www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Việt Nam Sử Lược

Trần Trọng Kim

     TỰA
     Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đă qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, t́m ṭi cái căn nguyên những công việc của người ta đă làm để hiểu cho rơ những vận hội trị loạn của một nước, những tŕnh độ tiến hóa của một dân tộc.  Chủ đích là để làm cái gương
chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đă phải lao tâm lao lực những thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này.
    
Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước ḿnh mới có ḷng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xă hội của tiên tổ đă xây dựng nên mà để lại cho ḿnh.  Bởi những lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đă có đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc lập, th́ cũng có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần, vào quăng thế kỷ thứ XIII.  Từ đó trở đi nhà nào lên làm vua cũng trọng sự làm sử.  Nhưng cái lối làm sử của ta theo lối biên niên của Tàu.  Nghĩa là năm nào tháng nào có chuyện ǵ quan trọng th́ nhà làm sử chép vào sách.  Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ không giải thích cái gốc ngọn và sự liên can việc ấy với việc khác là thế nào.
     Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dẫu thế nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ư thiên vị về nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua, hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của nhân dân trong nước. 
Vả, xưa nay ta vẫn chịu quyền chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước.  Cả nước chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo cái chủ nghĩa ấy mà chép sử, thành ra sử đời nào cũng chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi.  Bởi vậy xem sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học vấn là mấy.
    
Sử của ḿnh đă không hay, mà người ḿnh lại không mấy người biết sử.  Là v́ cái cách học tập của ḿnh làm cho người ḿnh không có thể biết được sử nước ḿnh. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học th́ chỉ học sử Tàu,chứ không học sử nước nhà.  Rồi thơ phú văn chương ǵ cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện nước ḿnh th́ nhất thiết không nói đến.  Người ḿnh có ư lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm ǵ.  Ấy cũng là v́ xưa nay ḿnh không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc ǵ cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự ḿnh th́ không có cái ǵ là cái đặc sắc, thành ra thật rơ như câu phương ngôn: "Việc nhà th́ nhác, việc chú bác th́ siêng!"  Cái sự học vấn của ḿnh như thế, cái cảm t́nh của người trong nước như thế, bảo rằng ḷng v́ dân v́ nước mở mang ra làm sao được?
    
Nhưng dẫu thế nào mặc ḷng, nước ta đă có sử ta th́ cũng có thể bởi đó mà biết được những sự đă qua ở nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu được nhiều việc quan hệ đến vận mệnh nước ḿnh từ xưa đến nay xoay vần ra làm sao.  Hiềm v́ sử nước ta th́ làm bằng chữ Nho cả, mà chữ Nho th́ từ rày trở đi chắc rồi mỗi ngày một kém đi.  Hiện nay số người đọc được chữ Nho c̣n nhiều, mà trong nước c̣n không có mấy người biết được chuyện nước nhà, huống chi mai sau này chữ Nho bỏ không học nữa, th́ sự khảo cứu về những việc quan hệ đến lịch sử nước ḿnh sẽ khó biết bao nhiêu!
     Nay nhân sự học ở nước ta đă thay đổi, chữ Quốc Ngữ đă phổ thông cả trong nước, chi bằng ta lấy tiếng nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ Việt Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại, đặt thành chương, thành mục rơ ràng, để ai ai cũng có thể xem được sử, ai ai cũng có thể hiểu được chuyện, khiến cho sự học sử của người ḿnh được tiện lợi hơn trước.
     Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời đại: Thời đại thứ nhất là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. 
Trong thời đại ấy, từ chương thứ III, bàn về xă hội nước Tàu trước đời nhà Tần, phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền hoặc cả.  Những nhà chép sử đời trước cũng theo tục truyền mà chép lại, chứ không có di tích ǵ mà khảo cứu cho đích xác.  Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ mà chép lại, rồi cũng phê b́nh một đôi câu để tỏ cho độc giả biết rằng những chuyện ấy không nên cho là xác thực.
     Thời đại thứ nh́ là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua Vũ Đế nhà Hán lấy đất Nam Việt của nhà Triệu, cho đến đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ Khúc và họ Ngô xướng lên sự độc lập. 
Những công việc trong thời đại ấy, th́ sử cũ của nước ta chép rất là sơ lược lắm.  V́ rằng trong thời đại Bắc Thuộc, người ḿnh chưa được tiến hóa, sự học hành c̣n kém, sách vở không có, cho nên về sau những nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê cứu vào đâu được, chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi.  Vả, người Tàu lúc ấy vẫn cho ḿnh là một xứ biên địa dă man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên những chuyện chép ở trong sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để cũng chỉ chép những chuyện cai trị, chuyện giặc giă, chứ các công việc khác th́ không nói đến.
     Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một ngh́n năm, mà trong thời đại ấy dân t́nh thế tục ở nước ḿnh thế nào, th́ bấy giờ ta không rơ lắm, nhưng có 1 điều ta nên biết là từ đó trở đi, người ḿnh nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái ṿng phụ thuộc nước Tàu nữa, người ḿnh vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. 
Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đă trở thành ra cái quốc túy của ḿnh, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được.  Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, th́ sự biến cải mới có công hiệu vậy.
    
Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô, nhà Đinh cho đến sơ-diệp nhà Hậu Lê.  Nước ḿnh từ thời đại ấy về sau là một nước dộc lập, tuy đối với nước Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là không ai xâm phạm đến cái quyền tự chủ của ḿnh. Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới dấy lên; c̣n phải xây đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc vơ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học không được mở mang lắm.  Về sau đến đời nhà Lư, nhà Trần, công việc ở trong nước đă thành nền nếp, kẻ cừu địch ở ngoài cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều vua hiền tôi giỏi nối nhau mà lo việc nước, cho nên từ đó trở đi việc chính trị, việc tôn giáo và việc học vấn mỗi ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một nước có thế lực, bắc có thể chống được với Tàu, nam có thể mở rộng thêm bờ cơi.  Nhà Lư và nhà Trần lại có công gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ, khiến cho về sau đến đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ quấy rối, người Tàu đă toan đường kiêm tính, người ḿnh biết đồng tâm hiệp lực mà khôi phục lại giang sơn nhà.  Kế đến nhà Lê, trong khoảng một trăm năm về buổi đầu, nước ḿnh cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), th́ sự văn trị và vơ công đă là rực rỡ lắm.  Nhưng về sau gặp những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát, kẻ gian thần dấy loạn.  Mối binh đao gây nên từ đó, người trong nước đánh giết lẫn nhau, làm thành ra nam bắc chia rẽ, vua chúa tranh quyền.  Ấy thật là một cuộc biến lớn ở trong nước vậy.
    
Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà Mạc làm sự thoán đoạt cho đến nhà Tây Sơn.  Trước th́ nam Lê, bắc Mạc, sau th́ Nguyễn nam, Trịnh bắc, sự cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, ḷng ghen ghét càng ngày càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương thường chểnh mảng: nước đă có vua lại có chúa.  Trong Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn, công việc ở đâu, chủ trương ở đấy.  Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc cũng có nhiều việc hay, mà việc khai khẩn trong Nam thật là ích lợi.  Nhưng cuộc thành bại ai đâu dám chắc, cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát cả ngôi vua cùng nghiệp chúa.  Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng không được 20 năm, th́ bản triều nhà Nguyễn lại trung hưng lên, mà đem giang sơn về một mối, lập thành cái cảnh tượng nước Việt Nam ta ngày nay vậy.
    
Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế Tổ bản triều cho đến cuộc Bảo Hộ bây giờ.  Vua Thế Tổ khởi đầu giao thiệp với nước Pháp Lan Tây để mượn thế lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau v́ những vua con cháu Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên Chúa và đóng cửa không cho ngoại quốc vào buôn bán. Những đ́nh thần th́ nhiều người trí lự hẹp ḥi, cứ nghiễm nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi.  Đối với những nước ngoại dương, th́ thường hay gây nên sự bất ḥa, làm cho nước Pháp phải dùng binh lực để bênh vực quyền lợi của ḿnh.  V́ những chính sách ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo Hộ.
     Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà soạn giả đă
theo từng thời đại để đặt ra.  Soạn giả đă cố sức xem xét và góp nhặt những sự ghi chép ở các sách chữ Nho và chữ Pháp, hoặc nhữNg chuyện rải rác ở các dă sử, rồi đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn ra bộ sách này, cốt để người đồng bang ta biết được chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn hoặc.  Thời đại nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả cứ b́nh tĩnh cố theo cho đúng sự thực.  Thỉnh thoảng có một đôi nơi soạn giả có đem ư kiến riêng của ḿnh mà bàn với độc giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà Tây Sơn th́ thiết tưởng rằng sử là của chung cả quốc dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho nên mới phải lấy công lư mà xét đoán mọi việc và không vị t́nh riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy.
    
Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử Lược chỉ cốt ghi chép những chuyện trọng yếu để hăy tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn quyển sách mà xem cho tiện.  C̣n như việc làm thành ra bộ sử thật là đích đáng, kê cứu và phê b́nh rất tường tận, th́ xin để dành cho những bậc tài danh sau này sẽ ra công mà giúp cho nước ta về việc học sử.  Bây giờ ta chưa có áo lụa, ta hăy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có thể làm cho ta đỡ rét.  Nghĩa là ta hăy làm thế nào cho những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng có thể biết một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn.  Ấy là cái mục đích của soạn giả, chỉ có thế thôi.  Nếu cái mục đích ấy mà có thể tới được th́ tưởng bộ sách này là bộ sách có ích vậy.
    
Trần Trọng Kim

     THƯỢNG CỔ THỜI ĐẠI
     Họ Hồng-Bàng (2879 - 258 trước Tây Lịch)
     1. Họ Hồng Bàng
     2. Nước Văn Lang
     3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
     3.1 Phù Đổng Thiên Vương
     3.2 Sơn Tinh Thủy Tinh
      
     1.
Họ Hồng Bàng.
     Cứ theo tục truyền th́ vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
     Bờ cơi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đ́nh Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
     Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quăng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch) và lấy con gái Động Đ́nh Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lăm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
     Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai (1). Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là ḍng dơi Long Quân, nhà ngươi là ḍng dơi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm con th́ nhà người đem 50 đứa lên núi, c̣n 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải".
Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) c̣n xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là một điều nói phỏng, chứ không có lấy ǵ làm đích xác được.
      
     2. Nước Văn Lang.
     Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
     Cứ theo sử cũ th́ nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
     1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
     2.
Châu Diên (Sơn Tây)
     3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
     4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
     5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
     6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
     7. Lục Hải (Lạng Sơn)
     8. Ninh Hải (Quảng Yên)
     9. Dương Tuyền (Hải Dương)
     10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh B́nh)
     11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
     12. Hoài Hoan (Nghệ An)
     13.
Cửu Đức (Hà Tĩnh)
     14. Việt Thường (Quảng B́nh, Quảng Trị)
     15. B́nh Văn (?)
     Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng vơ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang,
con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính (2). Quyền chính trị th́ cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
     Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân măo (1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải t́m người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về nước.
Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
    
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quư măo (158 trước Tây lịch) th́ bị nhà Thục lấy mất nước.
     Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quư măo (258 trước Tây lịch) th́ vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị v́ được non 150 năm!
Dẫu là người đời thượng cổ nữa, th́ cũng khó ḷng mà có nhiều người sống lâu được như vậy. - Xem thế th́ đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.
    
3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
     Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị giống thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ ḿnh để những giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa (3). Sử lại chép rằng thuyền của ta ở đằng mũi thường hay làm hai con mắt, cũng có ư để cho các thứ thủy quái ở sông ở bể không quấy nhiễu đến.
     Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay người ta thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên Vương và truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
     Truyện Phù Đổng Thiên Vương:
     Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc
Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để t́m người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Vơ Ninh (nay là huyện Vơ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đ̣i vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong th́ đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
     Phá được giặc
Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn th́ biến đi mất.  Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương (4).
    
Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin làm sự thực được.  Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ ơn làm đền thờ th́ hợp lẽ hơn.  Hiện bây giờ có đền thờ ở làng Gióng tức làng Phù Đổng.  Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh Gióng.
     Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh:
     Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. 
Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước th́ gả cho người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba V́ ở tỉnh Sơn Tây).
     Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh ở trên núi không việc ǵ: hễ nước lên cao bao nhiêu, th́ Sơn Tinh làm núi cao lên bấy nhiêu.
Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một lần, dân gian thật là cực khổ.
     Truyện này là nhân v́ ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7 cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng, ngập mất cả ruộng đất.
Người ta không hiểu là tại lẽ ǵ, mới tưởng tượng mà đặt ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
     Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam thế kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Kư, chép từ Triệu Vơ Vương đến Lư Chiêu Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Kư: chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, th́ sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ.
Xem thế th́ đủ biết những truyện về đời ấy khó ḷng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
    
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn t́m cái gốc tích của ḿnh ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của ḿnh. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là con tiên cháu rồng, v.v....
     Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, th́ sự học mới có lợi vậy.

     (1)  Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra một trăm con.
     (2)  Bây giờ c̣n có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đ́nh, chắc là bởi Bồ Chính mà ra.
     (3)  Sử chép rằng người Việt Nam ta có thói vẽ ḿnh măi đến đời vua Anh Tông nhà Trần mới bỏ.
     (4)  Có người chép truyện này nói rằng: Giặc
Ân là quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây và Thiểm Tây bây giờ mà thôi. C̣n những đất ở bên này sông Trường Giang là man di hết cả. Từ Trường Giang sang đến Bắc Việt ta xa cách bao nhiêu đường đất. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm vua nữa, th́ chắc cũng chưa có kỷ cương ǵ, có lẽ cũng giống như một người làm Quan Lang trên Mường mà thôi, như thế th́ đă có giao thiệp ǵ với nhà Ân mà đánh nhau. Vả lại, sử Tàu cũng không có chỗ nào chép đến truyện ấy. Vậy th́ lẽ ǵ mà nói rằng giặc Ân là người nhà Ân bên Tàu.

Trang   [1]   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20  
21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40  
41   42   43   44  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved