, và công phụ của một năm tu luyện sẽ đưa kết quả bằng 365.000 năm. Như thế, pháp môn Kriyâ Yoga giúp cho người hành giả thực hiện trong ba năm tu luyện công phu, một sự tiến bộ vượt bực mà
theo đà tiến hóa tự nhiên, nó phải cần đến 10.000 thế kỷ. Tuy nhiên, muốn theo con đường tắt của pháp môn Kriyâ Yoga, chỉ có những người Yogi đă được huấn luyện thuần thục dưới sự chỉ dẫn của các vị chân sư, nhờ đó học chuẩn bị thể xác lẫn tinh thần đến mức tuyệt đỉnh, khả dĩ tiếp nhận cái quyền năng pháp triển bằng sự công phu tu luyện thường xuyên.
     Người sơ cơ mới tập luyện pháp môn Kriyâ chỉ nên tu luyện từ 14 đến hai mươi 28 vào mỗi thời công phu, mỗi ngày hai thời. Thường th́ các nhà đạo sĩ Yogi
chỉ hoàn tất công phu tu luyện của học trong sáu năm, mười hai năm, hai mươi bốn năm, hay bốn mươi tám năm. Người Yogi chết trước khi đạt được mục đích tối cao sẽ đem theo một căn quả tốt do nơi công phu tu luyện trong quá khứ, và trong kiếp sau, y sẽ có điều kiện tốt để tiếp tục tu luyện cho đến lúc thành công.
    
Thể xác của một người thường cũng ví như một ngọn đèn 50 Watt, không thể chịu nổi một điện thế một triệu volt gây ra bởi sự thực hành quá mức pháp mô Kriyâ Yoga. Sự gia tăng một cách tuần tự và hợp lư số lượng công phu Kriyâ sẽ từ từ thay đổi xác thân đến mức có thể chịu đựng nổi luồng thần lực mănh mẽ của vũ trụ, tức là sự biểu lộ đầu tiên của Tinh Thần.
     Sự bồi dưỡng sinh lực trong giấc ngủ là do bởi sự kiện rằng con người tạm thời mất đi cái ư thức xác thân và hơi thở của ḿnh. Trong khi ngủ, người ta vô t́nh trở nên một người Yogi; mỗi đêm, vô t́nh và không hề hay biết y thực hiện pháp môn Yoga là thoát ra ngoài mọi ư thứ về xác thân, và để cho nguyồn sinh lực thấm nhuần vào bộ óc và sáu trung tâm bí yếu phụ thuộc trong tủy xương sống.
Như vậy, trong giấc ngủ, người ta đắm ch́m một các vô ư thức trong cái kho dự trữ tinh lực của vụ trụ, nguồn gốc của mọi sự sinh tồn.
     Trái hẳn với người ngủ, người Yogi
áp dụng có ư thúc một phương pháp giản dị và tự nhiên cùng một loại. Người Yogi dùng pháp môn Kriyâ Yoga để đem Ánh Sáng bất diệt thấm nhuần và nuôi dưỡng các tế bào của thể xác, và duy tŕ chúng trong một trạng thái thấm nhuần từ điển một các thường xuyên. Y khiến cho sự hô hấp trở nên không c̣n cần thiết, nhưng không v́ thế mà đưa giấc ngủ hay sự hôn mê bất tỉnh.
     Nhờ luyện pháp môn Kriyâ, nguồn sinh lực của con người không bị hao tán, hay lăng phí bởi sự loạn động của giác quan, mà được gom về những trung tâm bí yếu trên tủy xương sống để được thấm nhuần một thứ thần lực tinh anh. Chính bởi đó mà thể xác và những tế bào trong óc của người Yogi
được truyền vào một sức mạnh tâm linh nó tăng cường sự sống. Khi đó, người Yogi không c̣n phải tuân theo chặt chẽ những định luật thiên nhiên, như là ăn uống thanh đạm, sống gần thiên nhiên, với ánh nắng và khí trời, nuôi tư tưởng tốt lành... là những phương tiện quanh co nó chỉ có thể đưa y đến mục đích trong một thời kỳ lâu dài là mười ngàn thế kỷ. Một người thường, có sức khỏe tốt, phải mất mười hai năm tu luyện mới gây nên một sự thay đổi khả quan trong cơ cấu của bộ óc, và cần đến một triệu năm để tinh luyện bộ óc cho đến mức có thể khai triển tâm thức vũ trụ (Consicience cosmique)
     Cuộc đời của người đạo sĩ Kriyâ Yoga không c̣n tùy thuộc vào những nghiệp quả của quá khứ, mà chỉ tùy thuộc nơi những mệnh lệnh của linh hồn. Do đó, người hành động tốt hay xấu của cuộc đời hằng ngày, chẳng khác nào như sự tiến triển thô sơ của con ốc, không c̣n phù hạp với đôi cánh bay xa của con chim phụng hoàng.
     Một phương pháp sinh hoạt tâm linh rất cao siêu giúp cho người Yogi
thoát ra khỏi các ngục tù của bản ngă để thở bầu không khí tự do của trạng thái siêu thức. Cuộc đời thế gian, trái lại, đưa con người vào một ngơ bí không có lối thoát. Dẫu cho con người noi theo con đường tiến hóa, y cũng phải chịu lệ thuộc những định luật thiên nhiên, dù cho y không vi phạm một định luật nào về vật chất hay tinh thần, y cũng không khỏi mắc kẹt trong ṿng luân hồi sinh tử trải qua một thời gian mười ngàn thế kỷ trước khi đạt tới sự giải thoát cuối cùng.
     Để thoát ra khỏi cái ṿng lẩn quẩn đó, pháp môn Kriyâ Yoga là cái bí quyết để trả lời cho những người nào bất măn với cái
chu kỳ một triệu năm. Cái chu kỳ đó c̣n kéo dài hơn nữa đối với những người, tuy có thức tỉnh đổi chút để nghĩ đến sự sống tâm linh, nhưng hăy c̣n theo đuổi những thú vui phàm tục, và làm tổn thương đến tính chất thiêng liêng của họ bằng hành động và tư tưởng. Đối với họ, th́ hai triệu năm cũng c̣n chưa đủ để tự giải thoát!
     Con người tự lầm lộn ḿnh với cái phàm ngũ, y tưởng rằng chính y suy tư, cảm xúc, mong muốn, ước vọng, hay hành động việc nọ việc kia, chứ không biết rằng trong cuộc đời hằng ngày, y chỉ là một kẻ bù nh́n bị cai quản bởi những nghiệp quả của quá khứ, và bởi hoàn cảnh chung quanh.
Tuy nhiên, những khả năng trí thực, những khuynh hướng, tập quán, thói quen.... đều tùy thuộc một các chặt chẽ nơi những nguyên nhân trong quá khứ mà nguồn gốc có thể truy ra hoặc trong kiếp này, hoặc ở một tiền kiếp. Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ đó, chỉ có linh hồn, một thực thể bất biến mà pháp môn Kriyâ Yoga có sứ mạng giải thoát bằng cách xé tan bức màn vô minh, nguồn gốc của mọi sự chướng ngại và trái buộc Linh hồn vào ṿng luân hồi sinh tử.
     Đức Giáo Chủ Shankara viết trong quyển sách bất hủ "Những thế kỷ" (Centuries) của ngài như sau:
     "Những nghi thức lễ bái bề ngoài không thể dẹp tan sự vô minh, hai điều đó có khi lại c̣n đi đôi với nhau. Chỉ có sự hiểu biết mới có thể dẹp tan được sự vô minh. Sự hiểu biết hay kiến thức, chỉ có thể đạt tới được bằng sự t́m ṭi, tọc mạch về lư trí.
Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Vũ trụ từ đâu mà có? Ai sáng tạo ra nó? Nguồn gốc nó do đâu mà ra?... Đó là sự tọc mạch t́m ṭi mà tôi muốn nói đến".
     Trí óc con người đành chịu bất lực không thể giải đáp những câu hỏi đó. Bởi đó, các đấng Chân Sư thời cổ mới đem đến cho chúng ta pháp môn Yoga để làm cho ta thỏa măn sự khát khao hiểu biết.


Chương 2
Một Trường Yoga Tại Ranchi

     Khi tôi xuất gia theo ḍng tu sĩ Swami, một hôm Sri Yukteswar có nói với tôi chuyện khá bất ngờ:
     - Con có cảm thấy thiếu một người vợ hiền để săn sóc con trong lúc tuổi già chăng? Con nghĩ rằng một người gia trưởng làm một công việc hữu ích để nuôi dưỡng vợ con, há lại không được đẹp ḷng Thượng Đế sao?
     Tôi phản kháng trong sự kinh ngạc:
     - Bạch sư phụ, Sư phụ đă biết rằng ước vọng duy nhất của con trong kiếp này là xuất gia tầm đạo
kia mà!
    
Sri Yukteswar cười lớn một cách cởi mở đến nỗi tôi hiểu rằng người chỉ muốn thử thách tôi mà thôi. Đoạn, Sư phụ nói một cách chậm răi:
     - Con hăy nhớ rằng người nào từ bỏ những bổn phận thế gian, phải biện minh cho thái độ của ḿnh bằng cách đảm đương những trách nhiệm nặng nề đối với một gia đ́nh đông hơn nhiều, đó tức là đại gia đ́nh nhân loại.
    
Tôi vẫn thường nôi cái lư tưởng giáo dục có thể phát triển tất cả mọi khía cạnh của nền giáo dục thông thường, nó chỉ phát triển xác thể và trí tuệ. Những giá trị tinh thần và tâm linh là những điều kiện thiết yếu của hạnh phúc, lại hoàn toàn thiếu hẳn trong những chương tŕnh giáo dục chính thức. Tôi bèn quyết định thành lập một trường học đem cho họ trở nên những người tài đức, vẹn toàn. Tôi bắt đầu thâu nhận bảy thiếu sinh ở Dihika, một thành phố nhỏ ở tỉnh Bengale.
     Sau đó một năm, nhờ ḷng hào hiệp giúp đỡ của vị quốc vương Kasimbazar, tôi đă có thể dời lớp học của tôi đến Ranchi, và lớp học càng ngày càng đông học tṛ. Ranchi, thành phố của tỉnh Bihar cách Calcutta độ hai trăm dặm, có một khí hậu tốt lành được liệt vào hàng những nơi khí hậu lành mạnh nhất ở Ấn Độ. Hoàng cung Kasimbazar ở Ranchi được đổi thành học đường mới của tôi, mà tôi đặt tên là Thiếu Sinh Học Đường. Theo lư tưởng giáo dục của các vị chân sư thời cổ xưa ở Ấn Độ, các đạo viện giữa vườn trung tâm giáo dục ban bố cả hai nên học vấn thế tục và giáo dục tâm linh.
     Tại Ranchi, để dạy ban tiểu học và trung học, tôi thiết lập những chương tŕnh gồm cả các môn canh nông, kỹ nghệ và thương mại, không kể những môn kỹ luật thông thường.
Các học sinh cũng học những phương pháp Yoga về tập trung tư tưởng và tham thiền và một môn thể dục mệnh danh Yogoda, mà tôi đă khám phá những nguyên tắc đại cương vào năm 1916.
    
Sau khi năm học đầu tiên măn khóa, những đơn xin gia nhập học năm sau lên đến số hai ngh́n thiếu sinh. Nhưng trường học chỉ có đủ chỗ nội trú cho độ một trăm học sinh và những lớp mới cho học sinh ngoại trú được tổ chức thêm sau đó.
     Tại học đường, tôi phải lo săn sóc những trẻ thiếu
nhi và giải quyết những vấn đề gay go về phương diện tổ chức. Những lời nói của đức Christ thường trở lại trí nhớ của tôi: "Ta nói thật cho các ngươi biết, người nào v́ ta và chánh nghĩa của ta mà từ bỏ nhà cửa, hay anh em, chị em, cha mẹ, con cái, hay đất vườn của họ sẽ nhận được ngay trong đời này nhiều gấp trăm lần những nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng cùng với những sự khủng bố ngược đăi của thế gian, và trong đời sau họ sẽ được sự sống trường cửu muôn đời".
     Sri Yukteswar b́nh luận những lời ấy như sau:
     - Người hành giả đă từ bỏ hôn nhân và cuộc sống gia đ́nh sẽ đổi những nỗi lo âu phiền lụy của một tiểu gia đ́nh và của những hoạt động trần gian để đảm đương lấy một trách nhiệm lớn lao hơn, là phụng sự nhân loại, trong công tŕnh này y thường đụng chạm với sự hiểu lầm của người đời, những trái lại, y sẽ nhận được phần thưởng là một sự an lạc bên trong thuộc về tính chất thiêng liêng.
    
Có lần cha tôi đến Ran chi để thăm tôi sau một thời gian im lặng kéo dài, v́ tôi đă làm trái ư cha tôi khi tôi từ chối không nhận một địa vị của người dành cho tôi trong Công ty Hỏa Xa. Cha tôi nói:
     - Con hỡi, cha đă thông cảm sự chọn lựa của con. Cha sung sướng mà thấy con hoạt động giữa những thiếu
nhi vui tươi và hồn nhiên. Cha nh́n nhận đó mới là chí hướng của con, thay v́ những văn pḥng của Công Yy với những bản đồ vô tri bất động.
     Cha tôi chỉ một nhóm độ mười hai thiếu
nhi đang quanh quẩn bên cạnh tôi:
     - Cha chỉ có tám người con, nhưng cha hiểu những ǵ con đang kinh nghiệm!
    
Trường có một khu vườn độ hai mươi sáu mẫu, tại đây các giáo viên và học tṛ cùng làm việc trong những lớp học lộ thiên, dưới bóng mát của các cây cổ thụ giữa một khung cảnh thiên nhiên đầy thú vị.
    
Vào năm 1946, trường đă sống được hai mươi tám năm. Một trong những quan khách tai mắt đến viếng trường, trong năm đầu tiên, là tu sĩ Pranabâ, "vị tu phân thân" ở Bénarès. Tu sĩ lấy làm vô cùng cảm động mà thấy những lớp học lộ thiên dưới bóng mát của cây cối sầm uất, và những thiếu nhi tập ngồi tham thiền mỗi buổi chiều dưới gốc cây giữa cảnh thanh u tịch mịch. Tu sĩ nói:
     - Tôi lấy làm sung sướng mà thấy lư tưởng giáo dục thanh thiếu niên do đức Lahiri Mahaysaya chủ trương, được đem ra thực hành tại trường này. Cầu xin
ân huệ của sư phụ ta đến với con.
     Một thiếu niên đứng gần bên tôi lúc ấy bèn hỏi vị tu sĩ:
     - Bạch đại đức, sau này con có thể trở nên một tu sĩ chăng? Con có thể hiến dâng cuộc đời con cho Thượng Đế chăng?
     Tu sĩ Pranabâ mỉm cười một cách nhẹ nhàng, và phóng tầm nhăn quang nh́n về tương lai:
     - Con hỡi, khi con trưởng thành, có một vị hôn thê rất đẹp sẽ chờ đợi con.
     Quả thật, người thiếu sinh về sau đă thành gia thất sau nhiều năm ước nguyện xuất gia để
theo ḍng tu sĩ Swâmi.
     Ít lâu sau cuộc viếng thăm của tu sĩ Pranabâ, tôi
theo cha tôi đến tịnh thất của tu sĩ ở Calcutta. Khi đó, lời tiên tri của tu sĩ thốt ra từ nhiều năm trước mới trở lại kư ức của tôi. Hồi đó người đă nói rằng:
     - Tôi sẽ gặp lại con và cha con một ngày về sau.
    
Khi cha tôi bước vào pḥng của tu sĩ, người liền đứng dậy và ôm chầm lấy cha tôi một cách rất trọng hậu và quư mến.
     - Bhagabati, anh nên tự hào về cái phước lớn của anh. Anh há chẳng thấy rằng con anh đang
lao ḿnh vào ḷng của đấng Vô cùng?
    
Tôi ngượng thầm v́ được khen tặng dường ấy trước mặt cha tôi. Tu sĩ Pranabâ mà tôi đă gặp với một vóc dáng mạnh khỏe lực lưỡng trong cuộc viếng thăm lần đầu ở Bénarès trước đây, nay đă có vẻ già nhiều, tuy người vẫn c̣n đi đứng ngay thẳng. Tôi hỏi và nh́n tu sĩ ngay vào tận mắt:
     - Bạch đại đức, đại đức có cảm thấy sự già nua đến gần hay chăng?
Khi xác thân yếu dần, sự chiêm ngưỡng Thiêng Liêng có bị thương tổn chút nào hay chăng?
     Tu sĩ mỉm cười một cách êm ái:
     - Đấng Thiêng Liêng c̣n gần tôi hơn bất cứ lúc nào!
    
Sự quả quyết mănh liệt này gây một ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn tôi. Người nói tiếp:
     - Tôi vẫn thụ hưởng hai món hưu bổng: một của Bhagabati và một của Thượng Đế!
     Vừa đưa một ngón tay chỉ lên trời, tu sĩ liền rơi vào trạng thái xuất thần đại định và gương mặt người chiếu diệu một vầng ánh sáng thiêng liêng huy hoàng: thật là một cách trả lời hùng biện nhất.
    
Nhận thấy pḥng của tu sĩ Pranabâ chứa đầy những chậu cây, và những hột giống, tôi hỏi những thứ ấy để dùng làm ǵ? Tu sĩ giải thích:
     - Tôi sẽ rời khỏi Bénarès một cách vĩnh viễn để lên dăy Tuyết Sơn, tại đó tôi sẽ lập một đạo viện cho các đệ tử tôi.
Những hột giống này là để sản xuất các loại rau trái. Các đệ tử tôi sống rất giản dị, và dành hết tất cả thời giờ cho việc tu luyện. Ở đời c̣n ǵ cần hơn nữa?
    
Cha tôi hỏi tu sĩ có định trở về Calcutta một ngày gần đây không? Tu sĩ đáp:
     - Không bao giờ. Theo lời tiên đoán của Đức Lahiri Mahâsaya, năm nay là năm mà tôi phải rời khỏi đất Bénarès mến yêu của tôi để lên dăy Tuyết Sơn, tại đó tôi sẽ bỏ xác trong kiếp này.
     Nghe đến đó, tôi
rưng rưng hai ḍng nước mắt, nhưng tu sĩ vẫn mỉm cười trong yên lặng. Người có vẻ rất ung dung tự tại như một con người con yêu của Đức Phật Mẫu, đặt vận mạng ḿnh trong bàn tay của ngài. Một người Yogi chân chính, đă đạt tới sự giác ngộ tâm linh, không c̣n sợ những năm tàn tháng lụn. Người có thể đổi mới những tế bào trong thân thể ḿnh tùy ư, tuy nhiên, đôi khi người cũng không màng tŕ hoăn sự tàn phá của thời gian mà cứ để cho nghiệp quả tự do hành động và dứt tuyệt ngay trong kiếp sống hiện tại, để không c̣n phải lo trả trong một kiếp khác.
    
Vài tháng sau đó, tôi gặp một người bạn cũ tên là Sanandan, đệ tử của tu sĩ Pranabâ. Y vừa khóc vừa nói:
     - Sư phụ tôi không c̣n nữa.
Sau khi đă thành lập đạo viện gần Rishikesh, người dạy chúng tôi trong t́nh thương. Khi chúng tôi đă yên nơi chỗ và đang tiến bộ mau chóng dưới sự hướng dẫn của người, th́ một ngày nọ Sư Phụ mở tiệc lớn đăi một số đông người ở Rishikesh. Tôi mới hỏi lư do v́ sao Sư phụ lại làm như vậy th́ người nói:
     - Đó sẽ là một dịp long trọng cuối cùng của Thầy.
Lúc đó, tôi không hiểu hết ư nghĩa những lời nói của Sư Phụ. Ngày đại nhật hôm ấy, Sư Phụ tôi dặn mua rất nhiều lương thực. Chúng tôi đăi ăn hơn hai ngàn người. Kế đó, sư phụ ngồi lên một bật thềm cao và ứng khẩu thuyết pháp về đấng Tuyệt Đối. Thuyết pháp xong, trước mặt mọi người, Sư Phụ day qua phía tôi lúc ấy đang đứng bên cạnh người và nói với một giọng mạnh mẽ lạ thường:
     - Con hăy sẵn sàng, Sanandan, Thầy sắp bỏ xác.
     Sau một cơn im lặng v́ ngạc nhiên, tôi la lên:
     - Bạch Sư Phụ, đừng, Sư Phụ đừng làm thế!
    
Đám quần chúng, ngạc nhiên trước câu chuyện lạ lùng đó, trố mắt nh́n chúng tôi một cách ṭ ṃ. Sư Phụ mỉm cười nh́n tôi, nhưng nhăn quang của người đă hướng về cơi vô cùng. Người đáp:
     - Con đừng ích kỷ, và đừng nên sầu thảm v́ sự ra đi của Thầy. Bây giờ con hăy vui lên v́ Thầy sắp trở về với đấng Tuyệt Đối!
     Trong một hơi thở dài, Sư Phụ nói thêm:
     - Thầy sẽ tái sinh trở lại một ngày gần đây. Sau khi đă trải qua một thời kỳ ngắn ngủi trong một niềm Phúc Lạc vô biên, Thầy sẽ trở lại thế gian để
theo đức Bâbâji. Không bao lâu, con sẽ được biết Thầy chuyển kiếp ở đâu và vào lúc nào linh hồn Thầy lại khoác lấy một thể xác mới.
     Sư Phụ lại kêu lên:
     - Sanadan con hỡi, Thầy từ giă thể xác bằng đệ nhị pháp môn Kriyâ Yoga!
     (Pháp môn Kriyâ Yoga cấp đẳng thứ nh́, do đức Lahiri Mahâysaya truyền dạy, giúp cho người hành giả rời khỏi và trở về thể xác tùy ư muốn. Những tu sĩ Yogi
tiến hóa cao dùng pháp môn này để bỏ xác một cách có ư thức vào lúc từ trần, mà họ luôn luôn biết trước.)
     Khi ấy, Sư Phụ mới nh́n về đám đông người và đưa
tay làm một cử chỉ ban ân huệ. Sau khi đă thu thập tinh thần nh́n về bên trong theo phép hồi quang phản chiếu, người bèn ngồi yên bất động. Chính vào lúc mà quần chúng tưởng rằng người đang lọt vào trạng thái đại định xuất thần, th́ Sư Phụ đă bỏ xác và ḥa hợp linh hồn với Đại Thể vô biên của vũ trụ. Các đệ tử đến sờ vào thân ḿnh sư phụ, vẫn c̣n giữ tư thế liên hoa, nhưng xác thân đă lạnh, linh hồn người đă thoát lên cơi giới trường tồn bất diệt.
    
Tôi bèn hỏi Sanandan về địa điểm tại đó Sư phụ y sẽ tái sinh trở lại. Y đáp:
     - Đó là một điều bí mật mà tôi không đước tiết lộ cho bất người nào. Sau này có lẽ anh sẽ tự ḿnh biết được điều đó bằng cách này hay cách khác.
     Về sau, tu sĩ Keshabâ cho tôi biết rằng tu sĩ Pranabâ ít năm sau khi tái sinh trở lại, đă đến Badrinârayan, trên dăy Tuyết Sơn, để gia nhập nhóm đệ tử cao cấp của đức Bâhâji.
     - Các em đừng lội xuống ao.
Các em hăy tắm bằng các lấy gáo dội nước lên ḿnh mà thôi.
    
Tôi dặn các thiếu sinh trường học Ranchi của tôi, khi các em cùng với tôi đi dạo lên một ngọn đồi gần bên, cách đó độ mười hai cây số.
     Trên đồi có một cái ao đầy nước vó vẻ hấp dẫn, nhưng khi nh́n thấy ao, tôi có cảm giá rờn rợn một cách bí mật, không thể giải thích lư do. Phần đông các thiếu sinh nghe
theo lời khuyên của tôi, nhưng có vài em bị quyết rũ bởi nước trong và mát, khi các em vừa lặn xuống ao th́ những con rắn liền vây phủ chung quanh, để thoát thân các em phải hối hả nhảy vọt lên bờ một cách thật buồn cười.
     Tắm xong, tôi đưa các thiếu sinh lên đồi và chúng tôi dùng bữa
ăn trưa trên băi cỏ. Ngồi dưới bóng mát của một cây to, tôi bị các em vấn nạn với nhiều câu hỏi, và các em tưởng rằng tôi có nhiều linh cảm thiêng liêng sau vụ bị rắn rượt dưới ao. Một em hỏi tôi:
     - Bạch Thầy, sau này con có thể nào xuất gia tu hành
theo Thầy được không?
     - Không, tôi đáp.
Cha mẹ em sẽ bắt em về, và sau này em sẽ lập gia đ́nh.
     Em không tin, và liền phản đối kịch liệt:
     - Con chỉ bị bắt về khi nào con chết.
    
Nhưng sau đó vài tháng, cha mẹ em tới trường bắt em về, mặc dầu em kháng cự mănh liệt. Về sau, em ấy đă lập gia đ́nh.
    
Sau khi tôi đă trả lời nhiều câu hỏi, một thiếu sinh tên là Kashi độ mười hai tuổi, mới bắt đầu hỏi tôi. Em là một học tṛ giỏi và được mọi người thương mến.
     - Bạch Thầy, số mạng của con sau này ra sao?
     - Em sẽ qua đời một ngày gần đây.
    
Câu trả lời này vô t́nh từ miệng tôi thốt ra mà tôi không cưỡng lại được. Lời tiên tri bất ngờ và chẳng lành đó làm cho tất cả nhóm thiếu sinh đều xúc động và buồn thảm. Tôi hối hận trong âm thầm và từ chối không trả lời thêm những câu hỏi khác nữa.
    
Khi trở về trường, Kashi đến t́m tôi trong pḥng riêng.
     - Bạch Thầy, nếu con chết, Thầy có t́m lại con chăng khi con tái sinh trở lại, để d́u dắt con trên đường đạo?
    
Em vừa nói vừa khóc nức nở.
    
Tôi bắt buộc phải từ chối việc nhận lănh một trách nhiệm nặng nề như thế về phương diện huyền linh. Nhưng trong những tuần lễ sau đó, Kashi cứ theo nài van xin tôi một cách khẩn thiết đến nỗi tôi phải bằng ḷng chấp thuận để an ủi em. Tôi nói:
     - Được rồi, nếu Thượng Đế chịu giúp Thầy, Thầy hứa sẽ cố gắng hết sức để t́m lại em.
    
Trong những tháng nghỉ hè, tôi phải đi một chuyến du lịch ngắn hạn. Rất buồn v́ không đem Kashi đi theo, tôi gọi em vào pḥng và căn dặn em đừng bỏ trường đi đâu, mà phải ở lại trong bầu không khí tâm linh tốt lành của trường. Tôi cảm thấy rằng nếu em đừng về nhà trong những tháng hè, em có thể tránh khỏi điều tai họa đang chờ đợi em.
    
Khi tôi vừa rời khỏi Ranchi, th́ cha của Kashi đă đến trường. Trong suốt hai tuần lễ, y cố gắng thuyết phục Kashi hăy trở về nhà thăm mẹ ở Calcutta trong bốn ngày, và hứa sẽ đem em trở lại trường. Kashi từ chối không chịu đi. Sau cùng người cha nói rằng y sẽ nhờ cảnh sát can thiệp để bắt em trở về. Lời hăm dọa đó làm cho Kashi phân vân, và sợ rằng điều đó sẽ gây tai tiếng không tốt cho trường, em đành phải chịu vâng lời.
     Vài ngày sau, tôi trở về trường và khi tôi nghe nói Kashi đă bị cha đến bắt đi, tôi liền hối hả đáp chuyến
xe lửa đi Calcutta. Khi đến nơi, tôi thuê một chiếc xe ngựa. Khi cỗ xe đi qua cầu Howrah trên sông Hằng, th́... lạ thay, tôi thấy cha của Kashi đang mặc đồ tang. Tôi bảo người phu xe ngừng lại, tôi nhảy vọt ra ngoài xe và phóng đến trước mặt người cha vô phước.
     - Ḱa, ông già sát nhân! Tôi kêu lên với một giọng hơi vô lư, ông đă giết chết học tṛ của tôi!
     Người cha đă hiểu sự lỗi lầm của ḿnh khi cưỡng bách con y trở về Calcuta. Trong những ngày đầu tiên về ở thành phố này, Kashi đă ăn nhằm thức ăn bị nhiễm trùng, làm cho em mắc bịnh thời khí và đă trút linh hồn.
     T́nh thương của tôi đối với Kashi và lời hứa của tôi sẽ t́m lại em khi em đầu
thai trở lại, ám ảnh tôi ngày đêm. Bất cứ tôi đi đâu, tôi đều thấy gương mặt của em hiện ra trước mắt tôi. Tôi bắt đầu cuộc t́m kiếm một cách sốt sắng tuyệt vọng cũng như tôi đi t́m mẹ tôi vậy.
     Tôi cảm thấy rằng, nếu Thượng Đế đă cho tôi có một lư trí, tôi có thể xử dụng nó theo một chiều hướng nhằm mục đích khám phá những luật huyền bí cai quản sự tác động của một linh hồn ở bên kia cửa Tử, như vậy để trắc nghiệm cái khả năng và bản lĩnh mà tôi đă thu thập được nhờ pháp môn Yoga.
Từ nay Kashi là một linh hồn, rung động với những ước vọng chưa được thỏa măn, một điểm linh quang phưởng phất trong số hằng triệu những linh hồn khác trên cơi Trung Giới. Giữa tất cả những âm ba rung động toát ra từ vô số linh hồn khác, tôi làm cách nào để có thể tiếp nhận sự rung động của linh hồn Kashi?
    
Sử dụng một bí thuật Yoga, tôi tập trung tất cả t́nh thường của tôi đến linh hồn Kashi xuyên qua bí huyệt của Linh Nhăn nằm ở giữa hai chân mày. Dùng hai bàn tay và các ngón tay làm những dây "ăng ten", tôi đi xoay ṿng ở một chỗ trên hai bàn chân để định phương hướng do đó tôi phải t́m ra linh hồn đă nhận được thông điệp của tôi. Bằng cách đó tôi hy vọng nhận được một sự trả lời, trong trường hợp này, tôi dùng bí huyệt ở quả tim làm cái trạm thu thanh vô tuyến.
     (Các nhà đạo sĩ Yogi đă từng biết rằng ư chí con người, phóng ra từ chỗ bí huyệt ở giữa hai chân mày, có thể dùng làm phương tiện di chuyển cho những luồng sóng tư tưởng. Khi cảm giác được tập trung một cách nhẹ nhàng vào bí huyệt ở quả
tim, bí huyệt này sẽ có tác động như một trạm vô tuyến thu thanh có thể tiếp nhận những thông điệp của những người khác, dầu họ ở gần hay ở cách xa. Trong trường hợp thần giao cách cảm, những rung động tinh vi của tư tưởng được truyển đi từ bộ óc này sang bộ óc khác xuyên qua chất dĩ thái cơi trung giới (tế nhị hơn nhiều), và chất dĩ thái hồng trần (nặng trọc hơn), tạo nên những luồng sóng từ điển và kế đó đổi thành những luồng sóng tư tưởng trong trí của tiếp nhận thông điệp này).
     Trực giác cho tôi biết rằng Kashi không bao lâu sẽ đầu
thai trở lại thế gian, và nếu tôi cứ tiếp tục kêu gọi không ngừng, th́ linh hồn em sẽ đáp ứng. Tôi biết rằng tôi sẽ cảm xúc được một cách chắn chắn mọi phản ứng của Kashi trên những ngón tay, bàn tay, trên lưng và thần kinh hệ của tôi.
    
Không hề nản chí, tôi kiên tâm thực hành bí thuật Yoga kể trên suốt sáu tháng trường kể từ ngày Kashi qua đời. Một buổi sáng, tôi cùng với vài người bạn đi chơi ở khu Bowbazar tại Calcutta là một khu rất đông người. Như thường lệ, tôi đưa bàn tay lên và lần đầu tiên, tôi cảm thấy có sự trả lời. Một sự rung cảm truyền khắp thân ḿnh tôi khi tôi phát hiện ra một luồng điện chạy trong mấy ngón tay và hai bàn tay tôi. Luồng điện ấy liền truyền lên óc tôi thành một tư tưởng cụ thể và kêu gọi liên tiếp:
     - Con là Kashi, con là Kashi đây. Thầy hăy đến với con!
     Khi tôi
thu thập tinh thần vào chỗ bí huyệt ở quả tim, th́ cái tư tưởng ấy trở nên rơ ràng gần như có thể nghe được. Tôi nghe giọng nói hơi khàn khàn đặc biệt của Kashi lập đi lập lại lời kêu gọi của em luôn luôn không ngừng. Tôi nắm lấy cánh tay của một người bạn trong nhóm, là Prokash Das, và mỉm cười với y một cách hứng khởi.
     - H́nh như tôi đă t́m ra chỗ đầu
thai của Kashi!
    
(Một linh hồn trong trạng thái tinh khiết, có thể biết rơ tất cả. Linh hồn Kashi nhớ rơ mọi đặc điểm của ḿnh hồi c̣n sống và bắt chước giọng nói khàn khàn của em thuở xưa để cho tôi dễ nhận ra.)
     Tôi bèn x̣e mười ngón
tay và đi xoay ṿng ở một chỗ trên hai bàn chân tôi để định hướng. Các bạn tôi và người đi đường thấy thế đều buồn cười. Khi tôi vừa đi rẽ vào một con đường nhỏ, th́ tôi cảm giác được luồng điện giật nhè nhẹ lăn tăn trong những ngón tay tôi. Tôi thử quay đầu đi ngược chiều để qua một lối khác, th́ nguồn điện lại ngưng bặt. Tôi bất giác kêu lên:
     - A! Linh hồn Kashi chắc là nằm trong bụng một người mẹ cư ngụ tại con đường này!
     Khi chúng tôi đến gần con đường nhỏ nói trên, th́ những rung động
lăn tăn của luồng điện mỗi lúc càng mạnh thêm và càng rơ rệt hơn trong hai bàn tay tôi. Tôi có cảm giác dường như một viên đá nam châm hấp dẫn tôi từ phía tay mặt của con đường nhỏ này. Khi đi vừa tới cửa một nhà nọ, một sự xúc cảm th́nh ĺnh xâm chiếm lấy tôi. Tim đập mạnh v́ hồi hộp, tôi vừa nín thở vừa gơ cửa với ư nghĩ rằng sự t́m kiếm kiên nhẫn và lạ kỳ của tôi sắp sửa thành công!
    
Một người gia nô ra mở cửa, và cho biết có chủ y ở nhà, ngay lúc ấy người chủ nhà cũng vừa bước ra để gặp tôi. Tôi không biết phải mở lời như thế nào cho tiện, v́ câu hỏi của tôi trong trường hợp này có vẻ như một sự ṭ ṃ.
     - Thưa ông, có phải bà có
thai độ chừng sáu tháng nay?
     - Thưa phải.
     Nh́n thấy tôi là một tu sĩ xuất gia khoác bộ áo vàng sậm, chủ nhà lễ phép hỏi:
     - Xin đại đức cho biết v́ sao đại đức biết như vậy?
    
Tôi bèn kể chuyện về Kashi, và lời hứa của tôi. Người chủ nhà lấy làm ngạc nhiên, và tin lời tôi nói.
     - Bà nhà sẽ sinh ra một con trai, nước da trắng, gương mặt hơi rộng bề ngang, và có những khả năng tâm linh khá phát triển.
     Tôi nói thế v́ tôi chắc rằng đứa bé sẽ giống Kashi như đúc!
     Về sau, tôi đến thăm đứa
bé, mà cha mẹ nó đặt tên là Kashi. Em bé này giống một cách lạ thường người thiếu sinh yêu mến của tôi ở Ranchi. Khi em vừa thấy tôi, em liền có cảm t́nh ngay, t́nh yêu mến thuở xưa lại bộc lộ một cách mănh liệt hơn trước.
     Năm em lên mười tuổi, em bé ấy viết thơ cho tôi, lúc ấy đang ở bên Mỹ, và bày tỏ sự mong ước nồng nhiệt của em là
theo con đường tu hành. Tôi liền gửi gấm em cho một vị minh sư trên dăy Tuyết Sơn, vị này hiện nay đang hướng dẫn Kashi tái sinh, và huấn luyện em trên đường Đạo.

Trang   [1]   2   3   4   5   6   7  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved