www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

S Kư Tư Mă Thiên

Dịch giả : Nhữ Thành

Lời giới thiệu

     Đối với văn hoá thế giới, quyển sử kư của Tư Mă Thiên chiếm một địa vị đặc biệt. Nó là công tŕnh sử học lớn nhất của Trung quốc và là một trong những quyển sử có tiếng nhất của thế giới. Nhưng c̣n một điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn là công tŕnh khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại. Người Trung hoa xem nó là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền văn học cổ Trung quốc, và xem nó là tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ Phủ.
    
Sử kư là cả một thế giới. Nó làm thoả măn tất cả mọi người. Người nghiên cứu sử t́m thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với giá trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên cứu tư tưởng t́m thấy qua Sử kư “một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại” (1). Người b́nh thường t́m thấy vô số những h́nh tượng điển h́nh, những câu chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mănh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại và không phải chỉ có thế. Người nghiên cứu văn học c̣n t́m thấy ở đấy một tác phẩm văn học, măi măi tươi trẻ như sự sống, họ thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót đầy sức mạnh của thơ trữ t́nh, “một tập Ly tao không vần” như lời đánh giá của Lỗ Tấn.
------------------------
    
1. Bách khoa toàn thư xô-viết mục : Sử kư.
    

    
I. CON NGƯỜI
     Tư Mă Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước Công nguyên, ở Long Môn hay là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đă làm Thái sử. Đến đời cha của ông là Tư Mă Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm là một người học rất rộng, rất thích học thuyết Lăo Trang. Chức sử quan ngoài việc chép sử c̣n coi thiên văn, làm lịch, bói toán. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch th́ cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, c̣n thế tục vẫn coi thường”. Tuy vậy, Tư Mă Đàm vẫn thấy cái nghề của ḿnh cao quư, v́ ông biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước. Trong các sử quan đời trước, cũng có những người dám hy sinh đời ḿnh để viết sự thật, dù sự thật ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ giết vua Tề, th́ quan thái sử nước Tề viết : “Thôi Trữ giết vua của ḿnh là Trang Công”. Quan thái sử bị giết, người em lên thay vẫn viết như vậy, nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Khổng Tử làm kinh Xuân Thu cũng là chép lại những sự thực lịch sử cốt để “chế thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội các đại phu, nêu rơ vương đạo.”
     Tư Mă Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm bạn với những người nông dân b́nh thường, và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi, ông đă học Tả Truyện, Quốc Ngữ, Thế bản và thuộc ḷng hầu hết những bài văn nổi tiếng của thời trước.
     Tư Mă Đàm hết sức chú ư đến việc giáo dục con. Năm Tư Mă Thiên hai mươi tuổi, ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này Tư Mă Thiên sẽ phải viết sử. Tư Mă Thiên trước tiên đi về nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài, sông Tứ, thăm một mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào hang Vũ Động t́m di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đă nghe những chuyện kể về vua Việt, Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô t́m di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lăi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nh́n dấu vết mộ vua Thuấn, và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên miền Bắc vượt sông Vấn, sông Tử đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nh́n lăng miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang, để t́m hiểu rơ thời niên thiếu của những con người đă dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của Xuân Thân Quân, đến nước Nguỵ hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An. Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm, ông c̣n đi những chuyến khác cũng để t́m tài liệu. Trong thời xưa, việc đi lại rất khó khăn, trên đường giặc cướp rất nhiều, những nhà du thuyết có bôn ba từ nước này sang nước khác th́ cũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp, chứ chưa có ai v́ mục đích khoa học mà lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng Đông, Quảng Tây, c̣n từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn Lư Trường Thành, ở đâu cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của Trung Cổ.
     Những cuộc du lịch đă cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp ông thấy được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến cố lịch sử và cho ông rất nhiều chi tiết điển h́nh về đời sống từng người trong lúc c̣n hàn vi.
     Chính những cuộc “đi chơi” như vậy đă làm cho Tư Mă Thiên thấy cái bao la hùng vĩ của đất nước, có được một ư thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ quốc , về tất cả mọi mặt để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mă Tồn một văn sĩ đời sau nói, “Muốn học cái văn của Tư Mă Tử Trường th́ trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường.” Câu nói đó không phải là quá đáng.
     Sau lúc đi du lịch về, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ có trách nhiệm bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy, ông biết Lư Lăng cùng làm lang trung như ông, và thường gặp Lư Quảng.
     Năm 110 trước Công Nguyên, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiên ở Thái Sơn, Tư Mă Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà dặn rằng :
     - Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối nghiệp ta làm thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta muốn bàn, muốn viết… Hiện nay bốn biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu hổ. Con hăy nhớ lấy !
     Ông khóc mà vâng lời.
     Ba năm măn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (-108) chuẩn bị viết bộ Sử kư, thực hiện cái hoài băo lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong ước duy nhất của ḿnh. Từ - 106, ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt mài biên chép. Như thế được bảy năm th́ xảy ra cái vạ Lư Lăng.
     Năm 99 trước Công Nguyên, Vũ Đế sai Lư Quảng Lợi cầm ba vạn quân đánh Hung Nô. Bấy giờ Lư Lăng, cháu của danh tướng Lư Quảng, cầm năm ngàn quân vào biên giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng v́ cách xa biên giới, bị chặn mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không c̣n sức chiến đấu, Lăng phải đầu hàng. Vũ Đế nổi giận muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ư nhà vua. Thiên biết Lăng từ hồi hai người c̣n làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng mến phục Lăng là người can đảm có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu :
     - Lư Lăng mang năm ngh́n quân thâm nhập vào nước địch, đánh nhau với quân địch mạnh, luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền Vu sợ hăi, đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăng một ḿnh hăng hái chiến đấu ở ngoài ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh không đến, người chết và bị thương chồng như núi, nhưng nghe Lư Lăng hô hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy nước mắt giơ nắm tay không, xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần cho rằng Lư Lăng có thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại, nhưng xem ông ta c̣n muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
     Ông hy vọng lời nói của ḿnh có thể giảm nhẹ tội Lư Lăng, không ngờ Vũ Đế càng giận, cho ông cố ư đề cao Lăng để chê Lư Quảng Lợi nhút nhát không lập nên công lao ǵ, mà Quảng Lợi lại là anh của Lư phu nhân rất được nhà vua yêu quư. Vũ Đế bèn sai bắt giam Tư Mă Thiên giao cho Đỗ Chu xét xử.
     Nhân vật Đỗ Chu đă được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có người trách y, “Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp luật mà xét, trái lại chỉ lo ch́u theo ư nhà vua?” Đỗ Chu đáp, “Luật lệnh ở đâu mà ra ? Chẳng phải do nhà vua mà ra đó sao?” Gặp phải bọn quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách nào khỏi tội.
     Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp bị chém, một người cùng chung cảnh ngộ (Xem thư trả lời Nhâm An). Ông đă kể lại nỗi cay đắng của ḿnh. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đuổi sự nghiệp của ḿnh quên cả gia sản, nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích, không ai nói hộ một lời, không ai giúp cho một đồng . Kết quả, con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đi khắp Trung quốc, nhà học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài băo làm Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội “coi thường nhà vua”, và bị thiến !
     Đă mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Những ông thấy rằng nếu chết đi th́ chẳng ai khen ḿnh là tử tiết, mà thế tục sẽ bảo đó là v́ xấu hổ mà tự sát. Vả chăng, sự nghiệp chưa tṛn, Sử kư c̣n dở dang, lời dặn của cha c̣n đó. Ông gạt nước mắt, nói , “Người ta ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng”, và cố gắng gượng sống.
     Cái ấn tượng nhục nhă, cô độc theo dơi ông cho đến khi chết. Mỗi khi nghĩ đến cái nhục bị h́nh phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông không v́ thế mà chán nản. Trái lại, ông càng t́m thấy ư nghĩa của cuộc sống. Ông thấy rơ h́nh phạt đó là một thử thách đối với những “người trác việc phi thường”. Ông càng thấy cần phải viết “cho hả điều căm giận”. Và chính cái h́nh phạt nhục nhă ấy đă làm cho ông hiểu rơ cái mặt trái của xă hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở thành nhà sử gia đại của một nhân dân vĩ đại.
     Quyển Sử kư trước kia là ư nghĩa của đời ông, bây giờ c̣n là nơi ông giải bày nổi ḷng uất ức. Càng cảm thấy nhục nhă, ông càng thấy thiết tha với công việc, đem cả tâm huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng dù ḿnh tàn phế, bị ô nhục, nhưng quyển sách kia sẽ thay ḿnh nói với cuộc đời.
     Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần vua, được ra vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao như vậy, nhưng ông chỉ cảm thấy xấu hổ v́ đó là chức quan chỉ dành cho những hoạn quan.
     Hiện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông viết bức thư trả lời cho Nhâm An năm ông 53 tuổi (-93), và sau đó không có những tài liệu ǵ về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công hành niên khảo có lẽ ông mất năm 60 tuổi (-86) cùng một năm với Vũ Đế.
     Quyển Sử kư như tác giả nó nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng trước mắt.
Sau khi ông chết, cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này được cất kỹ măi đến thời cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế mới được công bố.
     Ngoài Sử kư, ông c̣n làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm –104, ông cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch. Âm lịch c̣n dùng đến ngày nay là công tŕnh của nhóm này, trong đó ông đóng vai tṛ chủ chốt.

    
II. TÁC PHẨM
     Sử kư là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm phần : Bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện .
    
1. Bản kỷ – chép sự tích của các đế vương, gồm có : Ngũ đế (Hoàng đế, Chuyên Húc, Cốc, Nghiêu, Thuấn)
    
2. Hạ, Thương, Chu - mỗi thời đại một bản kỷ
    
3. Tần hai bản kỷ - một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thuỷ Hoàng; một bản kỷ về Tần Thuỷ Hoàng.
     
4. Hạng Vũ
    
5.
Các bản kỷ về nhà Hán : Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.
     Tất cả có
12 bản kỷ, nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ. Vương Túc đời Nguỵ nói, “Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử kư bèn lấy bản kỷ của Hiếu Cảnh và của ḿnh xem, giận lắm vứt đi, cho nên phần này chỉ có mục đề thôi, không viết ǵ”. Về sau Chử Toại Lương lấy những phần này ở quyển Hán Thư của Ban Cố để điền vào cho đủ. Điều đó không phải không có lư v́ Tư Mă Thiên có thái độ rất nghiêm khắc đối với các vua chúa, cũng không kiêng nể ǵ ông vua đang sống mà ông đă công kích mănh liệt trong phần Phong thiện thư. Chính v́ thế, Vương Doăn đời Hậu Hán gọi Sử kư là một quyển “báng thư” (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả thiên hạ. Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau không dám nghĩ đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thuỷ Hoàng thành một bản kỷ, v́ trong thời Chiến quốc, nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước . Ông làm bản kỷ Lữ Hậu, mặc dầu Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị v́ trên danh nghĩa. Trái lại, ông không làm bản kỷ của Huệ Đế, mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là vua. Đó là v́, tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ Hậu. Đặt một người đàn bà lên địa vị “kỷ cương” một nước, là điều không một sử gia nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp nhất,mặc dù Hạng Vũ chưa làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là v́ ông tôn trọng sự khách quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải là người làm chủ các chư hầu đánh lại nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa đế), nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất trong việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm năm, chính là Hạng Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc, cái nh́n khái quát về từng thời đại để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
     2. Biểu : Để có cái nh́n đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mă Thiên lập ra mười biểu gồm có :
     1. Thế biểu thời tam đại
     2. Niên biểu mười hai nước chư hầu.
     3. Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc
     4. Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
     5.
Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
     6. Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ
     7. Niên biểu các nước chư hầu thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
     8. Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
     9. Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
     10. Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
     Những bản biểu là những công tŕnh khoa học rất quư, ghi chép, năm, tháng, biến cố, giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự tương quan của nó về thời gian cũng như về không gian với các sự kiện khác, đặc biệt ở trong một nước mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung quốc cổ.
     3. Thư : Lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mă Thiên nhận thấy điều đó nên viết tám “thư” dành cho tám mặt. Điều này cũng biểu hiện rằng ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là :
     1. Lễ thư
     2. Nhạc thư
     3. Luật thư
     4. Lịch thư
     5. Thiên quan thư
     6. Phong thiện thư
     7. Hà cừ thư
     8. B́nh chuẩn thư
     Phần này rất quư về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rơ sự biến đổi, những cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn, v…v… qua các thời đại. Điều làm chúng ta hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về mọi mặt và ở đâu ông cũng có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên “Phong thiện thư”, nói về những mê tín, cúng tế, của vua chúa với một giọng châm biếm chua chát. Thiên “Hà cừ thư” nói về các con sông đào ở Trung quốc. Thiên “B́nh chuẩn thư” nói về kinh tế. Những thiên này viết chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các sách cổ, nói về những thiết chế xă hội. Chúng làm ta thấy tác giả có một cái nh́n duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh tế, khoa học, văn hoá đối với lịch sử một nước. Rất tiếc v́ phạm vi quyển tuyển tập hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên “B́nh chuẩn thư”, và do đó, không thể nào nêu lên được một cái nh́n toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
     4. Thế gia : Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, v…v… Những người có địa vị lớn trong quư tộc như các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công, Thiệu Công, và những người có công lớn như Trương Lương, Trần B́nh, v…v… Đáng chú ư nhất là tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có một tấc đất phong. Đó là Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch sử tư tưởng của Trung quốc, và Trần Thiệp, anh chàng cố nông đă cầm đầu cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của lịch sử dân tộc Hán. Cách nh́n như vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
     5. Liệt truyện : Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên bao gồm những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ư trước hết là phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung quốc mà ông là người đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát đứng đắn và khoa học (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên, một phần liệt truyện sẽ dành cho những người tai mắt trong xă hội cũ như những danh tướng (Mông Điềm, Lư Quảng, Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng, v…v..) Điều đáng chú ư nhất ở đây là ông đă nh́n thấy vai tṛ to lớn của những con người b́nh thường, thường không có chức tước ǵ nhưng có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách, trọng nghĩa, khinh tài mà ông đă ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách Liệt truyện, Du hiệp Liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông đă ghi lại cuộc đời, hành trang và đánh giá học thuyết (Lăo Tử, Trang Tử, Tuân Khanh, v..v..) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mă Tương Nhu mà ông nêu lên giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí những anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên một con người yêu nhân dân và sự thật như Tư Mă Thiên không thể nào quên những tên sâu, mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn “khốc lại” chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông mạt sát bằng những lời phẩn nộ. Thế giới của Tư Mă Thiên bao la như vậy! Quy mô của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn học Trung quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ. Ở đây có cái biến ảo của Nam Hoa Kinh, có cái rạch ṛi của Hàn Phí Tử. Nhưng c̣n một cái nữa mà văn học từ Hán trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ư thức bám chắc vào sự thực, không rời cuộc sống dù chỉ nửa bước. Chúng ta cảm thấy ḿnh đứng cả hai chân trần trên mảnh đất của sự thực.
     Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là v́ Sử kư chính là Tư Mă Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.
    
    
III. TƯ TƯỞNG
     Tư Mă Thiên tự định nghĩa ḿnh là một con người “bất cơ”. “Bất cơ” tức là không chịu trói buộc ḿnh theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn hai mươi tuổi, cha c̣n sống, vẫn cứ “viễn du” đi khắp địa bàn Trung quốc, đó là một hành động bất cơ. Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu ǵ, v..v…từng một ngày. Và thế là tṛn trách nhiệm. Nhung ông lại muốn “nối nghiệp Khổng Tử, soi sáng cho đời, chỉnh lư được Dịch Truyện, tiếp tục được Kinh xuân Thu nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, tóm lại ông muốn làm một Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên chế cực độ. Đó cũng là một ư nghĩ “bất cơ”.
     Tư Mă Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông lên sáu th́ Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời Vũ Đế chính là lúc uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại, huy hoàng làm người ta ngợp mắt. Trong B́nh Chuẩn Thư, tác giả đă nói đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban đầu, kho đạn đầy rẫy, tiền tiêu không thể hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín nhà Hán đă đạt đến tŕnh độ xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt, phía Bắc đến Triều Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn độ, La Mă. Thành phố tấp nập, cung điện nguy nga. Năm – 138 trước Công Nguyên, Trương Khiên đi sứ về phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á thuộc Liên Xô ngày nay (gọi gộp là Tây Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh, tất nhiên đưa đến những sự thay đổi về văn hoá. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư băi truất bách gia, độc tôn nho học. Thời đại “trăm nhà đua tiếng” đến đây chấm dứt. Văn học chuyển thẳng sang việc ca ngợi lâu đài, ngựa xe, vườn tược nhà vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú của Tư Mă Tương Như. Bấy giờ trước mắt những con người học rộng tài cao có hai con đường. Con đường thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghiệp to lớn, thừa nhận trong hoàn cảnh này chỉ c̣n một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn tháng ở trước cửa Kim mă. Đó là con đường của Đông Phương Sóc, của hầu hết tất cả các học giả đương thời. Lại có một con đường khác “xét trong khoảng trời đất, thấu suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà.” Đó là con đường làm một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh Xuân Thu, Chiến quốc mà ở trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mă Thiên đă chọn con đường ấy, và điều đó cắt nghĩa tại sao con người này sống vơ, lạc lơng, tội nghiệp như vậy.
     Cái ǵ đă khiến ông làm một việc bất cơ như vậy ? Đó là v́ ông thấy ḿnh gắn liền với số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái b́nh, phồn thịnh trước mắt chỉ là tạm thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân, gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiên… Cái cảnh phồn vinh tan đi như một giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại xuất hiện ra sức chém giết, hàng chục vạn người bị tù đày, trong ngoài điêu đứng tan hoang, làm cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đă mất. Ông không thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc t́m cách sống an thân hay một thứ nhà văn như Tư Mă Tương Như lúc chết c̣n khuyên nhà vua làm lễ phong thiện. Chính cái thời Vũ Đế đă làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự được làm con người Trung quốc. Nó đưa đến cho ông cái ư thức về sự đại, bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông yêu quư. Nhưng càng yêu quư tổ quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức tranh ông vẽ đương thời không phải là một bức tranh khoa trương tráng lệ như một bài phú của Trương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư tưởng đă đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một cống hiến về tư tưởng. Có thể nói, Tư Mă Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết về lịch sử của một nước. Trước đấy, ở Trung quốc chỉ có những người viết lịch sử một công quốc hay kể lại một vài biến cố quan trọng như Xuân Thu Thượng Thư. Những bộ sử như Lịch Sử của Hêrôđôt (481-425). Lịch sử chiến tranh ở Pelpôônne của Thuxiđit (460-396) trong văn học Hy Lạp hay Chiến Tranh ở Gôlơ của Xêđa trong văn học La Mă, chẳng qua chỉ kể lại một trận đánh hay một chiến dịch.
     Quyển Lịch sử La Mă của Titut Livut (69- 17) sau Sử kư viết toàn bộ lịch sử một đô thị, nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử kư th́ khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân tộc Trung hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa bàn mênh mông. Chính v́ có ư thức rất rơ về tính chất thống nhất và tiếp tục của lịch sử, nên tác giả mới có hai phần khác nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói những điểm chủ yếu trong lịch sử từng công quốc. Không những thế, ông cũng là người đầu tiên nói về những dân tộc mà người ta gọi là “mọi rợ” và ở đây tuyệt nhiên không có thái độ khinh miệt.
     Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt của xă hội. Ông chú ư đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại. Những thiên Hà Cừ Thư, B́nh Chuẩn Thư, viết với nhăn lực của một nhà kinh tế học. Ông t́m thấy sự liên quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị. Ông đặc biệt chú trọng đến những thiết chế về văn hoá như lễ, nhạc, văn học. Ông đă làm cái công việc phi thường là xét tất cả các học thuyết của bách gia, tŕnh bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư tưởng sử. Ông là người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông về Khuất Nguyên là quyết định. Quả thật ông đă làm được cái hoài băo to lớn nhất của một con người. Ông đă tổng kết văn hoá Trung quốc lần thứ hai sau Khổng Tử và xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược “công lao của Tư Mă Thiên so với Khổng Tử không hơn không kém”.
     Phương pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ư. Tư Mă Thiên nói, “tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu.”. Câu nói này thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất cả những tài liệu ông đă dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng Thư, những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu, Quốc Ngữ, Tả Truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế, theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay tác giả chép lại. Và ông đă để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế, biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận rất dài, tất cả chiếm một phần ba tác phẩm; trong số đó phần lớn c̣n sống đến ngày nay v́ nó gắn liền với số phận của Sử Kư. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm v́ tài liệu lúc bấy giờ số lớn là tài liệu truyền miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm viết sử này khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mă. Các nhà viết sử cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công tŕnh nghệ thuật. Những nhân vật của họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại với tính cách những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính v́ vậy sử học hiện đại không xem đó là những công tŕnh khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính cho sự nghiên cứu La Mă, Hy Lạp cổ. Trái lại, Sử Kư từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn nhất của cổ sử Trung hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của Trung quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu nói, “một trăm đời sau, các sử quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách của ông”, chính là v́ vậy.
     Tư Mă Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người cha khó bắt chước nhất. Đối với sử học Trung quốc, ông là người duy nhất nói về đương thời. Các sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy đă chấm dứt. Họ sợ hiện tại và lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mă Thiên đă dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần, ông chép càng rơ. Ông để lại những trang vô cùng sinh động về Cấp Ám, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể ǵ Vũ Đế. Ông kết tội Lữ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau thương về xă hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong thiện thư), phung phí tài sản nhân dân (B́nh Chuẩn Thư), ngoại thích lộng hành (Nguỵ Kỳ Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối (Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và chính ở đây, người ta mới hiểu hết cái tâm sự của ông, ḷng yêu nước, yêu nhân dân cũng như sự trung thực của một nhà khoa học.
     Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói quyển Sử Kư viết cho “những người của nó”. Người của nó đây không phải là một vị ân chủ, một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ư thức rơ về việc đó, cho nên hai ngàn năm sau đọc Sử Kư, ta thấy nó sinh động, mănh liệt vô cùng, đồng thời tràn ngập cái hào khí của chính nghĩa. Nh́n vào quyển sách của ông, ta thấy hiện lên rơ rệt sự bất b́nh đẳng trong xă hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai, sự giàu có phè phỡn cua bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bức tranh hiện thực về xă hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng những danh từ trống rỗng. Cố Viêm Vơ nói rất đúng, “Người xưa làm sử không cần bàn luận, nhận xét , mà cái ư của tác giả thấy ngay trong việc tŕnh bày th́ chỉ có một ḿnh Thái sử công làm được mà thôi”. Cái khó ở đây không ở phương pháp mà ở con tim. Cũng v́ Tư Mă Thiên không viết tác phẩm theo những khuôn khổ có sẵn về đạo đức phong kiến, nên những nhận xét của ông về lịch sử rất là trác việt.
     Ông luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật lịch sử. Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rơ sự gắn bó của nhân vật với số phận của dân chúng. Ông thấy rơ Trần Thiệp “tài năng ở dưới mức trung b́nh”, nhưng đă làm được một việc oanh liệt, chỉ v́ được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích của ông về sự thành công của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ư nghĩa to lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường “tài năng và chí khí hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như thế”. Về tư cách cá nhân mà nói, th́ Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên tướng bách chiến bách thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng đầu gối, không ai dám ngẩng lên nh́n”. Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái”, ngạo mạn, vô lễ, “thấy khách đội mũ nhà nho, Bái Công liền giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được thiên hạ. Đó là v́ Lưu Bang biết tự kiềm chế ḿnh, lắng nghe theo ḷng dân, luôn luôn chú ư đến dân chúng cho nên dân chúng tin. Đúng như Hàn Tín nói, Hạng Vũ chỉ có cái nhân của người đàn bà, cái dũng của một kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào tài năng của cá nhân ḿnh, nghi ngờ tất cả; đă thế lại hiếu sát làm cho nhân dân thất vọng. Lưu Bang đă thắng v́ biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng. Cách nh́n nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những tác phẩm của Makiaven, ở đây, Tư Mă Thiên có thể sánh với những sử gia lớn nhất của thời cổ đại.
    
    
IV. NGHỆ THUẬT
    
Tư Mă Thiên đă để lại hàng ngàn nhân vật điển h́nh, sống măi trong văn học. Riêng về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại. Cả một nhân loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp, đủ các tầng lớp. H́nh ảnh những chàng nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những người du thuyết như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh Kha, Nhiếp Chính, những anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm Ly, những triết gia như Khổng Khâu, Trang Chu, nhưng danh tướng như Hàn Tín, Lư Quảng, những công tử như Tín Lăng Quân, Mạnh Thường Quân, những bạo chúa như Tần Thuỷ Hoàng, Nhị Thế…v…v… và vô số những h́nh ảnh khác là những h́nh ảnh bất tử. Những h́nh ảnh ấy đă du nhập vào kho tàng văn học, làm thành nhân vật của những truyện kỳ, thoại bản, hỷ khúc, kịch, thơ, lời nói và hành động của họ nhờ Tư Mă Thiên nêu lên đă thành tài sản của dân tộc. Đó là một điều lạ. Nhưng điều lạ hơn là đời sau có thể tô điểm thêm bớt nhưng dường như khó ḷng dùng năng lực hư cấu của ḿnh để tạo nên một Kinh Kha, một Hàn Tín, hay một Hạng Vũ khác hẳn h́nh tượng Tư Mă Thiên đă tạo nên mà cũng sinh động như vậy. Có thể nói những h́nh tượng Tư Mă Thiên tạo ra đă được nhân dân tiếp nhận toàn vẹn. Điều đó không phải là một hiện tượng thường thấy trong lịch sử văn học. Nếu ta xét những nhân vật lịch sử Âu châu th́ ta thấy rơ họ được biểu hiện trong văn học một cách rất khác nhau ở từng nhà văn. Hiện tượng Catilina của sử gia La Mă Xanlut rất khác h́nh tượng Catilina của Ben Jonxôn. H̀nh tượng Catilina của Ipxen lại càng khác hẳn. Tư Mă Thiên làm thế nào cho nhân vật của ḿnh sống mănh liệt đến nỗi họ tồn tại khách quan ở ngoài nhà văn, và dân chúng khó ḷng chấp nhận sự thay đổi ?
     Khi miêu tả một nhân vật lịch sử, các sử gia thường chỉ nhận xét họ trong những giờ phút họ đóng một vai tṛ lịch sử, họ chỉ xét nhân vật trong “tư thế lịch sử” của nó. Nhưng làm như thế, tức là cắt xén nhân vật, biểu hiện nó một cách phiến diện và thậm chí có khi xuyên tạc v́ trong những lúc cá nhân có ư thức về vai tṛ lịch sử cảu ḿnh, họ thường đóng kịch. Tư Mă Thiên không làm như vậy. Ông chỉ nắm Hàn Tín khi làm thượng tướng quân của Lưu Bang, mà c̣n nắm Hàn Tín ngay từ khi ăn nhờ, chui qua háng người ta ở ngoài chợ. Nhờ sống trong nhân dân và đến tận nơi điều tra, nên ông thấy Trần B́nh từ khi chia thịt, thấy Phàn Khoái từ khi bán thịt chó. Ông chú ư đến Trương Nghi từ khi anh chàng bị đánh gần chết, găy hết cả răng, chú ư đến Lưu Bang từ khi ăn quỵt tiền rượu. Tư Mă Thiên theo dơi một nhân vật và cốt t́m cho được cái bản chất của nó. Chính v́ thế ông không ao giờ bỏ qua những cảnh thiếu thốn, nhục nhă mà nhân vật đă trải qua, v́ ông biết bản chất con người thường lộ ra ở những lúc ấy. Đối với ông, nhân vật lịch sử vĩ đại đến đâu trước hết cũng chỉ là một người b́nh thường. Khổng Khâu trước khi được tôn sùng như một vị thánh cũng chỉ là một người mong muốn được làm quan, phiêu bạt đi t́m công danh, mấy lần suưt theo những kẻ mà ông gọi là loạn thần, tặc tử. Trong khi theo dơi nhân vật, ông không chạy theo sự kiện mà cốt t́m được cái quyết định tính cách của con người. Ông thấy tính cách con người do nhiều yếu tố quyết định. Có khi nó là một thiên hướng từ nhỏ. Nhân vật Trương Thang điển h́nh cho bọn quan lại tàn ác, lúc nhỏ giữ nhà để chuột ăn mất thịt, bị cha đánh đ̣n. Thang bắt được chuột làm một bản án kết tội chuột. “Người cha xem thấy lời văn quả là một tay quan lại coi ngục sành sỏi, cả kinh.”. Có khi nó là kết quả của nghề nghiệp, giáo dục. Lữ Bất Vi, một thương nhân giàu thấy Tử Tương, con vua Tần làm con tin ở Triệu, th́ nói, “món hàng này có thể bán được đây”. Y xuất tiền bạc quảng cáo cho hàng và cuối cùng được lăi to, làm tể tướng nước Tần. Ông thấy cái điều làm một vĩ nhân khác con người tầm thường là ở chỗ họ có một hoài băo lớn ngay trong những cảnh ngộ cùng khốn nhất. Ông lắng nghe chàng cố nông Trần Thiệp đang cày, bỗng dừng lại nói với các bạn cày, “sau này phú quư chớ quên nhau”. Ông chú ư đến cậu bé Hạng Vũ học kiếm chẳng thành, nhưng đ̣i “học cái đánh lại vạn người”. Một khi t́m được tính cách của nhân vật, ông cố gắng t́m những câu nói điển h́nh và những hành động điển h́nh, để làm cho h́nh tượng càng nổi bật. Nói đến Hàn Tín là người ta nhớ đến câu, “nhà vua không muốn lấy thiên hạ sao, tại sao lại chém tráng sĩ?”. Nói đến Lư Tư, không ai quên được câu, “người ta ở đời hiền hay bất hiếu cũng như con chuột, chẳng qua do hoàn cảnh cả”. Những câu như vậy có hàng ngàn. Có nhiều nhân vật chỉ xuất hiện trong một vài câu, nhưng họ được điển h́nh hoá ngay v́ tác giả đă nắm được câu nói điển h́nh cua họ. Chẳng hạn những nhân vật như Cáp Nhiếp, Phàn Ư Kỳ, trong Thích khách liệt truyện, nói không quá hai câu, nhưng đủ làm người ta thấy rơ cái phong thái trọng nghĩa khinh tài và ḷng căm thù chồng chất của họ đối với nhà Tần. Những câu nói điển h́nh và những hành động điển h́nh thường không phải là những câu nói và hành động ǵ có tầm quan trọng lịch sử. Tônxtôi trong bài nhận xét về Chiến tranh và hoà b́nh, nói nhà viết tiểu thuyết lịch sử miêu tả nhân vật lịch sử khi họ mang áo ngủ. Tư Mă Thiên c̣n đi xa hơn. Để miêu tả thái độ ngạo mạn của Vũ Đế, chỉ cần một chi tiết, “nhà vua có khi ngồi xổm ở bên giường để tiếp đại tướng quân Vệ Thanh.” Để miêu tả sự suồng să của Lưu Bang chỉ cần một chi tiết nhỏ, “Chu Xương có lần vào tâu thấy Cao Tổ đang ngồi ôm con gái. Xương chạy ra. Cao Tổ đuổi theo cưỡi lên cổ hỏi, “ta là vị vua như thế nào? Xương ngẩng đầu lên đáp, “Bệ hạ là ông vua Kiệt, Trụ. Nhà vua liền cười ha hả”. (Trương thừa tướng truyện). Một chi tiết như vậy cũng đủ làm cho ngàn năm sau không ai có thể bênh vực cho Vũ Đế và Cao Tổ về việc quư trọng kẻ sĩ.
     Một khi đă nêu lên tính cách chủ đạo của nhân vật, tác giả không bao giờ dừng lại để bàn bạc, trái lại ông tŕnh bày dồn dập những sự việc điển h́nh tự bản thân nó có đủ sức thuyết phục hùng hồn hơn mọi lư luận. Đó là then chốt của phương pháp tự sự của ông mà đời sau không ai bắt chước được. Bản kỷ Hạng Vũ chẳng hạ, viết với lối văn khô khan của biên niên sử. Ở đây, chỉ có sự kiện và năm tháng, nhưng v́ biết rút từ sự kiện ra cái làm thành cá tính của Hạng Vũ và thời đại Hạng Vũ cho nên chính cái lối tŕnh bày đơn giản khách quan này lại lôi cuốn người đọc hơn mọi thứ từ chương.
     Văn của Tư Mă Thiên là lối văn giản dị, chắc nịch của thời Tây Hán. Cách tự sự của ông có được cái tính chất rắn chắc, khúc chiết của đương thời, nhưng c̣n có một điều đặc sắc hơn là rất sinh động và đa dạng. Những con người của Tư Mă Thiên đồng thời biểu hiện những đặc sắc chung của thời đại họ, nhưng lại giữ được những nét nổi bật làm thành bản sắc của họ.
     Muốn làm nổi bật cái cá tính của nhân vật cũng như màu sắc chung của thời đại, không bao giờ tác giả xét nhân vật một cách cô lập, mà đặt nó trong sự đối lập với các nhân vật khác. Đọc Lư Tư người ta nhất định phải thấy Triệu Cao, đọc B́nh Nguyên Quân th́ thấy ngay Tín Lăng Quân, bên cạnh Lưu Bang luôn luôn có mặt Hạng Vũ. Để làm nổi bật sự đối lập, tác giả rất chú ư đến sự đánh giá về nhân vật của người đương thời. Mỗi nhân vật như vậy ít nhất cũng được vài ba người đánh giá. Để đánh giá Lưu Bang, tác giả nhắc lại những lời đáng giá của Tiêu Hà, Phạm Tăng, Lịch Sinh, Trương Lương, Trần B́nh, Hàn Tín, v..v… Để đánh giá Tín Lăng Quân, tác giả không quên những nhận xét của Hầu Sinh, Mao Công, Tiết Công, B́nh Nguyên Quân, v..v… Tác giả nhiều khi gộp họ vào một chương để càng làm nổi bật chủ ư của ḿnh. Đó là những lúc đối lập rơ rệt. Nhưng có những lúc đối lập kín đáo hơn th́ thật là thú vị. Chẳng hạn không phải ngẫu nhiên mà tất cả những quan lại tốt trong Tuần lai liệt truyện đều là người trước đời Tần. Trái lại tất cả những người trong Khốc lại liệt truyện đều là những nhân vật thời Hán. Cũng vậy, ai cũng phải thừa nhận h́nh tượng về Vũ Đế, sao mà giống Tần Thuỷ Hoàng làm vậy, cũng huênh hoang, tự đắc, thích chiến tranh, thích thần tiên, thích xây dựng, thích xu nịnh.
     Chính cái phương pháp tự sự bậc thầy, công phu và chu đáo vô cùng đă làm cho nhân vật sống một cách trọn vẹn, và cũng do đó, đời sau không thể nào thay đổi được. Sự thực vốn hùng hồn hơn lời nói, và khi các sự thực đă xếp thành hệ thống nguy nga th́ tự nó sẽ nói lên tiếng nói của chân lư.
     Phải chăng v́ thế mà tác giả vắng mặt ? Không, tác giả luôn luôn có mặt. H́nh ảnh của Tư Mă Thiên rất rơ ở từng trang, tâm sự của ông hiện lên như một tiếng đàn tuy rất khẽ nhưng rất rền trong bản hợp tấu vĩ đại. Chúng ta biết bản thân sự đối lập là biểu hiệu một thái độ. Ngoài ra tác giả c̣n sử dụng rất thạo phương pháp viết sử của Kinh Xuân Thu. Mục đích của nó là tŕnh bày sự thực khách quan, nhưng bằng cách đối lập với các việc khác hay thêm bớt một chữ mà tỏ thái độ của ḿnh. Chẳng hạn trong Hoài Âm Hầu liệt truyện để nói rằng, Hàn Tín chết vô tội chứ không phải làm phản, ông gọi Tín là “Hoài Âm Hầu”, chứ không gọi Hàn Tín như gọi Kinh Bố trong Kinh Bố liệt truyện. Ông kể tỉ mỉ ba lần người ta thuyết phục Tín làm phản, mà Tín không nghe, nhắc đến năm lần cái câu Hán Vương sợ Hàn Tín. Đến lúc Tín chết, th́ hối hận không biết trước thái độ lật lọng của Lưu Bang, trái lại Lưu Bang nghe tin vừa giận vừa mừng, v..v… Lối bút pháp ấy rất là nghiêm và rất rơ ràng đối với những người quen đọc Xuân Thu. Ngoài ra mỗi khi hết chương, tác giả thường đưa ra những nhận xét của ḿnh, để kư thác tâm sự hay đính chính lại những cách nh́n sai lầm của tập tục.
     Sử kư là một tác phẩm khó nhưng rất hay. Nó làm cho người đọc say mê và giáo dục họ rất nhiều. Nhưng v́ nội dụng phong phú, cách diễn đạt kín đáo nên phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấy hết cái hay của nó. Chúng tôi cố gắng dịch những chương tiêu biểu, chương nào dịch th́ dịch trọn vẹn, chỉ lược bớt những đoạn ít quan trọng đối với văn học. V́ cách hành văn theo lối Xuân Thu rất xa lạ đối với chúng ta, nên chúng tôi cố gắng chú thích , phân đoạn, tóm tắt để làm sao cho người đọc làm quen với tác phẩm một cách dễ dàng. Tuy vậy, chúng tôi cũng biết không thể nào giới thiệu hết cái hay của tác phẩm. Một ngày gần đây, khi Tư Mă Thiên đă quen thuộc với bạn đọc hơn, chắc Sử Kư sẽ được dịch toàn bộ.
     Trong việc dịch, chúng tôi đă được cụ Phan Vơ xem lại và cụ Phan Duy Tiếp giúp đỡ. Chúng tôi biết rằng v́ tŕnh độ dịch giả hạn chế, bản dịch thế nào cũng có nhiều thiếu sót. Nhưng chúng tôi tin rằng dù bản dịch có nhiều thiếu sót, các bạn sẽ thấy ở đây một tác phẩm vĩ đại và một con người lỗi lạc. Chắc chắn bạn đọc Việt Nam sẽ thấy Sử Kư là quyển sách của ḿnh và dành cho Tư Mă Thiên một mối t́nh nồng hậu như các bạn đă có đối với Khuất Nguyên và Đỗ Phủ. Suốt đời Tư Mă Thiên không muốn ǵ hơn là có những người hiểu ḿnh. Chúng tôi tin chắc rằng sau hai ngàn năm con người vĩ đại ấy sẽ được yêu hơn bao giờ hết, v́ bạn đọc của ông là những con người của một thời đại huy hoàng và vô cùng vĩ đại.
    
Nhữ Thành

Trang   [1]   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20  
21   22   23   24   25  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved