www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Vũ Trụ Nhân Linh

Kim Định

Tựa

     Tập này chính là phụ bản của chữ Thời, nhưng v́ nó gồm nhiều tài liệu và suy tư mới cần thiết để kiện toàn chữ Thời, thiếu nó nhiều người không hiểu ra được khi chỉ có "lấy cua" mà không chịu "nghe cua". Mà không hiểu chữ Thời là chưa nằm được then chốt của nền triết lư an vi. V́ thế chúng tôi đặt tên là Vũ trụ nhân linh để tránh cho nhiều người sự lầm tưởng là nó trùng hợp với chữ Thời, rồi không đọc th́ tất uổng.
     Quyển này gồm ba bài I, II, III viết lại nên thay hẳn ba chương từ trang 1 tới trang 66 và đoạn cuối từ "ở đời" cũng thay hẳn từ trang 366 cho tới hết. C̣n các bài khác xin đọc song song với các bài trong quyển chữ Thời. V́ quyển này chỉ tóm lược và thêm một số suy tư mới để soi sáng vào những bài đă viết trước. Nếu chịu đọc như thế sẽ thấy rơ ư tưởng nền móng của cả hai. Bây giờ xin tóm tắt ư chính của cả hai tập lại như sau.
     Chữ Thời nhằm nối tiếp công việc của Nhân Bản, tức là t́m hiểu thêm về con người.
     Quyển Nhân bản mới định luận về địa vị con người trong vũ trụ và nói lên mấy nét căn cơ của nó. Đó là nhân tính biểu thị bằng thập tự nhai được bồng trong tay của "Mẫu Địa Nữ Oa". Lại nói rằng "con người là đức của Thiên Địa", nên "tri nhân tắc tri thiên tri địa". Như vậy nếu muốn thấu hiểu con người và thiên địa vạn vật ở đợt căn cơ phải đem thập tự nhai ra vừa quảng diễn từ thể đơn giản nhất tới thể phiền tạp tối đa, vừa áp dụng vào ngoại vật. Lúc đó ta sẽ nhận ra nhân tính rơ hơn nhờ soi gương là vạn vật.
     Do đó, chữ Thời sẽ đứng về phương diện thiên địa ở đợt căn cơ, cũng gọi là Thời Không để phân tích Thập tự nhai, và chúng ta sẽ thấy nét ngang chỉ thị hiện tượng gọi bằng đất hay là không gian hoặc là vũ, c̣n nét dọc chỉ phần tâm linh gọi bằng trời hay là thời gian hoặc trụ.
    
Bài I về cơ cấu thời gian.
    
Bài II sẽ tŕnh bày lối đúc kết hai nét ngang dọc, đời và đạo là một.
     Đó là nét đặc trưng của nền văn hóa Viễn Đông và hệ quả quan trọng nhất của nó là Nhân chủ tính tức con người có túc lư ngay nơi nó. Đó là một quan niệm hết sức hợp với vận hội mới đang đi vào nhân chủ tính, nên cần được kiện chứng bằng những bài sau:
    
Bài III cơ cấu thời gian với quan niệm về vạn vật, sự vật có là do động tĩnh ḥa hợp.
    
Bài IV cơ cấu thời gian với thái độ sống: sống sung măn cái bây giờ măi măi.
    
Bài V cơ cấu thời gian với quan niệm sử mệnh. Sứ mạng của lịch sử loài người phải t́m ngay nơi con người.
     Thế là xong phần nhất có tính cách "tĩnh" nghĩa là ngắm nh́n. Phần hai cũng theo dơi thập tự nhai trong thế diễn biến đi vào đa tạp:
    
Bài VI trước hết là bài triết lư tam tài bàn sâu thêm về nhân chủ tính trong thế tự đối của nó. Khỏi cần lư do tồn tại, hay tác động bên ngoài ḿnh. Đó là nền móng triết lư an vi.
    
Bài VII rồi tới bài ngũ hành tức là Thập tự nhai trong quá tŕnh sinh hóa sơ khởi của vạn vật, và lối hành xử cơ bản của nhân chủ.
    
Bài VIII bài lịch âm dương của Viễn Đông nhằm kiện chứng ư tưởng trong bài ngũ hành cũng như tất cả bảy bài trên bằng một thể chế rất cụ thể có nhiều lư chứng khoa học.
    
Bài IX hồng phạm là thập tự nhai trên đường h́nh thành sự vật. Và do đó trở thành lư tưởng sơ nguyên cho vạn vật, nhất cho việc hành xử của con người trong xă hội.
    
Bài X t́m về cơ thời là tiếp tục bài Hồng phạm đi vào đến cùng cực cũng là t́m lại nhân tính của con người xuyên qua vạn vật được biểu thị trong thái cực viên đồ.
    
Bài XI bài thời gian hóa, tiếp tục bài Hồng phạm nhưng đi từ hoàng cực trở ra xuyên qua diễn tŕnh sinh hóa vũ trụ đặng nối kết với ṿng thành, tâm linh với hiện tượng.
    
Bài XII và khi ấy "nhập ư thái thất" nghĩa là t́m lại được sự liễu hiểu về nhân tính con người th́ một trật cũng biết "xây nhà" và "ở đời" ra sao.
     Đọc xong 12 chương các bạn sẽ nhận ra qua những phức tạp phong phú một nét quán thông. Nét đó thập tự nhai, khởi xuất từ hai nét ngang dọc, rồi trở thành thập tự nhai, tiến sang ngũ hành, Ngũ hành biến sang Hồng phạm và Thái thất. Tuy có chuyển hóa ra phiền tạp, nhưng vẫn mang theo h́nh thập tự nhai biểu thị Nhân tính. Mà nhân tính cùng với Đạo thể hay là Toàn thể Viên Dung, mà bao lâu chưa nhận thực ra được mối tương quan với cái toàn thể đó, th́ con người cảm thấy minh như không có nhà, sự vật lẻ tẻ li biệt tạp đa như vô nghĩa; c̣n khi móc nối vào cái Toàn thể Viên Dung được th́ lúc đó sẽ cảm thấy ḿnh với vạn vật như cùng một cơ thể, đập cùng một nhịp tim.
     Cái nh́n đó đem lại cho người đọc một cảm giác an vui, thư thái như một nhân chủ trong vũ trụ không có chi thù địch, chống đối xa lạ. Đó là mối quán thông mà quyển chữ Thời có đặt nổi từ đầu chí cuối qua biểu tượng Thập tự nhai ẩn tàng dưới nhiều h́nh thái như ngũ hành, nguyệt lệnh, hồng phạm, để nói lên cái Đạo nhất Thể của Đất Trời Người.

I.Cơ Cấu Thời Gian

     1. Những âm vang của tương đối thuyết
     Nhân loại đang trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần lay động đến tận gốc rễ mọi cơ cấu, đến nỗi các nhà văn quen gọi là một vũ trụ đang vỡ lở.
     Nếu chúng ta muốn t́m ra chỗ hiện h́nh rơ nhất về những xáo trộn đổ vỡ này th́ phải kể đến thuyết tương đối của Einstein, bởi thuyết đó liên hệ mật thiết với quan niệm thời gian hơn hết. Trước kia người ta vẫn quan niệm không gian và thời gian là những thực thể tuyệt đối, đứng ngoài sự vật, nhưng từ khi Einstein khám phá ra thuyết tương đối th́ quan niệm thời không như những cái ǵ tuyệt đối bị sụp đổ.
     Sau đây là một hai thí dụ rất đơn sơ, đưa ra để tạm giúp có một ư niệm khái quát về tương đối thuyết.
     Anh Giáp ngồi trên toa giữa của một xe lửa dài và chạy cực mau. Khi đi qua chỗ anh At đứng dưới đường th́ đầu và cuối xe phát tiếng nổ. Hai tiếng nổ đó xảy ra đồng thời đối với anh At đứng dưới đường, c̣n đối với anh Giáp th́ lại nghe tiếng nổ đằng cuối, và như vậy là không c̣n đồng thời tuyệt đối mà chỉ có một thứ đồng thời tương đối với bao giờ ở đâu, theo hệ thống quy chiếu nào, nghĩa là theo người quan sát. Theo đó th́ trên với dưới tả hữu cũng hết giá trị tuyệt đối. Cái bên tả của tôi trở thành bên hữu của người đối diện, cái "trên" ban ngày trở thành "dưới" ban đêm. Tóm lại không thể nói lấy trên dưới tả hữu làm tiêu điểm tuyệt đối nữa.
     Thuyết tương đối c̣n đưa tới sự thay đổi quan niệm về cơ cấu vật chất. Trước kia vật chất được quan niệm như vật im ĺm, ngày nay thấy vật chất có thể đổi ra khí năng và khí năng với vật chất cùng vâng theo một phương tŕnh là: "Năng lực bằng với khối lượng nhân với b́nh phương vận tốc ánh sáng. E=mc2 (E: năng lượng, m: khối lượng, c: tốc độ đi mau của ánh sáng gần 300.000 cây số một giây)".
     Đó là phương tŕnh đă dẫn tới việc làm ra bom nguyên tử, nghĩa là bom nguyên tử được chế tạo theo nguyên lư vật chất có thể biến đổi ra khí năng. Chữ khí năng là một danh từ tổng loại, dùng để chỉ sức nóng, động lực, phóng xạ, ánh sáng v.v… Như vậy vật chất với ánh sáng tựu kỳ trung là một, cùng vâng theo một phương tŕnh. Và như thế là xóa bỏ sự phân cách tuyệt đối giữa vật chất và khí năng, xóa bỏ quan niệm tuyệt đối giữa tinh thần và vật chất. Vật chất không c̣n im ĺm y nguyên nữa, nhưng tuỳ theo sự đi mau chậm khác nhau mà biến dạng. Đi chậm th́ là vật chất, nhưng nếu chạy với tốc độ gần 300.000 cây số một giây th́ thành ánh sáng.
     Như vậy là người ta hé nh́n thấy dưới muôn vàn sai biệt có một mối tương quan rất mật thiết giữa vạn vật và sự mật thiết này dẫn đến ư niệm quyết liệt trong tương đối thuyết đó là: Vạn vật trong vũ trụ đều thành nên bởi một mô nền tảng mà thôi (tissu fondamental) và mô đó không phải là vật chất hai vi thể (particules) mà chính là không thời liên (espace-temps-continuum). Thời gian hết c̣n đứng ngoài sự vật nhưng trở thành "chiều kích thứ tư của vạn vật", hay nói đúng hơn là "thông số" thứ tư (paramètre) của sự vật. Sự vật chỉ là những h́nh thái như cong méo tṛn và sự biến động theo những định hướng của không thời liên. Tất cả vũ trụ đều thế kể cả con người và thảy đều gắn bó nhau bằng nhiều loại trường như tổng hấp dẫn, từ điện và hạt nhân (champ gravitationnel, electromagnétique et nucléaire). Do đó bất cứ một động tác nào cũng phân trương ra khắp thiên cầu tuy càng xa càng nhỏ nhưng vẫn c̣n, y như lúc ta ném ḥn sỏi xuống ao làm cho gợn lên những ṿng sóng trước nhỏ sau to, càng to càng tan dần và lan tỏa ra cùng ao. Không thời liên chính là đại dương, c̣n vạn vật là những làn sóng nhấp nhô, tuy dị biệt, nhưng nền sóng là một. Như vậy một nắm tay ta giơ lên cũng gây âm vang lan truyền ra khắp vũ trụ (coextensif à tout l'univers) và hơn thế nữa c̣n ghi lại trong vũ trụ.
     Thí dụ có những ngôi sao cách ta từng tỉ năm ánh sáng, mà hiện ta chưa thấy hay bắt đầu thấy. Nếu ngôi sao đó đă bắt đầu tan đi, th́ ta vẫn c̣n thấy sao đó từng tỉ năm sau, và nếu có người ở các ngôi sao khác cách ta vài tỉ năm ánh sáng th́ họ cũng phải đợi vài tỉ năm ánh sáng mới thấy được nó. Thí dụ đó tỏ rơ sự vật có là có bằng không thời liên và chữ liên đây là nối kết cả không gian lẫn thời gian, cả dĩ văng, hiện tại, tương lai đúc lại một: ngôi sao đă có rồi, nay không c̣n nữa mà hiện ta đang xem thấy, và lâu sau này sẽ được thấy ở các ngôi sao khác (nếu có người để thấy). Thành ra dĩ văng, hiên tại, tương lai, đều trở thành những tương đối hết và không c̣n một lúc nào được kể là đặc ân nghĩa là được quyền có cách độc tài hơn lúc trước hay lúc sau. Nhưng mọi thời điểm và không điểm trở nên một trung tâm điểm có vô cùng mối liên hệ nên cũng biểu lộ vô cùng sắc thái và tất cả mọi thời điểm liên hệ tới nhau như trong một thân thể. Động đến một là động đến tất cả, các ranh giới giữa vật chất tinh thần trở nên tương đối nhập nhằng thẩm thấu. Sự vật chỉ là nơi tụ họp mạnh hơn của không-thời và tuỳ với h́nh thái khác nhau, với mật độ thời không khác nhau mà có sự vật, và sự vật không c̣n tính cách các biệt li cách, nhưng liên hệ với nhau bằng các thứ trường, gần giống quan niệm Kinh Dịch làm bằng các ư niệm tương sinh, tương túc, tương thấu, tương nhập, tương duyên. Các trường của tương đối thuyết với các tương của Kinh Dịch giống nhau rất nhiều ở h́nh nhi hạ.
     Đó là vài ư niệm sơ lược về tương đối thuyết, chính nó đă đánh đổ các quan niệm tuyệt đối cũ về không gian và thời gian, về bản thể vật chất… nên nó gây ra sự sụp đổ trong khắp địa hạt và cách riêng là nền triết học đă xây trên quan niệm không thời tuyệt đối và ư niệm sự vật im ĺm. Đến nỗi Bachelard trong quyển Tinh thần khoa học mới (N.E.S.7) đă đề nghị lấy niên hiệu ra đời của thuyết tương đối (1905) làm cửa mở vào giai đoạn hiện tại v́ thuyết này đă lay động tận gốc cả một vũ trụ quan cũ, nên làm cho người ta hết sức ngỡ ngàng và đâm ra bán tín bán nghi. Nhưng lần hồi không thể không chấp nhận v́ những công thức của thuyết đă lần lượt được kiện chứng cách quá đồ sộ như bom nguyên tử nói trên. Hay ánh sáng đi theo đường cong của sự vật như mặt trời và nhiều thí dụ cụ thể được trù liệu bao năm trước rồi mới khám phá ra. Ở đây chúng ta bàn thêm đến điểm h́nh thái và nguồn gốc của thiên cầu được tương đối thuyết dự trù và được kiện chứng bằng khoa học v́ nó có liên hệ mật thiết với nguyên uỷ của không thời, và đó gọi là tương đối tổng quát ra đời năm 1915.

     2. Có một khởi điểm và chung điểm của không thời chăng?
     Muốn t́m lời đáp cho câu hỏi trên th́ cần phải biết Thiên cầu có một lúc bắt đầu và một lúc chung cục chăng: khởi điểm đi t́m lời đáp cho câu này nằm trong trái đất.
     Trên kia nói đến Không thời liên tương đối áp dụng cho từng người quan sát, nay nói về vũ trụ tổng quát, liệu có thể t́m ra một hệ thống nào chung cho mọi người chăng, một hướng chung tương tự như của trái đất với đường kinh có hai cực nam bắc và vĩ tuyến chạy ṿng quanh trái đất theo hướng Đông Tây. Vấn đề đặt ra là trong Không thời liên của toàn thể thiên cầu có t́m ra được những đường hướng tương tự. Nếu có th́ đường vĩ sẽ là một không gian cong ṿng tṛn, nên có cùng, nhưng vô giới hạn (fini mais illimité): có cùng nghĩa là nếu ta đi thẳng truớc mặt măi th́ có ngày trở lại điểm khởi hành theo đường cong và ṿng trở lại trên ḿnh; c̣n vô hạn v́ không có mốc giới và người ta có thể cứ tiếp tục đi nữa. Dựa trên hai đường kinh và vĩ với hai tính cách có cùng nhưng vô hạn, chúng ta có thể h́nh dung ra một mẫu thiên cầu tương tự với trái đất, nghĩa là các đường kinh gặp nhau ở hai cực Nam Bắc và coi đó như nguồn gốc của các đường kinh và cũng là nguồn gốc của thời gian. C̣n đường vĩ là nguồn gốc của không gian.
     Về đường kinh vấn đề đặt ra là thời gian về dĩ văng là vô cùng hay là có một khởi điểm. Sự phát kiến ra phương pháp khác nhau để đo tuổi các núi, các biển và nhận ra trái đất đă khởi đầu có từ quăng mười tỉ năm trở lại, với việc đo tuổi các vân hà bằng cách tính độ các sao ran ra nhau ra, th́ cũng xuưt xoát hợp với con số mươi tỉ năm. Như thế là thiên cầu đă có một khởi điểm, nên thời gian cũng có một lúc bắt đầu.
     C̣n về đường vĩ thuộc h́nh thái Thiên cầu th́ xem ra cũng tương tự với trái đất, nghĩa là vừa có cùng vừa vô hạn. Có cùng nghĩa là không một điểm nào trong thiên cầu xa người quan sát cách vô cùng, v́ khối lượng không gian không thể giăn ra vô cùng. Đến một lúc nào đó mật độ năng lượng sẽ đi tới độ không thể giăn thêm được nữa, nên có cùng.
     Nhưng vô hạn, v́ nếu tiến thẳng trước th́ một lúc nào lại trở về khởi điểm nhưng không gặp mốc, v́ nếu có th́ bên kia giới mốc lại cũng vẫn c̣n là thiên cầu, nên không là giới một thiệt thụ, và do đó có thể h́nh dung ra Thiên cầu theo đường ṿng cầu, tương tự với trái đất của ta. Như thế thiên cầu sẽ không theo h́nh học phẳng của Euclide, hay h́nh học hyperbol của Lobatchewski, có thể tách rời khỏi thời gian nhưng theo h́nh học ṿng cầu của Riemann, v́ chỉ h́nh học này mới hội được hai điều kiện vừa có cùng vừa vô hạn.
     Đó là mấy yếu tố của khoa học ta có thể dùng làm điểm tựa để h́nh dung là quá tŕnh diễn tiến của mật độ năng lượng trong khoảng thiên cầu với sức nóng từ cao đến thấp và nhất là đường kính của thiên cầu với sức nóng xuyên qua các chặng tiến triển của nó. Để kiếm câu đáp cho vấn đề này, cần trước hết phải t́m ra luật chung chi phối tất cả thiên cầu. Luật chung đó tất cũng như các luật tắc khác của khoa học tức phải có tính cách bất biến, để giúp cho nhà khoa học có căn cứ vững chắc đặng dự toán tương lai. Trước hết phải đặt giả thiết rằng trong thiên cầu đó có một lúc mà tỉ trọng (densité) năng lượng ở khắp nơi đồng đều nhau. Nói khác đi, thay v́ xem quăng không hầu như rỗng và chứa đựng các ngôi sao rất đông đặc như quan niệm im ĺm quen làm thế th́ người ta giả thiết ở một lúc nhất định nào đó tất cả thiên cầu đều được chất đầy bằng một thể lỏng mà tỉ trọng khắp nơi bằng nhau. Không gian giả thiết như thế sẽ có những đặc tính như nhau trong mọi không điểm. Đó là đại để h́nh thái của thiên cầu. Chỉ c̣n thiếu một hệ thống phương tŕnh để xác định cách tiến triển và tỉ trọng năng lượng cùng sự lên xuống của sức nóng cũng như tầm thước đường kính của thiên cầu xuyên qua quá tŕnh tiến triển của nó. Năm 1915, thuyết tương đối tổng quát liệu biện đủ phương tŕnh cần thiết, nhưng phải trải qua rất nhiều đề nghị khác nhau cho măi tới năm 1927 nhà khoa học Georges Lemaitre mới đưa ra được một mẫu thiên cầu với tỉ trọng đồng đều ở một lúc nào đó, nó vừa hợp các phương tŕnh tương đối thuyết, lại vừa đổi thay theo thời gian. Theo đó th́ ban sơ thiên cầu chỉ là một hạt nhân cực kỳ đông đặc với đường kính rộng chừng ít trăm cây số, rồi nó nổ lên và giăn ra liên tục cho tới ngày nay vẫn c̣n bành trướng tiếp diễn. Điều đáng chú ư đặc biệt là năm 1930 nhà thiên văn Hubble đă minh chứng được sự bành trướng của thiên cầu đang giăn ra đă có bằng chứng kiểm điểm được. Tuy nhiên lại gặp khó khăn khác là nếu nó giăn ra măi th́ thời gian sẽ vô cùng trong tương lai, là điều trái với không gian có cùng tuy vô hạn. Và nếu thế th́ không thời hết liên kết nữa sao? Nhưng may thay cũng năm đó thuyết gia Eddington đă dùng phương tŕnh của Einstein để tŕnh bày tính cách thay đổi của thiên cầu tức nó có thể giăn ra mà cũng có thể co rút lại. Tính cách có thể co rút này giải đáp vấn nạn nêu lên ở trên: tức là thời gian cũng có cùng y như không gian và từ đó người ta chú ư đến quan niệm của thiên cầu có một co một giăn như kiểu vũ trụ quan Ấn Độ với một thở ra một hít vào, hay theo chu kỳ nhất hạp nhất tịch kiểu Kinh Dịch. Tuy nhiên c̣n một số khuyết điểm: trước hết đó chỉ là một biểu tượng, một số công thức tưởng tượng kiểu toán học, người ta không h́nh dung ra được. Thứ đến tại sao cái nhân sơ khởi lại chỉ lớn chừng vài trăm cây số mà không hơn hay kém. Thứ ba khoa Thiên văn mới chỉ chứng minh được có sự giăn ra, c̣n đợt co rút lại chưa t́m được bằng chứng.
     Các quy nhất thuyết (les doctrines unitaires) sẽ giải quyết ba khó khăn bằng rút nhỏ cái nhân sơ khởi vào tầm kích một dương-điện tử (proton) với dương điện tử ẩn tàng (antiproton) và lúc đó người ta vừa h́nh dung ra được cả sự giăn ra lẫn sự co vào v.v… Nhưng đó mới là những giả thuyết tuy đóng góp thêm nhiều điểm giải đáp xuôi hơn. Dầu sao th́ khoa học đă nắm vững một số điểm sau: trước là h́nh cầu của Thiên cầu; rồi đến sự biến chuyển của thiên cầu theo chiều giăn ra là khởi sự từ lối 10 tỉ năm trước đây; ba là đường kính hạt nhân sơ khởi lúc đó cực kỳ đông đặc và bé hơn đường kính thiên cầu hiện đại vô số lần; bốn là độ nóng của thiên cầu hạ xuống dần theo đà giăn ra của thiên cầu.
     C̣n những điểm khác như thiên cầu sẽ co rút để trở lại như lúc sơ khởi, hoặc xác định đường bán kính tối đa của thiên cầu, hoặc quy định quăng thời gian bao lâu từ lúc nổ ra ban sơ tới lúc trở lại khởi điểm… là bấy nhiêu điểm khoa học chưa thể minh chứng nổi.
     Tuy nhiên với những điểm sở đắc trên kia, tương đối thuyết đă chinh phục hầu hết các khoa học và trở nên nơi hội tụ của các trào lưu thuyết lư, cho nên Bachelard đă có lư khi nói rằng sau Einstein người ta không thể suy tư như trước Einstein được nữa. Chương sau chúng ta sẽ xem sau Einstein triết Đông có được phép tiếp tục suy tư như trước được chăng? Nhưng trước hết ta hăy khảo sát xem trước Einstein người ta đă quan niệm thế nào về thời gian, và ta gọi là học về cơ cấu thời gian.

     3. Tầm quan trọng của cơ cấu thời gian.
     Nói về cơ cấu thời gian là bàn đến những điều rất tế vi không thể dùng giác quan mà thấy được, trái lại phải dùng đến tâm thanh lọc mới nh́n nhận ra. Bởi chúng ta không biết được thời gian cách trực tiếp như không gian, nhưng chỉ biết qua những sự biến động của vạn vật, sự vận hành của tinh sao, sự đắp đối sáng tối, ngày đêm, "tứ thời". Nhưng vật là ǵ, ánh sáng là ǵ, tứ thời là ǵ? Ta không biết, nên người ta chỉ có những ư niệm lờ mờ về thời gian qua những sự cảm nhận do sự di chuyển của vạn vật, của ánh sáng… Những ư niệm đó được sắp đặt cái nọ liên hệ với cái kia tạo ra cho chúng ta cơ cấu thời gian. Như thế cơ cấu thời gian chỉ là sản phẩm của cảm xúc của lư trí, coi như không liên hệ ǵ tới sự vật, v́ nó đổi thay tuỳ theo ư niệm của từng người, từng nền văn minh. Nhưng chính v́ thế mà nó lại có một mối liên hệ mật thiết tới sinh mệnh của mỗi các nhân cũng như của mỗi xă hội, nên nó mang theo một tầm quan trọng vô biên.
     Trước hết v́ thời gian cũng như không gian là vấn đề bao quát tổng hợp hơn hết, đến nỗi ta không thể quan niệm một biến cố hay một vật thể nào mà không nằm trong không gian và thời gian. Cho nên có được một cơ cấu trung thực về thời gian là có được ch́a khóa vạn năng mở được hết các ngơ bí cho mọi vấn đề rắc rối trong triết học. Việc giải quyết chỉ c̣n là nghệ thuật áp dụng cơ cấu thời gian cách đúng mức vào những vấn đề thay đổi nên khác nhau. Ngược lại cơ cấu thời gian đă sai th́ hết mọi vấn đề trong triết lư đều đổ vỡ hết trọi. Nhà giột từ nóc không thể chữa, nếu trước hết không chữa lại cái nóc là cơ cấu thời gian. Chính v́ thế mà cơ cấu thời gian trong mỗi nền triết thuyết là thước đo chính xác hơn hết về tầm mức cao thấp của nền triết thuyết đó, chứ không phải lời hay ư đẹp. Cái đó chỉ là những cái trang trí bên ngoài.
     Lư do thứ hai là thời gian có tính các rất co giăn: kể từ thời gian đồng đều đo đếm được như không gian, qua thời gian tương đối, lên nữa là giấc mơ tiên, mơ thần xảy ra trong một lúc mà người mơ tưởng như là trăm năm, ngàn năm… ta có thể cảm nghiệm được hoặc nhận xét qua những phút sáng tạo: thí dụ bằng một cái nh́n trực giác bậc hiền triết có thể nhận ra những chân lư mà hằng bao thế kỷ lư luận (tức theo thời gian đo đếm có trước có sau) không sao t́m được.
     Lư do thứ ba sự co giăn đó lại nằm trong quyền lực con người, trước hết kể từ giác cảm trở lên. Cùng là một tảng đá nằm bên đường mà hai người đi đêm, một người tưởng đó là con hổ đang ŕnh ḿnh (kiến tẩm thạch rĩ vi phục hổ dă) nên toát mồ hôi, về nhà bệnh đến bạc cả tóc, có thể tổn thọ mất ít năm. Ngược lại người nh́n ra là tảng đá có thể ghé vào nghỉ chân, nếu lại gặp bạn đi qua ngồi lại để cùng đàm đạo hàn huyên tâm sự th́ c̣n khoẻ nữa: tâm hồn thanh thản, thể xác an lành có thể sống lâu thêm. Khác nhau như thế chỉ v́ cái nh́n trúng với trật.
     Đó không phải là câu nói cũ hết thời, nhưng vẫn mang theo thời sự tính của nó. Hăy lấy một thí dụ trong triết học hiện đại. Cũng là chậu bột mà Sartre thấy đó là cái ǵ thuộc ư thức khốn khổ. Khốn khổ v́ cảm thấy ḿnh như bị bủa vây trong sự keo dẻo của vật chất, thấy ḿnh như lần lần biến thành vật chất bằng cách sa lầy vào một cái ǵ nhầy nhụa, một yếu tố không những nhận ch́m ḿnh mà c̣n nuốt trôi ḿnh đi…
     Trái lại cũng là chậu bột nhưng nó lại cho Bachelard một sự suy tư về bột (cogito de la pâte) như là một bản chất "tốt nhất", mà tốt nhất v́ một lư do kỳ lạ là nó "chưa xong" nó c̣n "vị tế", chưa mặc h́nh thể nào nhờ thế tài sáng tạo của ḿnh có thể hoạt động cách thần diệu bằng mặc cho nó "một h́nh". Bàn tay cần cù và quyết đoán của ḿnh sẽ học biết được thần tính linh động của thực tại trong khi nặn bột. Ban đầu bột chống đối như xác thịt của t́nh nhân tuy yêu thương lắm đấy, nhưng c̣n cự nự để cuối cùng mới chịu nhận cho!" (L'eau et les rêve trang 119). Chịu nhận từ bàn tay sáng tạo một h́nh thái của riêng ḿnh như của một hóa công sáng tạo ra.
     Chậu bột chỉ là thí dụ không quan trọng, quan trọng ở trong cái nh́n: nh́n chậu bột như thành phần của ư thức khốn khổ th́ sẽ kéo theo cái nh́n tha nhân như hoả ngục. Và do lẽ đó Sartre không thể yêu tha nhân, lư do v́ tha nhân có yêu Sartre đâu! Sartre chỉ yêu trả lại kiểu đổi chác (troc) trong giai đoạn bộ lạc! "Do ut des!"= tôi cho anh là cốt để anh cho lại tôi. Lợi hành nhi dĩ hĩ! Ngược lại v́ Bachelard nh́n chậu bột như dịp may cho ḿnh thi thố tài năng sáng tạo, th́ cũng sẽ nh́n thế giới như một bài thơ, như những giấc mộng đẹp đẽ, nó sẽ ru ḿnh vào một vũ trụ trong an ḥa thư thái, v́ là vũ trụ của ḿnh nên không c̣n tính chất lầm lỳ đặc sệt là cái chiếu vào sự vật một bộ mặt khốn đốn hoặc đe loi ḿnh và "triết gia như được nhuần tắm trong một môi trường không có ǵ ngăng trở không một vật thể nào nói tiếng "không" để chối từ ḿnh. V́ triết gia sống trong thế giới đồng nhất với ḿnh và điều đó là nhờ mơ mộng" (La poétique de la rêverie, trang 141). Đó mới là mơ mộng phưong chi nếu có những phép tinh lọc tâm thức, th́ cái nh́n sẽ biến đổi đời sống con người biết bao nữa. Khi cái nh́n đă đạt độ tinh lọc cùng cực, th́ sẽ như thần có thể nh́n ra "Cơ trời" là chỗ hướng tới của con người học chữ Thời. V́ "Cơ" chính là cửa Trời cửa Đất, cửa Đạo thể, Tính Thể mà cứu cánh của con người là phải t́m đến đó bằng cách noi theo những vết chân, những dấu tích, mà không có dấu tích nào đưa về tới Tiềm Thể Viên Dung, đưa về với ḍng sông sinh sinh bằng chữ Thời. Nên khi suy niệm về thời gian, Khổng Tử không c̣n muốn nói nữa "Dư dục vô ngôn". Thưa thầy nếu thế th́ người ta làm sao hiểu được đạo của Thầy? Thưa rằng: có khó chi đâu, chỉ việc suy về chữ Thời, Tứ thời hành yên, bá vật sinh yên. Thiên hà ngôn tai! (L.N. XVII.18). Trời có nói chi đâu, chỉ ẩn ẩn hiện hiện, không ai thấy bóng h́nh mà chỉ thấy dấu vết thấy tác động qua vận hành của bốn mùa, thế mà bách vật đều nảy nở sinh sôi. Làn sóng bất tuyệt như toé ra từ những dấu chân của Tiềm Thể, người học triết muốn cho linh động, muốn cho triết lư ḿnh học được nhiều chất sống chỉ việc ngắm tứ thời như mốc chỉ đường dẫn về căn tính của ḿnh, cũng chín là Đạo Thể Viên Dung.
     Đó là bài học chữ thời của bậc hiền triết xa xưa. Nhưng ngày nay văn minh càng tiến bộ th́ con người càng sống xa thời thiên nhiên với hoa xuân nắng hạ, với thâu hoạch ở thu và tàng ẩn ở đông, nghĩa là càng xa cái tiết nhịp thiên nhiên co giăn uyển chuyển, không c̣n dịp để xem trăng lên ngắm hoa nở ngoài đồng nội, hít đầy phổi hương lúa Đồng Nai.
     Trái lại ngày nay chỉ c̣n phải sống theo nhịp máy móc của đồng hồ, cũng đo đếm tính toán y hệt như không gian đều đặn, và như vậy thời gian không c̣n giữ được vai tṛ trung gian để làm nhịp cầu đưa con người có xác thân trong không gian đi về cùng tính thể vô thanh, vô xú, vô ảnh, vô h́nh. Đó là hiện trạng đáng ái ngại, nhưng đó cũng có thể là một lư do thêm khuyến khích ta phải t́m hiểu chữ Thời của Kinh Dịch, là thời gian nhịp theo tiết điệu căn cơ, tức là âm dương sáng tối, động tĩnh và được chia nhỏ dần ra, trước hết là tứ thời, rồi đến bát tiết, đoạn 28 tiết nhỏ nữa cho dễ noi theo. Và nhờ sự học hỏi đó chúng ta hy vọng gặp nhiều may mắn hơn để hiểu và thực hiện câu Kinh Dịch: "tuỳ thời chi nghĩa đại hĩ tai": nghĩa là nghi là thích nghi, v́ chữ thời rất co giăn uyển chuyển từ không thời gian rồi Thời tính đến Hoà thời là cả một âm giai rất tế vi phong phú để có thể sống ḥa nhịp với muôn hiện trạng mỗi lần mỗi khác. Biết áp dụng cho mỗi biến cố một lối hành xử là cả một công tŕnh tuyệt diệu. V́ thế khi tiên nho muốn xưng tụng tài đức của Khổng Tử th́ không t́m được danh hiệu nào xứng hơn là "Thánh chi Thời", nghĩa là hiền triết đă đạt đến độ "làm chủ được chữ Thời vậy". Ta hăy t́m hiểu tại sao cũng là thời gian mà người làm chủ kẻ làm nô lệ.

     4. Phân loại thời gian
     Có lẽ không ǵ người ta dễ đồng ư cho bằng về thời gian, đồng ư đến độ không có vấn đề. Nhưng đó là đợt thường nghiệm. Thoạt khi bước vào địa hạt Triết, nghĩa là thử suy tư về bản chất của thời gian, mới thấy khó khăn ùn ùn kéo tới và không biết có bao giờ người ta định nghĩa nổi thời gian chăng. Tuy khó khăn, nhưng triết lư vẫn phải khảo sát để cố rọi vào ít nhiều tia sáng hướng dẫn. Nếu không hiểu nổi thời gian tự thân, ít ra chúng ta cũng cố t́m hiểu cách gián tiếp, xuyên qua những lối hiểu khác nhau, theo những mức độ cao thấp dị biệt.
     Trước hết, chúng ta khởi đầu bằng chỗ dễ nhất nghĩa là từ lối phân chia thời gian. Thời gian thường được chia làm một số loại như sau: khoa học, sinh lư, tâm lư, triết lư và minh triết.
     Thời gian khoa học: là chính sự phân chia thời gian thường nghiệm ra những quăng đồng đều, do đồng hồ, nó không có màu sắc, không phẩm tính. Sáng cũng như trưa, chiều cũng như tối, đông hạ cũng như xuân thu, mặc cho hoa nở ngoài nội, chim hót trên cành. Mặc cho kẻ ở trong lao tù hay hai anh chị vừa t́m ra được chỗ vắng vẻ để t́nh tự, thời gian chạy, bất khả phục hồi (irréversible), có than văn dẫu bằng tiếng Tây đi nữa "O temps suspend ton vol", mặc kệ: thời gian không nể, cứ trôi, cứ kéo. Đó là thời gian ban ra cho (temps donné), giàu chất vũ thiếu chất trụ, nghĩa là con người không tham dự vào đó được chi cả. Nó mới là sự kế tiếp của vạn vật hoàn toàn ngoại tại, lạnh lùng, máy móc, ít ra như kiểu thường t́nh nghĩ tưởng.
     Thứ đến là thời gian sinh lư đă khởi đầu là thời gian có tác động của con người tham dự phần nào, dầu mới là sinh lư. Có thể gọi nó là thời gian tăng trưởng, đă giàu chất thâu hóa nội khởi hơn thời gian kế tiếp của khoa học, tuy hăy c̣n hạn cục, chưa lan rộng tới miền ư thức, nhưng đă có chất người bên trong, nên đă biến dạng co giăn theo người, theo tuổi, theo một chút tâm trạng. V́ thời gian sinh lư căn cứ trên cuộc sống cụ thể, trên khả năng gia tăng huyết thanh với các tế bào. Tuổi trẻ chứa nhiều thời gian sinh lư hơn tuổi già, v́ ở tuổi già đă ngưng dần sự phát triển: một vết thương ở em bé 10 tuổi chóng khỏi hơn năm lần ở người 50 tuổi. Người ta nhận ra thời gian sinh lư rất khác với tuổi khai sinh, và ở mỗi người cũng có sự khác nhau.
     Vượt lên một bước nữa là thời gian tâm lư. Đó là thời gian được đo bằng những cảm xúc, tâm t́nh ấn tượng, tuỳ với mức độ sâu đậm của nó mà ta thấy vắn dài. Thường tuổi trẻ thấy thời gian đi mau hơn v́ cuộc sống gặp rất nhiều những khám phá mới lạ trên trường đời, nhân t́nh thế sự: nào là sinh ngữ, khoa học, văn chương; nào là các thầy dạy mỗi năm mỗi đổi, rồi với biết bao cái mới gặp lần đầu tiên làm cho say sưa, nhất là khi tới cuộc khám phá tha nhân tha tính (autre sexe) và cuộc chạy đua t́m lứa đôi, gây dựng sự nghiệp… Biết bao hồi hộp, lo âu, vui mừng, cảm xức, chờ mong tất cả là bấy nhiêu cây số cắm mốc trên đường đời, càng nhiều mốc càng ít cảm thấy thời gian dài, nhưng vắn dài c̣n tuỳ theo cường độ của cảm xúc: khi yêu thương quá nồng nhiệt th́ chỉ một ngày không thấy mặt đă kêu "nhất nhật bất kiến tam thu hề". Đừng tưởng đó là câu nói vu khoát, nhưng thật t́nh cảm thấy ḷng như vậy. Thế nhưng, cùng với đà sống đi lên, năm tháng gieo nặng lên tấm thân bao nhiêu cái trước kia mới lạ làm cho hồi hộp ong chờ, th́ cùng với số tuổi già gia tăng, đă dần dần trở thành quen thuộc có khi nhàm chán, không c̣n gây được những cảm xúc mạnh như trước nữa, nên thường thường người già thấy năm tháng chậm hơn. Tuy nhiên, v́ là thời gian tâm lư nên có thể đi ngược lại. Thí dụ người già biết trở lại thâm tâm để khám phá những chân lư tiềm ẩn trong nhân t́nh, th́ bấy giờ lại như bước vào một "trời mới đất mới", và sống lại một mùa xuân mới đầy "sinh thú siêu việt" v́ khám phá ra những tiềm lực lạ lùng trong tâm khảm mà trước kia không để ư tới. Chỉ có những người ăn không ngồi rồi mới thấy thời gian dài dằng dặc "nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại".
     Cuối cùng là thời gian triết lư có thể đi theo thời gian khoa học hay sinh lư, hoặc theo thời gian tâm lư, hay vượt hẳn lên bật Thường hằng, nghĩa là hết c̣n đo đếm, hết khởi đầu và hết kết thúc. Thường hằng có thứ thực, có thứ giả (trừu tượng), cũng như sự vươn lên cao thấp khác nhau. Một giấc mơ tiên của Từ Thức có thể là 80 năm, 200 năm. C̣n giấc mơ thần th́ không c̣n đo đếm được nữa, chỉ là một hiện tại Vĩnh cửu (Nune oeternum). Do đó có nhiều thứ thời gian triết lư và chúng ta sẽ chú tâm vào loại thời gian này khi bàn về cơ cấu thời gian của mỗi nền văn minh.

     5. Ba loại cơ cấu thời gian
     Theo các điều nói trên ta biết cơ cấu thời gian bao gồm vấn đề từ trong căn để, nên khi t́m hiểu quan niệm của mỗi nền văn minh về thời gian là nắm được then chốt của mỗi nền văn minh đó. Để cho sự học bớt phiền tạp, chúng ta tự hạn chế vào ba nền văn minh có liên hệ với ta hơn hết là Âu Tây, Ấn Độ và Viễn Đông. Và chúng ta cũng chỉ nói tới nét chính, c̣n gạt ra ngoài các nét tuỳ phụ và các luật trừ.
     Với văn hóa Tây Âu thời gian được biểu thị bằng thần Kronos tay cầm b́nh cát, tay cầm lưỡi liềm. B́nh cát tức là đồng hồ cát, căn cứ vào số cát chảy mà xác định thời khắc cách khoa học khách quan, nên được tŕnh bày như đường thẳng, nghĩa là có một khởi điểm và đích điểm: có sinh, có thành rồi đến huỷ, đến diệt. Như thế th́ nó có tính cách chảy thẳng một ḍng, người Tây kêu là Linéaire, ta có thể vẽ lên giấy bằng đường thẳng, hoặc gọi là đường vĩ, hay vĩ tuyến cũng thế, đều chỉ hàng ngang. C̣n lưỡi liềm biểu thị tính cách bất khả phục hồi "ra đi không hẹn ngày về". Về được đâu nữa mà hẹn. Đă đi là hết. Lưỡi liềm cứ đều đều chặt xuống, cắt ra từng khúc nhỏ và nối đuôi nhau biến đi mất, nối lại không thể nào được nữa. Từ biệt và từ biệt. Từ Adieu này đến Adieu kia, từ vĩnh biệt này đến vĩnh biệt khác. Nếu vẽ lên giấy th́ là những nét đứt quăng - - - chỉ dĩ văng, hiện tại, tương lai. Ba lúc đó không có chi liên hệ tới nhau cả nên ta sẽ kêu là biệt thời. Vây xét cơ cấu thời gian theo triết cổ điển, ta thấy đó là một thời gian chảy thẳng và bất khả phục hồi (Linéaire et irréversible).
     Thời gian Ấn Độ được biểu thị bằng con rắn cắn đuôi (ourosboros: serpent qui se dévore la queue). Nếu vẽ ra th́ chúng ta có một ṿng tṛn 0. Nhiều khi con rắn không cắn đuôi, nhưng cuốn chung quanh núi Meru cao mất hút vào mây mờ, mù mịt để biểu thị siêu việt thể hay là Brahma tuyệt đối, và lúc ấy ta có thể vẽ bằng một nét dọc là đường kinh (kinh tuyến: đường đứng dọc, Verticale), nghĩa là ngược hẳn với đường vĩ của Tây Âu.
     Bây giờ nói đến nền văn hóa Viễn Đông của chúng ta.
     Viễn đông biểu thị thời gian bằng Mă Đồ tức là "Long Mă Phụ Đồ"= con long mă chạy dài, như lời nói "bóng câu qua cửa sổ", tức là đường vĩ vẽ ra là - nhưng trên lưng lại chở theo cái Hà Đồ, tức là h́nh tṛn 0, để biểu thị thái cực đồ. Nếu vẽ ra ta có h́nh tṛn. H́nh tṛn cũng có thể thay thế bằng nét dọc, hay là kinh tuyến. Như vậy là thời gian Mă Đồ đặc biệt ở chỗ dồn đúc lại một hai nét dọc và ngang nên có thập tự nhai + (Croix originelle== nhai là nhai để, sơ đầu, nền móng) ở tại kinh vĩ chập một mà thành.
     Cũng có thể vẽ nét kinh ngang, nhưng không bỏ được việc nối liền và lúc bấy giờ ta có - nghĩa là nét dưới chỉ biến dịch có hai đoạn, không liên hệ nhau, gọi là tán, chỉ các hiện tượng dị biệt khác nhau, hay hiện thời: một ra đi không có trở lại, nhưng nét nối liền chỉ Tụ, chỉ Thường hàng nằm ngầm để nối các hiện tượng xuất xuất, hiện hiện, một tán, một tụ, một bằng, một biến hợp tại làm ra vũ trụ. Đó là mấy nét căn để gọi là cơ cấu thời gian ba của nền văn minh liên hệ đến ta.
     Bây giờ bàn rộng về từng nền văn minh. Nền triết cổ điển Tây Âu, khởi đầu từ Platon, môn đệ của Socrate. Với Platon, nói được là không có thời gian bởi v́ tuy ông định nghĩa thời gian là h́nh ảnh linh động của Vĩnh cửu bất động (Timée) nhưng v́ ông phân thế giới ra hai phần: phần thuộc giác quan biến dịch (existence) không có giá trị tự nội mà chỉ là h́nh bóng Vĩnh cửu thuộc yếu tính (essentialiste) tức là những ư niệm sự thật được róc bỏ, được trừu tượng khỏi những dấu cá biệt làm cho sự vật hiện h́nh cụ thể (notes individuantes) nên không bao giờ biến chuyển, đời đời vẫn y như nhau, v́ nó nằm bên ngoài thời gian là căn do của mọi biến chuyển. Thời gian bị kể như một "thực tại kém cỏi" (un moindre être), không đáng bàn tới. Do ư niệm then chốt ấy mà thời gian bị lăng quên và triết học theo Platon trở thành đố kỵ với sự biến động.
     Đấy là lư do chống đối của nhóm Hiện sinh lấy "existence" hiện hữu hay biến đổi trong thời gian làm nền móng để đi ngược lại yếu tính bất động của triết lư cổ điển là loại triết lư đặt bên ngoài thời gian, đặt bên ngoài vũ trụ, cũng có khi gọi là triết theo quan điểm của sao Sirius, tức không phải là vũ trụ của loài người (philosophie extratemporelle, acosmique, le point de vue de Sirius).
     Sau Platon th́ đến Aristote. Aristote chống lại Platon đă đặt yếu tính trên thế giới ư niệm bằng cách đưa yếu tính xuống sự vật, gọi là mô h́nh (forme). Mô h́nh hợp với vật chất cấu tạo ra bản chất (substance) từ đấy triết học có thể gọi là triết học về bản chất (philosophie substantialiste) và cũng từ đấy triết cổ điển khởi sự có thời gian và thời gian biểu lộ qua hữu thể (existence) được định nghĩa là "sự động có trước có sau". Quan niệm này có hai đặc điểm: trước nhất là nó thuộc lượng v́ nó có thể tính toán đo lường (mesure), hai là vật lư tính (physique), tức là chia thời gian thường nghiệm ra thành từng thời điểm, cách quăng đồng đều và theo một chiều (les points monospécifiés équi-distants, identiques les uns aux autres) được quy định theo hàm số chuyển vận của tinh tú hoặc b́nh cát hay đồng hồ nước cũng thế. Do lẽ đó sự đi ngược lại của Aristote đối với Platon chỉ khác tiểu tiết, c̣n tựu trung th́ vẫn là thời gian nằm bên ngoài sự vật với tính cách hoàn toàn khách quan và trừu tượng.
     Thời gian theo triết cổ điển này sẽ chi phối các quan niệm thời gian Tây Âu cho tới tận nay với Newton thời không là những thực thể biệt lập không liên hệ chi tới sự vật, hay đúng hơn là cái chứa đựng sự vật (réalités absolutes qui existeraient indépendantes de tout contenu). Leibnitz th́ tiến hơn một bước ở chỗ khởi đầu coi không thời gian là vật tương đối: nghĩa là không thời gian được kể như thứ tự những ǵ có thể tiếp nối (espace étant l'ordre des coexistences et le temps l'ordre des successions). Cho tới đây th́ thời gian vẫn chỉ được coi như một vật thể trong các vật thể khác. Tới Kant mới xảy ra một cuộc cách mạng về quan niệm thời gian.
     Kant bác bỏ cả hai quan niệm trên và chủ trương không thời chỉ là những khung tiên thiên đă được in sẵn vào trí năo con người, nên không liên hệ chi tới vật, ngược lại vạn vật phải tuân theo cái khung tiên nghiệm (à priori). Ông định nghĩa thời gian là h́nh thức tự nội (forme interne) của cảm giác, c̣n không gian là h́nh thức tự ngoại (forme externe). Và như vậy thời gian không gian trở thành nền móng cho mọi vấn đề triết học, nên kể là một bước tiến cách mạng toàn diện hơn hẳn Leibnitz cũng như Leibnitz tiến hơn Newton. V́ Leibnitz nhận ra được mối liên hệ giữa thời gian với sự vật, tuy c̣n rất b́ phu. Chí như Kant th́ nhận ra mối liên hệ sâu hơn, nghĩa là liên hệ tới chủ tri: không thời chỉ c̣n là thứ khung của chủ tri, nên có tính cách phổ quát. Tuy nhiên mối liên hệ đó chưa đủ sâu để có thể đúc kết vào một, v́ ông mới đặt quan niệm thời gian ở cảm giác là cơ năng nh́n trực chỉ, là điều ông cho là tri hiểu (entendement) và lư trí (raison) không có được. Cho nên cuối đời Kant lại uốn nắn triết thuyết của ông theo quan niệm thời gian thường nghiệm của đại chúng, tức là biệt thời nghĩa là vẫn rời rạc chưa hẳn đúc lại được hai yếu tố không thời. V́ thế ta có thể kết luận: cơ cấu thời gian triết cổ điển là hàng ngang và bất khả phục hồi, biểu thị bằng b́nh cát, lưỡi liềm hay bằng suốt chỉ của những thần định mệnh có tên là Parques th́ cũng đều nói lên hàng ngang như thế cả. Như vậy là một quan niệm tĩnh chỉ (statique) hoặc nói theo triết Đông th́ mới có Vũ chưa có Trụ, theo nghĩa Trụ là cái ǵ nối lại, hợp lại. Đến nỗi thần kronos chỉ được viết bằng chữ thường v́ chỉ biểu thị có thời gian nhỏ bé tiếp nối chạy dài, mà không c̣n phải là thần Kronos viết hoa để biểu thị Thần tuyệt đối là cha cả thần Zéus tức là thời Hằng (Kronos Eternity) bao gồm mọi mảnh thời gian hiện tượng vào một hiện tại miên trường (Nune oeternum). Thần Kronos uyên nguyên này đă bị thay thế bằng Kronos tay liềm, tay cát chạy dài trong cơi hiện tượng và luôn tay chặt đứt. Như thế là một sa đọa và Nietzsche đổ trách nhiệm lên đầu Socrate và Platon phải chịu trách nhiệm về sự sa đọa này, một sa đọa đi trật ra khỏi ḍng Truyền Thống Tâm Linh.
     Ngược lại với Tây Âu thời gian Ấn Độ được biểu thị bằng con rắn cắn đuôi tức là một lối nhấn mạnh đến yếu tố tụ đến độ nuốt trôi hết những cái chi là tán, là hiện hữu. Nghĩa là nhấn mạnh đến trụ Thường Hằng viên măn, đến nỗi không c̣n để chỗ chen chân cho những sự vật biến động nữa. Ta có thể thấy ảnh hưởng đó trong một số môn phái Phật giáo Tiểu thặng: "vạn pháp giai vô" == tất cả mọi pháp (tức sự vật hiện hữu) đều là không có, là huyền ảo, bào ảnh. "Nếu có người chạy nhanh đến độ đuổi bắt kịp mũi tên phóng ra một trật do bốn tay thiện xạ, th́ cũng chưa chạy mau bằng sự tan ră của các pháp", tức là những yếu tố làm nên sự vật biến hiện trên trần gian này.
     Tất nhiên đây chỉ nói đại để, trong thực tại th́ bên Ấn Độ cũng có nhiều chủ trương trái ngược nhau và rất phiền tạp. Đời Phật Tổ thí dụ xuất hiện trên 60 môn phái triết, có phái chủ trương duy vật nghĩa là chỉ nhận là thực những ǵ khả giác, đến nỗi chối cả hồn thiêng, cả Thượng Đế… Và chính Phật Tổ cũng là hiện thân của sự chiến đấu giữa hai quan niệm thời gian đó: một bên nhấn mạnh trên vô thường, với lối sống diệt sinh khắc khổ, hàng tháng mới ăn có một hai hạt vừng, c̣n một bên tích cực với lối sống b́nh hành: nhận ly sữa do nữ sinh dâng lên và được Ngộ Đạo dưới gốc cây Bổ Đề. Lối tiêu cực dẫn tới Niết Bàn và Thái Hư đă thắng thế bên phía Nam như Tích Lan, Miến Điện, Cao Miên, Lào với câu "vạn pháp vô thường". Lối tích cực với thuyết Chân Như, Như Lai, vô lượng thọ, vô lượng quang với câu "Phật pháp bất ly thế gian pháp" đă thịnh đạt bên miền đất nhân sinh, như Tàu, Nhật, Việt và hiện ra rơ nhất ở Thiên Thai tông, và biểu lộ cách b́nh dân qua các pho tương Phật tràn ngập chất sống, ngồi trước mâm hoa trái chất cao mà ta gặp rất nhiều ở Chợ Lớn.
     Đó có thể coi là gạch nối đưa ta đến quan niệm thời gian lưỡng nghi của Mă Đồ, có ngựa chạy ngang trong hoàn vũ mà cũng có đồ chỉ hàng dọc đưa về cơi tâm linh, nói trong Kinh Dịch:
     Kiền: phi long tại Thiên
     Khôn: Tẫn mă hành địa

     Quẻ kiền tượng bằng rồng bay trên trời, chỉ thời gian. C̣n khôn tượng bằng ngựa cái chạy trên đất, chỉ không gian. Ta có thể gọi quan niệm này là xoáy ốc ở chỗ vừa có dọc vừa có ngang, hay nói như giáo sư Herbert (Introd. Asie p.162) nó tiến theo đường h́nh sin, nghĩa là không thẳng bằng như cát chảy cũng không ṿng tṛn như rắn cắn đuôi, nhưng cộng cả hai vào một cơ cấu duy nhất: có vỏ thẳng (hay vuông cũng là một loại) và ruột tṛn là trung tâm. Nói theo Granet: "học giả thường cho thời gian Đông phương là chạy ṿng tṛn th́ chỉ dùng với khía cạnh thiên văn mà không đúng với khía cạnh nghi tiết" (ordre liturgique).
     Thế mà khía cạnh nghi tiết mới biểu lộ thời gian tâm lư tức triết lư. Vậy khía cạnh này đă được nhấn mạnh rất nhiều, như chúng ta sẽ thấy về sau khi bàn đến ngũ hành, hồng phạm. Ở đây chỉ cần ghi nhận một điều là quan niệm Mă Đồ không tiến một chiều hoặc chỉ có ra, có mở, có động như quan niệm b́nh cát, hoặc chỉ có vô, có đóng, có tĩnh như quan niệm rắn cắn đuôi, nhưng gồm cả hai chiều "nhất âm nhất dương, nhật động nhất tĩnh". "Nhất hạp nhất tịch" khăng khít xoắn lấy nhau trong một cơ cấu có thường, có biến.
     Hai yếu tố đối kháng đó đă được đúc vào một, đem lại cho quan niệm thời gian đó lưỡng nghi tính đặc biệt bao hàm cả ngoại vũ cả nội trụ và không đâu được tŕnh bày một cách uyển chuyển và tương đối đầy đủ cho bằng Kinh Dịch. Ngay chữ Dịch đă bao hàm ư đó v́ nó kép bởi "Nhật Nguyệt", trong đó, Nhật luôn luôn tṛn, tượng trưng cho Thường Hằng, c̣n Nguyệt khi tṛn khi khuyết, khi úp khi ngửa, biểu thị mọi biến hiện đổi thay, tức là biểu thị sự biến hóa: change progressive (non recurrent) như quan niệm Tây Âu mà ta gọi được là duy biến. C̣n chữ nhật biểu thị sự diễn tiến theo ṿng tṛn, tiến tại chỗ kiểu Ấn Độ "danse sur place", cyclic change ta có thể gọi là duy Hằng. Viễn Đông bao gồm cả hai bên, cả âm dương lấy nhau có cheo cưới đang hoàng mà học giả Tây phương quen gọi là linh phối: hiérogamic, mariage sacré, ám chỉ câu: "âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt" (Hệ từ thượng).
     Nhật nguyệt phối hợp để chỉ cái nghĩa âm dương cứng mềm, động tĩnh, thường biến… là bấy nhiêu khía cạnh của không thời đoàn tụ.
     Nhờ đó mà có sự uyển chuyển.
     "Cyclic change is recurrent change in the organic world, whereas sequent change means the progressive (non recurrent) change of phenomena produced by causality" (The Iching. Richard Wilhelm, t.1, p.305).
     Nhật: cyclic change, recurrent change: có trở lại.
     Duy hằng: chung nhi phục thuỷ của Ấn Độ
     Nguyệt: sequent change: biến đổi, tiến bộ của Tây Âu.
     Kinh Dịch của Viễn Đông gồm cả Nhật Nguyệt (Nguyệt biến thể).
     Như thế là một quan niệm Trung Dung giàn ḥa giữa hai quan niệm thời gian trái ngược giữa lượng và phẩm. Quan niệm như của Aristote, định nghĩa thời gian bằng con số sự động. Như vậy hiểu là thời gian có thể giản lược trọn vẹn vào số lượng. Quan niệm phẩm như Saint Augustin "tôi biết thời gian là ǵ, nếu đừng có ai hỏi tôi". Như vậy là một thời gian hoàn toàn chủ quan, có thể đi tới khước từ mọi đo lường, mọi sự tiếp nối. Quan niệm Dịch ở giữa: với chữ Nguyệt có đếm đo, có số lượng, nhưng với chữ Nhật th́ lại chấp nhận phần Tâm linh cũng như phẩm tính không thể đo lường, càng không thể chia ra số độ.
     Đó là đại cương về cơ cấu thời gian của ba nền văn hóa Ấn, Âu, Viễn. Và khỏi nói th́ ai cũng nhận thấy rằng chính quan niệm hàng ngang của Tây Âu đang ngự trị trên khắp thế giới và đang len lỏi vào tời tận những vùng hẻo lánh thâm sơn cùng cốc Á Phi. Càng ngày đời sống càng được tổ chức theo hàng ngang nghĩa là quy hướng vào những mục đích ích dụng và đo lường bằng đồng hồ đều đều chạy theo nhịp của sự vật, thí dụ đánh giá theo mức độ năng xuất cao thấp mà không c̣n để kẽ hở cho những đ́nh đám, hội hè, những phút phong lưu, nhàn tản… để tâm hồn con người được thoải mái thanh thoát theo quan niệm hàng dọc. Nói khác đi, với biệt thời mới có những cái tự ngoài mà chưa có cái ǵ nội khởi thuộc nhân chủ tính, do đó con người bị sự vật sai sử chứ không phải là sự vật chịu quyền điều lư của con người. V́ thế đang gây nên một cảnh hỗn mạng tao loạn đầy âu lo xao xuyến cho con người sống trong vũ trụ đang vỡ lở, v́ thiếu hẳn nguyên lư quy tụ ḥa hợp.

II. Ḥa Thời Trước Khoa Lượng Tử Và Quy Nhất Thuyết

     1. Minh chứng sự đúc kết không thời bằng Từ
     Bài đầu ta nói rằng thời gian và không gian trong triết học Đông phương đă đúc kết, nhưng đó mới là một câu khẳng định chưa được chứng minh và xác định nên vừa chưa hiểu đúc kết cách nào mà c̣n dễ bị tiếng là "thấy người sang bắt quàng làm họ". Thấy sự dồn đúc không thời của Einstein ăn tiền, nên tuyên bố đại là triết Đông cũng có sự dồn đúc như thế. Do đó cần phải minh biện một cách xác thực. Hơn nữa sự minh chứng này c̣n giúp chúng ta nhận thức ra tầm quan trọng của vũ trụ quan Triết Đông. V́ tất cả cái tinh tuư của nó nằm trong việc dồn đúc này, cho nên chúng ta sẽ c̣n gặp nó rất nhiều lần dưới những h́nh thái khác nhau qua ngũ hành, hồng phạm, lịch pháp.
     Chương trên đă tạm đủ cho chúng ta thấy cái khó khăn của bài toán đố là bắt đúc lại một khối, hai yếu tố vốn phản kích nhau rơ rệt như sáng với tối, nước với lửa, trời tṛn đất vuông, thế mà phải điều lư sao cho ổn thỏa cả hai. Cái khó ở chỗ đó, hễ nắm được then chốt là t́m ra đáp số cho mọi vấn đề nhiêu khê khác, như hóa hợp tự do với sự cần thiết, thái công với tư riêng, tinh thần với vật chất, sao cho t́nh với lư tương tham. Do đó có rất nhiều lối đúc kết với những hậu quả khác nhau gây nên tầm quan trọng thật là sâu rộng vào đời sống con người cá nhân cũng như đoàn thể. Đến nỗi ta đă nói sau Einstein người ta không thể suy tư như trước Einstein nữa. Và do đó, dần dần người ta cũng không thể "ở đời" như trước nữa. V́ suy tư là cái lái của con thuyền đời sống, lái đă xoay th́ đời sống làm sao theo măi chiều cũ. Vậy bây giờ trở lại với triết Đông và chúng ta cũng phải hỏi: có thật triết Đông đă đúc không gian thời gian lại với nhau chăng? Và chúng ta thưa là có thật và đă tự lâu lắm rồi. Tất nhiên không phải trên b́nh diện khoa học ngoại cứ theo lư trí kiểu Einstein, nhưng là trên b́nh diện nội cứ Tâm linh. Do đó trong phạm vi triết lư th́ hậu quả quan trọng hơn.
     Điều cần phải xét là có thực chăng triết Đông đă đúc kết hai yếu tố không-thời lại một, dù chỉ là nội cứ trên b́nh diện Tâm linh? Thực ra chữ đúc kết cũng là dùng ép theo thời. C̣n chính ra phải gọi là Siêu Thời, Việt thời nghĩa là đă ra khỏi thời gian nhỏ hẹp, nên c̣n cao hơn quan niệm của Einstein hay các lư thuyết tương đối khác như sẽ bàn sau. Dầu vậy ta cũng tạm gọi là sự dồn đúc cho dễ nói và chúng ta sẽ minh giải qua Từ, Tượng, Số, Chế.
     Và trước hết là chứng minh bằng Từ, và lúc ấy sự dồn đúc gọi là vũ trụ. Hai yếu tố này đă đúc kết quá kỹ, khiến con cháu không ngờ tới nữa. V́ thế để nhận thức lại điều đó, chúng ta cần ôn lại mấy định nghĩa của hai chữ Vũ trụ.
     Theo Hoài Nam Tử:
     "Tự cổ đi tới kim gọi là Trụ
     Bốn phương trên trời gọi là Vũ"
     "Văng cổ lai kim vị chi Trụ
     Tứ phương thượng hạ vị chi Vũ"
     Theo Trang Tử:
     "Có thực sự nhưng không định hạn vào chỗ nào gọi là Vũ
     Có dài (durée) mà không khởi đầu, không cuối th́ gọi là Trụ"
     Cho nên:
     Vũ có nghĩa là không gian
     Trụ có nghĩa là thời gian, cùng với định nghĩa của Hoài Nam Tử như nhau vậy.
     (Hữu thực nhi vô hồ xứ giả, Vũ dă.
     Hữu thường nhi vô bản phiêu giả, Trụ dă.
     Cái dĩ: Vũ vi không gian chi nghĩa,
     Trụ vi thời gian chi nghĩa,
     Dữ Nam Tử thuyết đồng."
     (Từ Nguyên Nam Hoa XXIII, canh tang sở)
     Dương Hùng nói:
     "Đóng khắp trong ṿng trời gọi là Vũ.
     Mở khắp cả vũ gọi là Trụ" (Kim b.50)
     Tức là hai yếu tố ngược nhau: đóng là Vũ, mở là Trụ.
     "La Hồng Sơn có một câu nhấn mạnh vào sự đúc kết Vũ và Trụ như sau:
     "Trên dưới bốn phương, đi từ cổ tới kim, hợp thành một khối, cho nên mới bảo là: không ở chỗ nào, nhưng không nơi nào là không ở".
     "Thượng hạ tứ phương, văng cổ lai kim, hồn thành nhất phiến, sở vị vô tại, nhi vô bất tại (Đại cương 256).
     La Hồng Sơn xem ra cũng đồng ư với tác giả tự điển Từ nguyên trong việc cho hai câu của Hoài Nam Tử và Trang Tử như nhau. Nhưng nếu xem kỹ lại chúng ta thấy câu của Hoài Nam Tử có tính cách b́nh dân thường nghiệm hơn, nên có cổ, có kim về thời, có trên, có dưới về Vũ. Tuy nhiên cũng c̣n cao hơn quan niệm vũ trụ tách rời nhau, v́ ở đây đă có sự đúc kết, nên kể là cao hơn. Đến câu của Trang Tử th́ chúng ta thấy tính chất siêu việt rơ rệt hẳn nhờ hai mệnh đề "Vô hồ xứ giả" (không ở nơi nào) và "Vô bản phiêu giả" (không đầu không cuối, vô thuỷ vô chung). Câu này rơ rệt là nói về thời tính với đại không gian, như sẽ bàn về sau. Ở đây, ta chỉ cần ghi nhận sự đúc kết Thời Không đều được thừa nhận bởi hai tác giả xưa (Hoài Nam Tử và Trang Tử) cũng như hai tác giả cận kim (tác giả Tự điển Từ Nguyên cũng như La Hồng Sơn). Sự thừa nhận hầu như phi ư thức tỏ ra không ai đặt vấn đề chối căi cả. Tiện đây xin ghi nhận: đôi khi trong khóa giảng sẽ nói Vũ như không gian và Trụ như thời gian, th́ hiểu theo nghĩa thông thường của bài này.
     Đó là đại để ư nghĩa hai chữ Vũ Trụ nói lên tính cách đúc lại thành một khăng khít, hai yếu tố vốn dị biệt, đối kháng là Vũ tán ra, tỏa lan, c̣n Trụ là dồn lại, quy tụ lại. Tuy đi hai chiều trái ngược mà vẫn dồn lại được, cái đặc trưng của triết Đông nằm ở chỗ đó. Bây giờ chúng ta xét tới lư chứng qua tượng h́nh.

     2. Tượng h́nh của thời gian
     Sau khi định nghĩa thời không là Vũ trụ th́ nói đến tượng h́nh trở thành dung dị hơn, v́ h́nh đó không chi khác hơn là hai h́nh vuông, tṛn vậy. Vuông tṛn lại chính là Âm Dương đă được bước thêm một bước nữa. Nếu ở đợt âm dương là một hai th́ c̣n quá đơn sơ nên phải tiến thêm một bước nữa thành ra ba bốn mới đủ khía cạnh để hiện h́nh, dù chỉ là mập mờ. Do đó sau âm dương đến tứ tượng. Tứ tượng là tiếng trừu tượng để chỉ bốn mùa, bốn phương, biểu thị cho bốn khía cạnh cần thiết cho bất cứ vật nào để hiện ra trước là tượng, rồi sau là h́nh. Hễ đă thành h́nh th́ trước tiên phải có góc, có biên dù chỉ là thấp thoáng. V́ thế, trong triết Đông, tứ tượng là yếu tố sơ khởi trên quá tŕnh cá biệt hóa (individualisation). Tiến tŕnh đó bắt đầu từ tứ tượng: vuông bốn góc tức là Vũ; c̣n Trụ là tṛn đầy viên măn không đầu không cuối. "Vô bản phiêu giả" nên biểu thị bằng ṿng tṛn. Nếu vũ trụ đă đúc lại một th́ tṛn vuông đều lồng lên nhau, làm thành h́nh kép: tṛn ngoài vuông trong. Với Tây phương, cái ṿng có chất vuông là điều không thể quan niệm được, v́ suy tư theo đối đáp mâu thuẫn: đă tṛn th́ thôi vuông, đă vuông th́ đồng thời hết tṛn.
     Với Đông phương, quan niệm theo nguyên lư Ḥa cũng gọi là đồng thời diễn tả bằng công thức "Âm trung hữu dương, dương trung hữu âm", th́ ṿng tṛn mà lại có bốn góc đă thành sự thực và truyền bá đến đại chúng bằng câu nôm na "mẹ tṛn con vuông" nghĩa là "trong mẹ tṛn, có đứa con vuông", một lối b́nh dân hóa câu "âm trung chi dương vậy". Nói khác đi, trên đường cá thể hóa ư niệm, đă tiến thêm một bước nữa: có mẹ tṛn hay là trời tṛn (thiên viên) mà cũng có con vuông (tứ địa) mới biến ra h́nh thể, "tại địa mới thành h́nh được". Cái tượng (tại thiên thành tượng) mới có thể vẽ vời h́nh dung. Và từ đấy Tứ tượng rất trừu tượng (như nguyên, hanh, lợi, trinh; hoặc thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương) mới trở nên tứ tượng cụ thể trong các thứ vuông tṛn của bốn mùa: Xuân Hạ Thu Đông được dồn làm một với bốn hướng: Đông, Nam, Tây, Bắc và bốn hành: Mộc, Kim, Thuỷ và in h́nh đó vào các vật dụng như:
  Hỏa, 
     Đền tế Thiên nền vuông, đợt trên tṛn.
     Xe vua thùng vuông, mái tṛn. Bánh chưng vuông, bánh dày tṛn…

     3. Thời gian đúc một diễn bằng số
     Đă có từ có tượng, bây giờ nói đến số cũng là việc tương đối giản dị: tṛn là ba (tam thiên) hay thiên viên. C̣n phương là bốn góc, tứ địa. Đây không phải là số để đếm, đo của toán học hay là chỉ thực tại huyền bí như các thuật số gia, hoặc như Pythagore chủ trương, nhưng là số biểu tượng của trống mái, của đất trời, của âm dương: "các số lúc đầu chỉ một âm một dương mà thôi. Tượng của dương là tṛn. Tṛn th́ đường kính một phần, chu vi ba phần (số pi). Tượng của Âm vuôn th́ đường kính một phần tư (1-4) (Thiệu Ung, kinh Dịch, bản dịch Ngô Tất Tố, tr.16).
     Từ đă dồn một thành Vũ trụ, Tượng đă trở thành mẹ tṛn con vuông, th́ số cũng dồn 3 với 4 thành 7 và con số 7 trở nên huyền niệm. Kinh Dịch nói phất phơ: "thất nhật đắc" (sau 7 ngày sẽ đắc đạo), và trong quẻ Phục, tượng viết: "phản phục kỳ đạo, thất nhật lại phục"… Cái đạo lư của sự trở về là đến đợt thứ bảy sẽ tới tự do lai suất (tức Nguyên tính của ḿnh). Những tích khác như Phật ngồi dưới gốc bồ đề (7*7= 49 ngày), đi bảy bước… Nagarjuna đi quanh tháp bảy ngày, cửa tự nhiên mở ra và được Phật trao quyển Kinh Kim Cương v.v… đều là biểu tượng nói về những đợt biến hóa mà sự tựu thành viên măn xảy ra ở đợt thứ bảy.
     Lục Tượng Sơn nói: "thất trùng thiết thành, tư tâm dă. Tư Tâm sở cách, tuy tư phi chính". "Bảy tầng bao quanh bằng sắt là chỉ tư tâm vậy. Nếu tâm đă bị ngăn cách th́ có suy tư cũng không đi vào chính lộ được". Ông có ư nói là cái linh thức bị bảy tầng tư dục bao phủ th́ không sao thấy được đạo (Kim b.187). C̣n rất nhiều câu hoặc sự tích, ở đây chỉ kể sơ cho biết có lẽ là tuần bảy ngày xuất phát do tuần trăng. V́ tháng trăng có 28 ngày (4*7=28). Nhưng không rơ từ đâu xuất hiện, chúng ta chỉ biết rằng bên Viễn Đông đă có từ lâu đời, người ta t́m ra dấu vết ít nhất từ thế kỷ 27 trước dương lịch, trong cách chia ṿng trời là bốn cung, mỗi cung có bảy độ như nêu rơ trong bảng "nhị thập bát tú" mà lối xếp thành bốn cung, mỗi cung có bảy sao, xếp theo từng bộ 2, 3, 2 cộng lại là 7 sao, rồi lại đến bộ 2, 3, 2 khác… Ngày xưa, tuần bảy ngày không rơ rệt và phổ cập như nay do thể chế ngày chủ nhật, nhưng gốc tích đă có từ truyền thống rất xa xưa. Dân Sémite trước theo tuần 8 ngày, cũng như Roma mới nhận tuần 7 ngày từ năm 45 trước dương lịch (lúc sửa lịch Julien) rồi truyền bá ra vùng Địa Trung Hải (xem Grandeur et décadence de la civilisation, S.B.Gloug, Payot. Paris, 1954, p.131). Hy lạp trước theo tuần 10 ngày.
     Tóm lại, thể chế tuần 7 ngày thuộc truyền thống nhân loại, phát sinh từ lúc nào không rơ nhưng hầu chắc là từ Đông Nam truyền đi theo đường của nhị thập bát tú, hoặc của Yoga từ Đông Nam qua Ấn Độ, rồi đến Ả Rập truyền qua Cận Đông, sau cùng đến Âu Châu và trở thành thể chế phổ quát đến độ quên hẳn ḷ đúc 3 với 4 thành 7, nên cũng quên luôn ư nghĩa huyền niệm của nó: "ngày thứ bảy Chúa nghỉ". Nghỉ là an vi, tức là cách hành động để đắc đạo. Nhưng chúng ta đă mất ư thức điều này, v́ số của triết Đông không phải để đo khối chất đếm số lượng nhưng để biểu thị phẩm tính nên nó rất uyển chuyển, lưu linh. Nếu 3 chỉ thiên, 4 chỉ địa, th́ 1,5,7,9 cũng đều chỉ thiên và 2,6,8 cũng đều chỉ địa, v́ thiên với địa ở đây hiểu theo đợt căn cơ là âm dương: chẵn lẻ hoặc cơ ngẫu. V́ chỗ biểu tượng uyển chuyển đó nên nó mặc rất nhiều h́nh thức và khi tới những số lớn th́ biến dạng bằng nhân lên hoặc cộng thêm. Do đó, người ngoài cuộc sẽ không t́m ra ư nghĩa, chẳng hạn hai số thập can và thập nhị chỉ là 10 và 12 đều là số chẵn cả th́ số lẻ ở đâu? Nhưng với người học th́ biết: số căn bản chỉ có tới 9 là tận cùng nên thêm 1 và 3 hoặc đem 10 và 12 quy cho mẫu số chung (2) để t́m ra gốc th́ được số 5 và 6, số 5 chỉ trời, số 6 chỉ đất. Số trời là thiên can (giáp, ất, bính, đinh…) số đất là địa chi (tí, sửu, dần, măo…) can là gậy cắm đứng dọc, cũng như chữ kinh trong thành ngữ kinh tuyến (độ dọc). C̣n chi là cành cũng như chữ vĩ tuyến (độ ngang). Đó là vài thí dụ căn bản về số. Bây giờ chúng ta tiến vào loại lư chứng thứ tư là thể chế.

     4. Thời qua thể chế nguyên lịch.
     Đây là nét đặc sắc nhất của triết lư nhân sinh, một thứ triết lư được thiết lập ra để mà sống: để sống sao cho ra cái sống Người, nên những ư tưởng căn bản được thể nhập vào các thể chế xă hội cốt cho những tư tưởng đâm rễ sâu vào "cơi người ta" để truyền thông nguồn sinh lực và hướng dẫn mỗi hành vi cử chỉ và đó là nét đặc trưng của nền minh triết Viễn Đông bao gồm cả nội thánh lẫn ngoại vương. Nội thánh lấy tu thân làm gốc cho nếp sống riêng tư, c̣n ngoại vương là xóa bỏ triết lư, như nhà nghệ sĩ khi đạt mức cao th́ "dấu được nghệ thuật" (art c'est cacher l'art). Hiền triết khi đạt đạo cũng cần băi bỏ triết lư hay là dấu "minh triết vào nếp sống xă hội", nên từ đó đă thiết lập ra nhiều thể chế, và do đó đời sống được thấm nhuần triết lư đến cao độ: chẳng hạn từ việc cao trọng bậc nhất như lễ tế thiên cho đến các việc thường ngày ăn vận (giầy vuông, mũ tṛn) cũng vâng theo luật vũ trụ đó. Ở đây chỉ có ư nói cách riêng đến nguyệt lệnh là một thể chế biểu lộ nguyện vọng "thuận thiên" lo lắng sao cho mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ đều thuận theo thời trời. Cốt yếu của nhà Minh đường là lấy không gian thời gian uyên nguyên làm mô dạng phải theo trong đời sống lư tưởng để không có việc làm nào đi trật thiên ư: tháng nào phải tế một thần riêng, ăn một thức hợp mùa theo cách dọn nấu ám hợp, mặc quần áo nào, bài ca khởi đầu bằng cung chi v.v… Sau đây là bản đă tước bớt, để dễ có một ư niệm đại khái (xem bản đầy đủ ở Kinh Lễ, IV, 57, Couvreur)

     BẢNG NGUYỆT LỆNH
     Ngũ hành: Thuỷ Hỏa Mộc Kim Thổ
     Thời tiết: Đông Hạ Xuân Thu Tứ quư
     Phương: Bắc Nam Đông Tây Trung ương
     Ngũ tạng: Thận Tâm Can Phế Tỳ
     Tác dụng: Thị giác Thính giác Cử chỉ Ngôn ngữ Tư duy
     Ngũ sắc: Đen Đỏ Xanh Trắng Vàng
     Ngũ vị: Mặn: Đắng Chua Cay Ngọt
     Ngũ cung: Vũ Chuỷ Giốc Thương Cung
     Số: 6 7 8 9 5
     Thiên can: Nhâm quư Bính đinh Giáp ất Canh thân Mậu kỷ
    
     Đây là một thể chế đă có từ lâu lắm, có lẽ xuất hiện đồng thời với lược đồ ngũ hành và Hồng phạm, nên c̣n mang nhiều yếu tố ma thuật mà thời cổ xưa đặt ra để g̣ bó đời sống của ông vua. Nhưng v́ quá phiền toái nên chóng bị nhăng bỏ và đánh mất ẩn ư sâu xa, chỉ c̣n lại có cái vỏ kềnh cơi. Thay v́ bám lấy dị dụng tiểu tiết để chứng minh sự lố bịch của người xưa, chúng ta nên xem đến thể đồng, tức là tác dụng dồn không thời gian lại một mới là điều quan trọng. C̣n việc áp dụng vào đời sống hàng ngày là chuyện b́ phu, phiến diện rất dễ sai lầm. Điều quan trọng nằm trong cái cơ câu tiên thiên căn để (Structure principielle) mà khi biểu thị ra bằng lược đồ th́ chính là thập tự nhai kép nét lên,
     Thay v́ + thành ra
     Nhưng tựu trung cũng chỉ là thập tự nhai, nhưng nhờ sự kép nét nên có thể cụ thể hóa đến cùng cực. Nhờ vậy thời gian, không gian không c̣n trừu tượng y như nhau, bằng lượng với số, nhưng được h́nh hiện lên với phương hướng, sắc mùi, thanh âm, có hương vị đi kèm nên dễ thấm nhập vào đời sống. Do lẽ đó mà Ngô Kinh Hùng (John Woo) v́ dương lịch như cây mùa Đông đă trút hết lá với hoa, c̣n lịch Đông phương như cây có hoa, có quả, có ngày tứ quư với các ngày hội hè đính đám. V́ đó mà cái tết Đông phương mang một khuôn mặt trọng đại vượt xa tết Tây, th́ truy căn ra chính là do sự dồn đúc không thời vậy.
     Bởi thế cần chúng ta phải t́m hiểu cái ư thâm sâu gói ghép trong bảng Nguyệt lệnh.
    
     5. Nền minh triết của nguyệt lệnh.
     Nền minh triết đó nằm trong hai chữ "Nhân chủ" nghĩa là con người đem cái sơ nguyên tượng của thập tự nhai để đóng khuôn muôn loài. Do đấy thập tự nhai trở thành cơ cấu tiên thiên của vạn vật. Vạn vật ở đợt h́nh thành ra cá vật th́ có vô số, nhưng ở đợt sơ tượng cũng quy ra được tứ linh, tức là vũ trụ biểu thị bằng bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông lồng lên bốn hướng Đông, Nam, Tây, Bắc với 4 sắc Xanh, Đó, Trắng, Đen với các mùi vị âm thanh, số lượng thích ứng… như trong bảng nguyệt lệnh đă phân chi rành rẽ. Tưởng không đâu nói rơ ràng hơn sự đúc kết không thời bằng bảng nguyệt lệnh với những hệ quả gây âm vang sâu đậm vào quan niệm về vũ trụ và nhân sinh rất ơn ích cho con người.
     Hệ quả quan trọng đầu tiên là con người làm "chủ nhân ông" của vũ trụ, ngự ở trung cung, nghĩa là ở chung một cung Hoàng thiên, Hậu thổ. V́ đó nên Tuân Tử gọi con người là Vua trời "Thiên quân" và bởi thế cũng mặc áo vàng là màu dành cho vua, vua thật chứ không phải vua bù nh́n có chúa gian thời lấn áp, v́ thế chính vua ra lệnh. Không phải ra một lần, nhưng ban hành hàng tháng nên gọi là Nguyệt lệnh và truyền ra không phải cho một dân số nào đó nhưng là cho cả vũ trụ. Vũ trụ cụ thể hóa bằng Mùa, bằng Hướng, bằng Sắc, bằng Vị… đều răm rắp tuân lệnh, không trừ bất cứ một vật nào dù chống đối nhau như nước với lửa. Tại sao lại như thế? Thưa đó là v́ con người là Vua nhưng không độc tài, nhưng là đa tài, hay nói cho chân xác hơn là Tam tài. Và Tam tài chia việc để đồng lao cộng tác: Thiên sinh, Địa dưỡng, Nhân hóa.
     Sứ mệnh của Nhân chủ là Ḥa. Thiên cao, Địa hậu mà con người ḥa hợp nổi nên gọi là thái ḥa. Do đó cái vũ trụ của Nhân chủ không có tính cách cơ khí như các quan niệm không thời với bầu khí đặc sệt của chống đối, đấu tranh, tiêu diệt, triệt tam… đầy nhóc "huỷ thể của huỷ thể" trong biện chứng của Hegel, c̣n đây là vũ trụ của nhân chủ trong không khí Dịch Hóa tức là triết lư cơ thể với nguyên lư bổ túc, hỗ tương ḥa hợp và hơn thế nữa là Thái Ḥa, như trong một cơ thể: bên ngoài th́ rơ ràng là trái ngược như tay phải với tay trái, nhưng không là phải trái để chống phá nhau mà để ḥa hợp cộng tác. Do đó khi động đến bất cứ một cái ǵ cũng là động tới tất cả: động đến một thời điểm thí dụ là xuân, tức cũng là chạm đến phương đông, màu xanh, vị chua, cung giốc, số 8… rồi lan về tới Thổ trung cung, tức là "Vũ trụ chi tâm" nên truyền âm vang ra tứ phía. Bởi đó mới nói thiên địa vạn vật nhất thể, tức là một lối nh́n sự vật sống động trong quá tŕnh biến hóa xoắn suưt lấy nhau. Khác hẳn lối nh́n cơ khí tĩnh chỉ: vạn vật không có liên hệ nào với nhau hết.
     Vẽ lại Nguyệt lệnh theo kiểu Hà Đồ sẽ dễ nhận ra điều đó:
     9
     Nam Hạ
     8
     Đông Xuân 5 7
     Tây Thu
     6
     Bắc Đông
    
     Sở dĩ có được cái nh́n "linh động" như thế là nhờ ở chỗ người nắm chủ quyền nên điều lư cho Thiên địa vạn vật đều tuân theo tiết nhịp của cái tâm ḿnh, cho nên cái đập của tâm ḿnh mới gọi được là "Thiên địa chi tâm" hoặc "Vũ trụ chi tâm" và mới có thể gọi là "Vũ trụ tiện thị ngô tâm"! Vũ trụ như thế gọi là Vũ trụ cơ thể và có tiết điệu "nhất động nhất tĩnh" như một trái tim bóp nở, v́ thế mới nói "ngô tâm tiện thị vũ trụ". Xin đừng coi đó là một câu văn chương sáo ngữ, nói lên để tự quan trọng hóa ḿnh; nhưng cần phải hiểu những hệ quả của nó, tức là với quan niệm này, con người quan niệm muôn vật đều bắt rễ nguồn nơi ḿnh. "Vạn vật giai bị ư ngă" như thế có nghĩa ta lớn vật nhỏ, nên ta mới chứa nổi chúng. Nếu con người đă lớn hơn sự vật th́ con người cần sai sử sự vật, bắt sự vật phụng sự ḿnh, nếu để ḿnh bị vật sai sử là tiểu nhân (Đại nhân sử vật, tiểu nhân sử ư vật- Tuân Tử).
     Quan niệm ngưởi sai sử vật là hệ luận của quan niệm Nhân chủ mà hậu quả lớn hơn hết là tâm trạng vui sống và tổ chức cuộc đời có sinh thú tao nhă. Sinh thú nói đây phải hiểu từ thấp đến cao, từ sinh lư đến tâm thức, là nhờ nó có một ư nghĩa. V́ vũ trụ tiện thị ngô tâm nên nếu điều hợp được tâm t́nh tức là vũ trụ có hướng. Do đó đời sống có hướng, và có nghĩa là cái gây nên cảnh vui sống. Đó là nét đặc trưng nhất trong nền văn minh Viễn Đông. Đặc trưng và sâu đậm đến nỗi tuy là miền bị cái nghèo dày ṿ nhất mà cũng không phá nổi cái "lạc thú ở đời". Tất nhiên đây nói về vũ trụ quan truyền thống của tiên tổ chúng ta. C̣n hiện nay th́ người Viễn Đông đang bị xâm chiếm bởi những ư hệ coi đời là vô nghĩa, đầy phi lư, làm bằng khắc khoải lo âu, tâm thần bất an, cám cảnh với cái sống thừa mứa không nơi trú ngụ, không chốn hướng về… Những cảm nghĩ đen tối về đời sống kiểu đó, những quan niệm về con người ti tiện nhỏ nhen đó dù mang tên bất cứ ư hệ nào th́ đều bắt nguồn từ quan niệm không gian thời gian đứng độc lập bên ngoài sự vật, kể cả con người. Lẽ tất nhiên v́ bị chứa đựng nên con người trở thành bé nhỏ hơn không thời và bị không thời đóng cũi. Và như thế là bị khuôn đúc theo mô dạng (forme) của sự vật, hoặc nói như nhóm "cơ cấu luận" ngày nay th́ " không phải là tôi nói, nhưng là sự vật nói qua tôi" (Je ne parle pas, je suis parlé). Nói khác đi tôi là bồi cho sự vật bởi v́ khi dùng óc điện tử thí dụ để suy nghĩ thay cho con người th́ con người chỉ c̣n việc thu nhặt tài liệu, làm các thống kê đưa nạp cho máy và ngồi chờ kết luận. Lư luận máy kiểu đó có thể hay cho việc làm cơ khí xây nhà lập xưởng buôn, nhưng đem áp dụng cho t́nh người là đẩy xa thêm đà nô lệ, làm sâu đậm thêm thảm trạng con người bị vong thân.
     V́ thế chúng ta cần t́m hiểu vị trí chân thực của cơ cấu thời gian Mă Đồ với hy vọng làm phục hoạt lại sức tác dụng tâm linh của nó. Cơ cấu này chúng ta sẽ mệnh danh là Ḥa Thời, theo nghĩa Ḥa là vừa lên vừa xuống "thường há vô thường, duy biến khả thích". Hệ từ hạ, tiết VIII. Sở dĩ dám mong mỏi như vậy là v́ song song với đà xuống dốc của con người trong quá tŕnh tha hóa, lại đang có những dấu báo hiệu cho sự đi lên của tâm linh và thú vị hơn cả là điều đó lại đang xảy ra ngay trong ḷng các khoa học. Có thể nói nơi đây yếu tố tâm linh đang lấn sân sang phần đất của vật chất. Nói khác tâm linh mở rộng theo đà tăng trưởng của sự nhận thức con người về ư niệm thời gian. Chúng ta hăy vẽ ra một đồ thị để tiêu biểu sự lớn mạnh của ư thức đó.
    
     6. Vị trí ḥa thời trước các khoa học hiện đại.
     Trong đồ biểu sau những nét liền chỉ ảnh hưởng không gian, nét đứt chỉ ư niệm thời gian, nét ngang to chỉ đà tăng trưởng về ư niệm thời gian
     Quy nhất thuyết là tương đối thuyết nối dài do chính Einstein đặt nền móng và được các khoa học gia khác nối tiếp để giải quyết vấn nạn đặt ra cho tương đối thuyết do khoa lượng tử. Khoa này chủ trương rằng những ḥn "gạch" xây nên thiên cầu là những vi thể (corpuscules) mà trước nhất họ cho là nguyên tử, rồi về sau lại cho là electron, proton, neutron rồi sau đến một chuỗi các thứ méson và cuối cùng nhận ra mỗi vi thể có một âm vi thể (antiparticule), tất cả đều là biệt cách (discontinu) ngược với chủ trương vạn vật có tính cách liên tục kiểu làn sóng Einstein. Sự mâu thuẫn này thực ra đă có lâu đời làm cho các nhà khoa học không biết chọn bên nào. Biệt cách hay liên tục (dicontinu ou continu).
     Năm 1833, ông Faraday đă minh chứng được vi thể của điện khí bằng t́m ra được âm điện tử (électron) và như thế là thuyết "biệt cách" thắng lợi, nhất là thuyết nguyên tử chủ trương biệt cách lúc đó cũng đang phát triển mạnh nên chủ trương "biệt cách" càng thắng thế.
     Nhưng đến năm 1865, ông Maxwell lại chứng minh được tính chất làn sóng (ondulatoire: tức là liên tục) bằng hiện thực sự đúc kết thuyết quang học với từ trường và điện khí. Khoa học điện tử xuất hiện từ đấy và sau được những công tŕnh thí nghiệm của ông Hertz đưa đến bước khải hoàn. Thêm vào đó năm 1905, chính Einstein cũng đă giải nghĩa thuyết lượng hóa ánh sáng kết thành do những hạt gọi là phổ quang. Thế mà thuyết tương đối chủ trương là liên tục, nên gây hỗn độn. Mức hỗn độn càng gia tăng thêm khi năm 1920 ông Louis de Broglie nhận ra chính những vi thể có tính chất làn sóng. Ư niệm này được hai ông Schroedinger và Heisenberg quảng diễn thêm. Thế là các nhà khoa học không biết y cứ vào đâu. Nhiều người theo đề nghị ông Bohr đưa ra thuyết "bổ túc": sự vật vừa có tính cách liên tục như làn sóng, vừa có tính chất cách biệt như hạt nhân với luận lư cái nhiên (probabiliste). Nhưng nếu chấp nhận lư luận cái nhiên th́ lại không thể diễn tả quỹ đạo của âm điện tử v́ nếu biết được đích xác vận tốc của nó trong một lúc nhất định th́ lại không thể xác định vị trí của nó trong lúc đó, và ngược lại. Đấy là điều làm bận tâm các nhà bác học khoa học. Mấy tháng trước khi qua đời, Einstein đă hé nh́n thấy cái điểm khó khăn xoay quanh cái điểm toán học không có khối lượng. Ông nhận ra cần thêm vào khoa học một điểm vật lư với những chiều kích tối thiểu mà lư trí con người không thể xuống thấp hơn nữa. Nói khác khả năng tối hậu phân biệt của con người (pouvoir séparateur) sẽ là bề dài tối sơ lối một ngàn tỉ phần milimét, viết tắt là lo - longeur élémentaire, công thức lo này sẽ giúp vào sự kiến tạo ra Quy nhất thuyết để giải quyết khó khăn giữa biệt cách và liên tục bằng đưa ra phân biệt giữa sở tri và thực tại (distinction entre le connu et le réel). Sở dĩ sự vật xuất hiện như cách biệt nhau là do giác quan chỉ thâu nhận được có một khía cạnh của sự vật. Rồi lư trí dùng những dữ kiện đó để kiến tạo ra Mô dạng thực tại, nên cũng thấy sự vật cách biệt nhau. Nhưng đó chưa phải là thực tại tự thân, là cái tiềm ẩn đối với giác quan, và cái đó có tính cách liên tục. Nếu đem thực tại ví với biển cả th́ những làn sóng nhô nhấp là những khía cạnh sự vật lần lần làm biến đổi h́nh ảnh cụ thể về vũ trụ theo đà khám phá ra chúng, nhưng đại dương vẫn là một toàn thể liên tục. Đó là lối giải gỡ khó khăn giữa biệt cách và liên tục. Kể ra cũng là một bước tiến đến sát cạnh thực tại và đặt cho nó một tên. Tuy nhiên, thực tại bàn ở đây cũng là biểu tượng chưa phải là thực tại tự thân, v́ Liên thời của Einstein mới do lư trí ư thức đạt được, chưa phải là do tâm linh nên chưa có hàng dọc tâm linh, mới là Không thời ư, có tính cách khách quan, chưa là không thời tâm được quan niệm như một Ai, như một chủ thể, một đại ngă tâm linh. Điều đó không do lỗi của Einstein và chính ông đă t́m lối thoát vượt bằng tôn giáo, bằng huyền niệm. Vậy là do những giới mốc mà tri thức khoa học không thể nào vượt qua được nữa.
     Nhưng hằng số c, h, lo. … là những biên giới của lư trí (h: một hột năng lượng chứa trong một hột ánh sáng được công thức hóa do Planck) và cũng là những hằng số tối hậu không thể giản lược hơn được nữa (constantes irréductibles).
     Đó là những tiêu biểu của sự biệt cách và cũng là những mốc giới của tri thức con người chứ không phải của thực thể. Nói rằng triết Đông thiếu hằng số là chưa nhận ra b́nh diện của nó đă lên đến đợt 4 hoặc 5, là đợt đă vượt những giới mốc của tri thức mà khoa học kêu là hằng số. Nền triết học nào c̣n có hằng số th́ chưa phải là triết lư đạt thân, v́ c̣n nói tới số, là c̣n trong ṿng đếm đo hiện tượng ở đợt 3 trở xuống. Triết học chân thực không nên có hằng số nhưng phải có Hằng tâm. Từ trái đất ta đi lên đến vân hà gần nhất là Andromèdre, ánh sáng phải đi hết hai triệu năm. Với hằng số c ta biết không có vật nào đi mau hơn ánh sáng tức gần 300.000 cây số một giây. Nhưng khi nói đến sao Andromèdre hay những vân hà xa hơn gấp bội, trí ta liền đạt tới liền. Tuy nhiên đó mới là cách mường tượng nên trừu tượng; c̣n với hằng tâm, th́ chỉ bằng một trực thị (uno intuitu) toàn thể thân tâm với hết mọi cơ năng trong người: ư, t́nh, chí đều tham dự vào ḍng sống viên măn, như câu nói của Boetius: "chiếm trọn vẹn được sự sống trong một trật cách hoàn hảo, toàn thể ḍng sống" (tota vitoe simul et perfecta posessio, Boèce) hay nói "Ngô tâm tiên thị vũ trụ" cũng thế. Ở đợt ba ta mới có hằng số với ngôn ngữ h́nh học biểu tượng, phải từ đợt 4, 5 trở lên mới có hằng tâm, với linh tượng và ngôn ngữ ḥa nhạc hoặc vô ngôn.
     4) Siêu thời: là giai đoạn siêu thoát "ra khỏi" không gian thời gian, nên cũng sẽ gọi là phi thời (Zeitlose) ḥa với hào 4 quẻ Càn: "hoặc dược tại uyên" == nhảy vào uyên mặc, hay nói như Lăo Tử là "chí hư cự, thủ tĩnh đốc", chú trọng đến thái hư, đến tĩnh đốc cùng cực, như không c̣n biết đến thời gian trôi chảy nữa, người nay gọi là đào ngũ thời gian (déserter le temps). Phi thời thường được Tây phương chỉ thị bằng chữ Eternity, Đông phương cũng nói Thường Hằng, Miên trường vĩnh cửu và hay biểu tượng bằng Thổ, v́ thổ là như nguồn vô biên của mọi khả thể, luôn luôn tiếp tế sinh lực cho muôn vật và cũng là chốn muôn vật trở về để an nghỉ sau khi đă đánh một ṿng thời gian là thành, thịnh, suy, huỷ.
     5) Ḥa thời: hợp với hào 5 "phi long tại thiên, đại nhân tạo dă", rồng bay trên trời, đại nhân sáng tạo, sáng tác (Thánh nhân tác dă, hào 5 quẻ kiền). Ḥa thời khác với Siêu thời ở chỗ chú trọng đến cả tĩnh và động, cả lên cả xuống: "nhất động nhất tĩnh, nhấp hạp nhất tịch". Nếu vẽ ra th́ siêu thời sẽ là - c̣n Ḥa thời thêm đuôi + để thành thập tự nhai, có thể coi như hai chữ thượng hạ dính liền vào nhau.
     Sự xếp đặt trên không có ư phân ngôi thứ cao thấp, nhưng là để phân loại hai cơ cấu thời gian với những đặc tính của nó. Hai loại 4, 5 gặp nhau ở chỗ siêu thoát ra ngoài thời gian bé nhỏ để nói một thứ ngôn ngữ thứ ba có tính cách giàn ḥa giữa liên tục và gián cách, cả hai đều dùng lỗi trự giác bằng tâm, nên đều có hàng dọc tâm linh ăn thấu tận thâm tâm con người, mà không phải là đường Kinh của Thiên cầu kiểu tương đối thuyết tuy gọi là dọc đối với ngang. Nhưng ngang hay dọc cũng vẫn c̣n là vũ không gian ngoại tại. Ở Siêu và Ḥa thời trái lại là đường dọc thực sự, là chính cái ǵ thâm sâu nhất của con người, chứ không c̣n chỉ là biểu tượng suông, nhưng đă đạt đến linh tượng để rồi nhập ḍng sống "sinh sinh bất tức", để kiến tính và thành tính tồn tồn đạo nghĩa chi môn". Cho nên sự nối kết không c̣n hạn cục lại ở vũ trụ khách quan, nhưng bao trùm cả tâm hồn thân xác nên có thể huy động hết mọi năng lực tinh thần. Đó là mấy điểm chung cho cả Siêu thời lẫn Ḥa thời.
     Đến khi áp dụng th́ Siêu thời chú trọng "độc thiện kỳ thân", vấn đề xă hội không phải không chú trọng tới, nhưng chỉ cách gián tiếp: nếu tu thân đắc đạo th́ ân huệ tự nhiên trào ra lân nhân. Ḥa thời th́ coi tu nhân là "bước vào", phản thân nhi Thành, thành Tánh. Thành Thánh đó là bước "nội thánh", c̣n đi ra ngoài gọi là bước ngoại vương hầu cho vạn quốc hàm ninh (hào 5, quẻ Kiền).
     Hiểu như thế, Ḥa thời sẽ trở nên ṇng cốt để hướng dẫn cuộc sống con người hiện đang lâm bệnh tán loạn tâm thần.
     Khi khoa phân tâm muốn đo sức mạnh của một người th́ thường căn cứ theo khả năng định hướng con bệnh, thí dụ trước những câu hỏi: hiện chúng ta đang ở đâu? vào lúc nào?… nếu bệnh nhân thưa được liền th́ tỏ ra không phải là bệnh. Trái lại khi thưa chậm là có bệnh, c̣n nếu không thưa được ǵ là bệnh nặng. Tuy nhiên đó mới là lối đo bệnh cân năo, chứ như muốn ước lượng sức vóc hay bệnh tật của một nền văn minh th́ khó hơn. Tuy vậy ta vẫn có thể dùng cơ cấu thời gian của mỗi nền văn minh làm chỗ chẩn mạnh: nếu ta không thấy trong đó có nguyên lư để thống nhất ḥa hợp mọi hoạt động của con người từ chính trị, kinh tế, đến học vấn, nghệ thuật v.v… mà ngược lại trước sau chỉ là một nền triết lư tan nát được chỗ này thiếu chỗ kia, làm cho người sống trong bầu văn minh đó không t́m ra được hướng đi, không thấy ư nghĩa cuộc đời, đến phải chán ngấy lo âu, xao xuyến… th́ ta hiểu cơ cấu đó lâm bệnh trầm trọng. V́ khi một yếu tố nào trong con người lư, t́nh, chí bị khước từ, khi một số xu hướng thâm sâu trong con người bị gạt ra, phải sống lần ṃ v́ thiếu ánh sáng triết lư chỉ đường, th́ truy cùng cho tới căn do là tại luồng sáng của nền triết lư đó chưa đủ mạnh để soi thấu đến khắp các ngơ ngách, nên c̣n có những chỗ tối tăm. Ngược lại nền triết lư nào chấp nhận toàn triệt cuộc sống bao hàm cả ngoại vũ tức mọi hiện tượng, mọi biến cố, mà cũng đạt tới nội trụ tâm linh, nên có thể nói là hợp ngoại nội, ḥa hàng ngang ư thức với hàng dọc siêu thức cũng như coi thiên địa vạn vật là Nhất thể, th́ nền triết lư đó rất mạnh khoẻ sung sức, không những có thể Siêu và Việt nghĩa là đủ sức lên mà cũng c̣n đủ sức xuống. Bởi thế ngày nào chúng ta nhận thức lại được nội dung trung thực của Ḥa thời, th́ lúc đó sẽ xảy ra hiện tượng mà cụ Nguyễn Du mong ước và tiên đoán trong câu thơ:
     "Sương tuyết tiêu Thời Hợp hóa long".
     Thời hợp là thời ḥa.
     Mà Thời Ḥa mới chính là Thời Việt vậy.

Trang   [1]   2   3  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved