www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Nói Về Miền Nam

Sơn Nam

     ÔNG HOÀNG HIỆP VÀ TRẬN GIẶC NĂM 1673

     Vào hậu bán thế kỷ XVII, ở lănh thổ Việt Nam xảy ra những trận giặc chót của cuộc Trịnh– Nguyễn phân tranh.
     Năm 1648, Trịnh đánh vào Nam Bố Chính và cửa Nhựt Lệ, bị thua to v́ tướng Đàng Trong là Trương Phúc Phấn giữ vững lũy Trường Dục.
     Năm 1655, quân Trịnh lại khuấy rối vùng Nam Bố Chính. Tướng Nguyễn Hữu Dật bày kế với Hiền Vương, xin đánh bất th́nh ĺnh vào địa phận chúa Trịnh, Hiền Vương đồng ư. Cùng với Nguyễn hữu Tấn, Nguyễn hữu Dật đánh đâu thắng đấy, chiếm được bảy huyện ở tận Nghệ an. Các quan lại địa phương lần lượt đầu hàng, dân chúng tiếp đón nhưng họ đâm ra thất vọng – thuế điền, nhứt là thuế thân (sai dư tiền) đánh quá cao, mặc dầu đó là thuế biểu áp dụng thường lệ ở Đàng Trong, Nguyễn Hữu Dật phủ dụ dân chúng rằng biện pháp ấy chỉ tạm thời – nhưng không mấy ai tin tưởng lời hứa hẹn đó.
     Quá hăng hái, Dật muốn tiếp tục tấn công nhưng Hiền Vương dạy Dật nên cẩn thận, mọi việc binh nhung phải bàn bạc trước với Nguyễn Hữu Tấn.
     Để giải quyết t́nh trạng “mắc sa lầy” ở xứ lạ quê người, Dật phát triển tâm lư chiến loan tin làm hoang mang đối phương, bí mật giao thiệp với Trịnh Tạc. Mặc dầu đă cho Hiền vương biết trứơc nhưng việc tư thông của Dật gây thêm nhiều thắc mắc với Nguyễn Hữu Tấn – có lẽ Nguyễn Hữu Tấn ganh công. V́ tiểu tâm, Nguyễn hữu Tấn rút th́nh ĺnh tất cả quân số về Nam, cố ư bỏ Nguyễn hữu Dật ở lại một ḿnh. Chừng hay được, Dật vẫn trầm tĩnh, ra lịnh cho 30 vệ sĩ – số vỏn vẹn ở bên cạnh Dật – phất cờ gióng trống trong lúc rút lui, khiến quân Trịnh không dám truy kích theo.
     Thế là chiến thắng đă hóa ra chiến bại.
     Cuối năm 1661, đầu 1662, Trịnh Căn và Lê Thời Hiến đánh th́nh ĺnh vào tận lũy Đồng Hới. bị thất thế, Dật rút vào lũy để thủ ḥa...
     Bấy giờ, Hiền vương hiểu thực lực của ḿnh hơn bao giờ hết. Theo lời tâu của Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa quyết định xây thêm hai lũy nhỏ: Trấn Ninh và Sa Phụ để kiện toàn hệ thống sẳn có.
     Khoảng thời gian hưu chiến 10 năm (1662-1672) giúp Hiền vương chỉnh đốn thuế khóa, tích trữ lương thảo, Nông Lại tư đặt ra kế họach do kư lục Vơ Phi Thừa sọan thảo, nhằm mục đích đo diện tích các ruộng đất đang khẩn hoang và đă khai khẩn; thuế đánh khá nặng: một mẫu (chừng 1/3 hectare) ruộng hai mùa phải đóng 40 thắng lúa (1thăng –non 3 lít) và 8 hạp gạo trắng.
    Năm 1667, Trịnh Tạc đuổi Mạc Kính Vũ; Vũ chạy trốn qua Tàu, mầm nội lọan gần như dứt hẳn.
     Tháng 6 dương lịch 1672, Trịnh Tạc kéo binh vào Nam, quyết tiêu diệt chúa Nguyễn. việc bố trí rất khéo léo, chu đáo.
     Trịnh Căn làm nguyên soái, cai quản thủy quân.
     Lê Thời Hiến (đă từng được tín nhiệm hồi chiến cuộc Nghệ An) thống xuất bộ binh.
     Mỉa mai nhứt là hoàng đế Lê Gia Tông, 12 tuổi, cũng được chúa Trịnh đem đi “ngự giá thân chinh”.
     Tất cả quân lực chừng 100.000 người nhưng loan tin là 400.000!
     Khi nghe viên Trân thủ Nam Bố Chính cấp báo, Hiền vương bảo với các quan: “Trịnh Tạc đă suy thời nên vào đâyđánh một trận chót. Kinh nghiệm xưa nay th́ kẻ liều mạng như Tạc bao giờ cũng thảm bại”.
Hiền Vương bàn qua việc lựa chọn vị nguyên sóai của đàng Trong. Các quan đồng ư giao trách nhiệm ấy cho hoàng tử Tôn Thất Hiệp, con trai của Hiền Vương. Hiệp c̣n trẻ, chưa được 20 tuổi, đang giữ chức Chưởng cơ,chưa từng ra trận lần nào cả!
     Tại sao có sự lựa chọn đó? Phải chăng dụng ư của Hiền Vương là cận thần là đối phó với chúa Trịnh về uy tín chính trị, biểu dương sự trưởng thành của Đàng Trong trên mọi địa hạt.
     Đàng Ngoài, Trịnh Căn (40 tuổi con của Chúa) làm nguyên sóai th́ ở Đàng Trong, Tôn Thất Hiệp (non 20 tuổi– con của chúa) đâu kém năng lực!
     Trịnh Tạc (67 tuổi) đi theo ủng hộ con; Hiền Vương (55 tuổi) cũng có mặt. Nói chung, ta thấy Đàng Trong rất trẻ trung, thiếu một hoàng để tượng trưng. Nhưng quân sĩ đôi bên dư hiểu rằng các chúa Trịnh đă nhiều lần bạc đăi, xử giảo các hoàng đế họ Lê. Và phen nầy Lê Gia Tông ra trận với số phận một tù binh của chúa Trịnh, không hơn không kém.
     Bộ tham mưu của nguyên sóai Hiệp gồm vệ úy Mai Phúc Lănh và kư lục Vơ Phi Thừa.
     Quân Đàng Trong kéo ra Quảng B́nh. Chưởng cơ Trương Phúc Cang (con Trương Phúc Phấn) đi tả tiên phuông, giữ lũy Trấn Ninh, đó những đ̣n tấn công mănh
liệt của địch. Lăo tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ được giữ lũy Sa Phụ (hữu ngạn sông Nhựt Lệ), ở mặt trận thứ yếu. Hữu Dật bị đặt vào địa vị ấy, phải chẳng do sự cố ư của Hiền Vương, hoặc v́ lư do chiến thuật.
     Vào khỏang tháng 9-10 dương lịch 1672, Trịnh Căn và quân sĩ đến Nam Bố Chính.
     Lạ thay! Các tướng của Trịnh và Nguyễn nh́n nhau, ḍ xét, hăm dọa nhau hơn ba tháng trường rồi mới chịu đánh thật sự bằng gươm dáo và đại bác.
     Mở đầu, Trịnh Căn dùng tâm lư chiến, kêu gọi Đàng Trong, tố cáo việc các chúa Nguyễn không phục tùng nhà Lê, xây thành đắp lũy, bày sưu cao thuế nặng...đồng thời, Trịnh Căn thử tấn công vào lũy Đồng Hới, chọn nơi kém pḥng thủ nhứt của đối phương để xây một chiến lũy khác đối diện, rồi đưa 1.000 chiến thuyền (?) đến vàn sông Gianh và vàn sông Nhựt Lệ, chờ đổ bộ.
     Biết t́nh thế nguy ngập, Tôn Thất Hiệp khiến tham tướng Lễ đắp nên lũy Trấn Ninh, bố trí thêm súng thần công – mặt khác, cấp báo với Hiền Vương.
     Hiền Vương dọ ư kiến. cai cơ Tổng Đức Minh tâu: Quân Trịnh đi đường xa, sẽ gặp khó khăn về lương thảo. Ta nên cố thủ tại lũy, tŕ hơan thời giờ, chờ khi chúng ṃn mỏi rồi hăy đánh.
     Trần Đinh Ân đưa kế họach: Thực lực của quân Trịnh dưới 100.000 người, không quá hùng mạnh như chúng loan tin. Ta cứ đồn rằng quân ta đông đảo, 160.000 người, hiện đang mộ thêm 100.000 nữa, tất cả do hoàng tử HIệp chỉ huy, ắt địch quân phải xao xuyến, hoang mang.
     Hiền Vương đồng ư, tuyển mộ thêm quân rồi tức khắc hạ lệnh chỉnh đốn các trạm địch, tăng cường sự pḥng thủ miền duyên hải, từ Đồng Hới đến Huế.
     Sứ giả của Trịnh Căn đến trước lũy Trấn Ninh. Hoàng tử Hiệp sai Cai cơ Tú Minh ra tiếp kiến. Cuộc đấu khẩu diễn ra sôi nổi. luận điệu cho rằng các chúa chống lại nhà Lê đă bị Tú Minh bác bỏ: Các Chúa Nguyễn rất trung thành với nhà Lê v́ vậy cương quyết diệt họ Trịnh, kẻ lấn quyền, áp chế nhà Lê.
     Dứt cuộc đàm phán ngắn ngủi ấy, Nguyễn Hữu Dật bàn với hoàng tử HIệp:
     - Tên sứ giả nọ trở về báo cáo thái độ cứng rắn của ta cho Trịnh Căn biết, Trịnh Căn tức giận sẽ tấn công lập tức. Quân sĩ ta phải sẵn sàng ứng phó từ giờ phút này.
     Tháng 1 dương lịch 1673, phó tướng của quân Trịnh là Lê Thời Hiến xua quân, hạ trại đối diện lũy Trấn Ninh. Đợt tấn công đầu tiên của Hiến bị tan vỡ nhanh chóng. Trịnh Tạc nổi xung, nghiêm phạt các quân bại trận.
     Với lực lượng cũ, tăng cường thêm 3.000 quân, Lê Thời Hiến hùng hổ mở cuộc tấn công thứ hai. Đông như kiến cỏ, quân Trịnh liều chết xung phong mănh liệt, dùng chất “bộc phá” đặt vào lũy Trấn Ninh, đốt cháy dẫn hỏa treo vào diều giấy thả qua tận chót lũy, đào hầm ẩn núp dưới cơn mưa đạn do quân sĩ Đàng Trong từ trên lũy nă trả xuống như mưa.
     Chỉ trong ṿng một ngày chiến đấu, lũy Trấn Ninh bị phá nhiều chỗ, bị chiếm, giải vây được rồi bị tái chiếm đến ba bốn lượt.
     Hoảng sợ, Trương Phúc Cang toan bỏ lũy, qua thủ bên này sông Lê Kỳ nhưng hoàng tử Hiệp không đồng ư, e tổn hại cho sĩ khí ba quân. Bấy giờ, hoàng tử Hiệp nghĩ đến các giải quyết chót: Sai quân phi ngựa đến lũy Sa Kỳ, truyền cho lăo tướng Nguyễn Hữu Dật phải tức tốc qua lũy Trấn Ninh để cứu khổn.
     Nhận lịnh ấy, Nguyễn Hữu Dật lạnh lùng trả lời: “Ta chỉ lo ǵn giữ lũy Sa Phụ nầy mà thôi. Ngay từ hồi đầu chiến trận, ta không được ai chia sớt trách nhiệm nào ở lũy Trấn Ninh cả. Ta không dám đi!” Lúc vận mạng đàng Trong như chỉ mành treo chuông, tại sao Nguyễn Hữu Dật bất tùng quân lịnh? Chúng ta nên hiểu tâm trạng của Nguyễn Hữu Dật lúc ấy, tuổi quá cao, 69 tuổi. Phải chăng Nguyễn Hữu Dật bất măn khi thấy ḿnh bị bố trí ở cánh quân không quan trọng? Hiền Vương không c̣n tín nhiệm đầy đủ nơi Dật? Hai mươi bốn năm về trước, khi c̣n là Cai cơ, lănh chức kư lục ở dinh Bố Chánh, Dật đă một phen bị t́nh nghị “thông đồng với Chúa Trịnh” nhơn đó bị giam. Sau Hiền Vương tha tội, đuổi Dật về làm văn chức ở chánh đinh để tiếp tục theo dơi hành động tư tưởng. Hồi ấy, kẻ ám hại Dật chính là Tôn Thất Tráng, cha vợ của Tôn Thất Hiệp bây giờ. Rồi đến chiến sự Nghệ An c̣n nóng hổi! Dật cũng bị Tôn Thất Tráng, nhứt là Nguyễn Hữu Tấn xuyên tạc sự thật, dèm pha với Hiền Vương về tội “thông đồng với địch”. Tuy biết sự thật đen trắng ra sao nhưng Hiền Vương không hề khiển trách những kẻ đă vu khống Nguyễn Hữu Dật. Rất may là Tấn Đă chết, nếu không, chưa chắc phen nầy Hiền Vương c̣n thu dụng Dật ở nhiệm vụ không quan trọng là giữ lũy Sa Phụ! “Nhứt chiến tài t́nh thiên cổ lụy”. Sách lược liên lạc với địch để t́m hiểu rồi ly gián địch: đă được Dật áp dụng đem nhiều kết quả có lợi cho sự nghiệp Đàng Trong nhưng mấy ai chịu hiểu giùm. Dầu muốn hay không, Dật thấy sự nghiệp tinh thần của ḿnh bị sụp đổ, sau 50 năm pḥ chúa, bằng xương bằng máu (từ hồi Săi Vương c̣n sống).
     Nhưng phút giây bất măn ấy chỉ thoáng qua.
     Dật hối hận ngay, chạy nhanh lên lũy Sa Phụ,đứng quan sát thực tế của chiến trận. Bên kia sông, súng thần công nổ vang rền, khói bốc mịt trời che lấp lũy Trấn ninh. Chắc chắn Lê thời Hiến chiếm ưu thắng và tướng sĩ Đàng Trong đang đại bại ở ngay mặt trận chánh.
     Dật dư hiểu: Nếu ḿnh không đi cứu viện th́ hoàng tử Tôn Thất Hiệp phải đi cứu viện– và giờ nầy đang đi. Liệu vị nguyên sóai quá trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm ấy đủ sức ứng phó? Dật tức tốc lên yên, kéo quân đến Trấn Ninh, dọc đường, Dật cẩn thận vạt vỏ viết vào thân cây mấy chữ tóm tắt: “Hữu Dật đă qua cứu viện lũy Trấn Ninh, xin hoàng tử đến giữ lũy Sa Phụ đang bỏ trống”.
     Đọc tin ấy, hoàng tử Hiệp qua Lũy Sa Phụ.
     Để chận nẻo qua sông của quân cứu viện, Trịnh Căn khiến Tham đốc Thắng đưa 30 chiến thuyền vào tuần tiểu sông Nhựt Lệ nhưng bị hoàng tử Hiệp bố trí đánh tan.
     Trời tối như mực, ngửa bàn tay không thấy, khi Nguyễn Hữu Dật đến Trấn Ninh; binh sĩ lớp chết, lớp bị thương, số c̣n lại; chiến đấu gần như tuyệt vong. Dật ra lịnh gom nhánh cây, cỏ khô, đốt lên sáng rực. Biết có viện binh đến, quân Trịnh hỏang hốt, không dám tiến. Suốt đêm, Dật đốc suất quân sĩ tích cực sửa chữa khỏang lũy khá dài bị phá hư (30 trượng: 120mét). Nhưng trời vừa rạng sáng, Lê Thời Hiến lại tấn công. Quân sĩ Đàng Trong vững tinh thần, chống trả mănh liệt. Có lẽ trong giờ phút ấy Nguyễn Hữu Dật đă khích lệ quân sĩ với câu nói: “Kẻ ở trước mặt chúng ta chính là bọn ngọai bang!”
     Ngày ấy, hai bên liều chết, xung phong, bị phản xung phong, rồi liên tiếp nhiều ngày như thế..Quân Đàng Ngoài chết quá nhiều. Quân Đàng Trong chết không kém.
     Hiền Vương sai người đến trận địa để t́m hiểu, Dật đáp: “Xưa kia, quân ta đánh tận địa phận của chúng ở Nghệ an vậy mà chúng sợ ta, huống hồ hôm nay ta đă làm chủ t́nh h́nh tại đất nhà, có thành cao, hố sâu ngăn giữ”. Dật cũng viết thơ với Hiền Vương, thề sẽ đem hết tài sức đền đáp ơn chúa, nếu sơ sót th́ xin chịu tội theo quân luật.
     Gíó bấc thổi mạnh, mưa phùn lê thê, ray rứt, lạnh lẽo hơn bao giờ hết. Tự nhận rằng không thắng nổi Đàng Trong, Trịnh Tạc bắt đầu trở về: Tiết trời bất lợi; sau bảy tháng vắng mặt, ở Thăng Long liệu xảy ra biến cố ǵ trong phủ chúa chăng?
     Tất cả tù binh, thường dân... được Trịnh Tạc cho tiền bạc quần áo, phóng thích tại chỗ;họ muốn đi về đâu th́ cứ đi.
     Sa vào kế nghị binh của hoàng tử Hiệp, Lê thời Hiến không dám nán lại chiến đấu, bèn kéo binh tút lui sau khi hay tin các chiến thuyền của Trịnh Căn đă rời cửa Nhựt Lệ theo... trận gió ngược.
     Chiến trận đă tàn!
     Mùi thuốc súng như c̣n phảng phất. Nhưng khói hương bắt đầu tỏa nghi ngút từ bên trong lũy Trấn Ninh, khói hương của lễ giải oan do hoàng tử Hiệp tổ chức cho oan hồn tử sĩ Đàng Trong.
     Hoàng tử không quên đặt đàn tràng bên kia lũy, bày cuộc lễ tương tự để cầu siêu cho tử sĩ Đàng Ngoài.
     Những người chết được yên ủi phần nào khi thấy con cháu của họ bắt đầu từ đấy hưởng thanh b́nh – măi 100 năm sau, mới chết chóc nữa!
     Theo lịnh của hoàng tử Hiệp, số tù binh ở Đàng Ngoài –và già trẻ bé lớn, nạn nhân thời cuộc–bấy lâu bị giam giữ có thể trở về quê, với tiền bạc, quần áo cấp phát đẩy đủ;không một ai bị giết cả.
     Tháng 4 dương lịch 1673, hoàng tử đến Thạch Xá. Hiền Vương mừng rỡ, khen ngợi, ban thưởng 100 lượng vàng, 1.000 lượng bạc, 50 tấm vóc gấm.
     Hoàng tử Hiệp đáp lời lẽ chân thành:
     “Nhờ uy lực của cha, nhờ công lao của tướng sĩ mới có cuộc vui đại thắng này. Một ḿnh con làm sao thắng nổi?” Hiền Vương khen: “Con hăy nhận v́ con rất xứng đáng”.
     Hoàng tử Hiệp nhận lănh vàng bạc nhưng liền sau đó chọn cho ḿnh một thái độ: Phát nguyện trở thành phật tử - cà tích cực hơn – từ bỏ gia đ́nh, thế phát xuất gia không chút do dự, tuy mới 20 tuổi.
     Sử chép: Khi chỉ huy chiến trận, ông hoàng Hiệp sống khắc khổ, ngồi trong trại, chỉ có hai vệ sĩ túc trực bên cạnh. Lần nọ, một lăo già ở Quảng B́nh tên Bật Nghĩa đến trại với ư định “tiến” cho ông hoàng một thiếu nữ xinh đẹp. Ông hoàng từ chối nhưng không quên cấp cho lăo già 10 quan tiền, hiểu rằng người cha nọ hành động như vậy chỉ v́ quá túng thiếu cơm áo, thời loạn.
     Sự chọn lựa bất ngờ của hoàng tử Hiệp không khó hiểu lắm. Tám tháng ở chiến trận là cả một đời người, là cả thể kỷ thứXVII ở Việt Nam! Hẳn ông hoàng Hiệp thầm đau xót cho đường họan lộ quá đắng cay của lăo tướng Nguyễn Hữu Dật! Giữa cảnh máu xương lầy lội, tiếng đại bác vang rền, mùi diêm sanh nồng nặc, ông hoàng dư hiểu rằng từ bấy lâu các thương gia Ḥa Lan, Bồ Đào Nha cạnh tranh nhau ở Đàng Ngoài, ở Đàng Trong, để mua tơ lụa, quế, trầm hương và bán các nguyên liệu giết người. Họ lấn nhau, dùng mọi thủ đoạn tinh vi nhứt.
     Ông hoàng cũng thấy tận mắt những chiếcđồng hồ kiểu Tây phương và tuy xa gia đ́nh, ông hay tin đứa con trai của ḿnh – Tôn Thất Lễ - sau cơn bệnh nặng mà các ngự y điều trị không nổi, đă rửa tội theo phép Công giáo (1674).
     Sanh, lăo, bịnh, tử.. ông hoàng Hiệp nhận rơ, thấm thía, không kém Thái tử Tất Đạt Đa ngày xưa khi ra bốn cửa hoàng thành.
     Ông “dũng mănh, tinh tấn’, khiêm tốn nhận ḿnh là một chúng sanh trong kiếp sát na. V́ đă từng đau khổ giữa cuộc thế, đă từng đóng vai người anh hùng, ông muốn thành tâm t́m một cơi cực lạc thực tế, sống ẩn dật như nhà hiền triết đủ can đảm, im lặng.
     Ông liễu đạo năm 23 tuổi (1653 – 1675) , ngày rằm tháng 6 năm Ất Măo, an táng ở làng Hiền Sĩ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, có lẽ không lưu lại một bút tích, một bài thơ truyền khẩu nào. Nhưng hậu thế tưởng c̣n nhận được h́nh bóng bất diệt của ông qua nụ cười phảng phất trên môi của các tượng Bồ Tất trong chùa, giữa tiếng kệ kinh.
     Trăm năm sau, anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa (1773), đại phá quân Thanh (1789) làm rạng danh toàn đất Việt.
     (Trong quận 10 Sài G̣n (gần trường đua Phú Thọ, nay là sân vận động), chúng ta có đường Tôn Thất Hiệp, nhưng không biết có mấy ai cư ngụ trên đường biết đến lịch sử của con người tài đức này!)

     DÂN HAI HUYỆN VÀ ÔNG NGUYỄN HỮU CẢNH

     Phàm người Việt yêu nước, ai lại chẳng muốn nói, muốn nghe đến vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc tức là phong cảnh núi sông, với bao nhiêu hào khí.
     Để tượng trưng cho đất nước thân yêu, nhiều người vẽ bản đồ Việt Nam với những lằn nét mơ hồ,sau đỉnh hương trầm cuồn cuộn khói. Hoặc là chùa Một Cột, lăng tẩm Huế rồi đến cổng lăng ngài Tả quân Lê Văn Duyệt.
     Ba kiểu kiến trúc tiêu biểu cho ba miền, cũng khá cụ thể nhưng chưa ổn. Chúng tôi đă xem một bức tranh nho nhỏ, trong đó cái cổng lăng ngài Tả quân được thay thế bằng h́nh ảnh một cô gái đội nón lá, chèo xuồng trên kinh rạch, giữa biển lúa vàng: Đă bắt đầu gợi được niềm vui tươi, phóng khóang rồi đấy! Nhưng cũng chưa thỏa măn. Tại sao cô gái ấy chèo xuồng một ḿnh và cười một ḿnh. Cô ta sẽ già, hóa đá chăng? C̣n thiếu một điều ǵ, khó nói – nhưng có lẽ quan trọng khi muốn t́m một h́nh ảnh tượng trưng cho cá tính miền Nam.
     Có bạn nóng nảy nói nhanh:
     - Tại sao lại khó tính, lẩm cẩm như vậy? Cứ đờn ca vọng cổ, ăn nhậu say sưa, lựa món ngon vật lạ nào lượn ếch rùa rắn là đầy đủ bản sắc miền Nam rồi. Nếu cần bổ túc th́ cứ nói thêm: Người miền Nam hiền lành, không có ǵ sâu sắc, ít lo xa, hơi lười biếng, ưa nói thẳng...
     Nhận xét ấy đúng nhưng vẫn c̣n hời hợt. Nếu chỉ có bao nhiêu nét không sâu đậm ấy th́ liệu ông cha ta có giữ nổi đất và sống nổi đến ngày nay chăng? Trong lịch sử nhân lọai, bao nhiêu dân tộc đă mất tên, trong khi họ ít “lo xa, không ǵ sâu sắc; hơi lười biếng; ưa nói thẳng!”
     Miền Nam là phần đất cay nghiệt,đă từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng bao nền văn hóa. Lịch sử đă cho biết: Xưa kia, tại đồng bằng sông Cửu Long đă mọc lên vương quốc Phù Nam. Vương quốc này phồn thịnh nhờ làm trung gian thương măi giữa vài nước Đông Nam Á: c̣n lưu lại vài đồng tiền vàng La Mă, có thể làm giả thuyết cho sự liên lạc giữa Phương Tây và miền Nam từ thế kỷ thứ III, cách đây 1.600 năm. Ấy thế mà nước Phù Nam lâm vào cảnh tang thương, tang thương cho đến nỗi các nhà khảo cổ giỏi nhứt cũng chẳng tài nào ức đóan: Người Phù Nam thuộc vào dân tộc nào? Tiểu quốc của họ bị diệt vong từ đâu? Và ngay đến cái tên tạm bợ là Phù Nam! Các sử gia chỉ biết tên ấy xuyên qua vài trang sử đời Lương, đời Đường bên Tàu; Ngày nay ta đọc hai chữ nho Phù Nam, và chẳng hiểu các sử gia Tàu có phiên âm lại đúng giọng cái tên của một tiểu quốc bé bỏng, tuy giàu sang nhưng sớm mai một? Căn cứ vào các nền nhà, đồ trang sức t́m được tại vùng đất xưa bên kia Hậu Giang, chúng ta quả quyết: Nước Phù Nam bị tiêu diệt v́ văn hóa của họ chẳng biểu lộ nét ǵ đặc sắc, toàn là góp nhặt văn hóa Ấn Độ, Ba Tư.thế thôi.
     Bao nhiêu thành quách bị chôn vùi dưới lớp phù sa, trởthành một vùng đồng chua hoang dại. Thế mới hay: Phù sa sông Cửu Long và biển Nam Hải có sức mạnh tiêu diệt những nhóm người lưu vong, ăn xổi ở th́, thiếu cá tính. Và những kẻ đến sau đó, tuy đă thôn tính tiểu quốc Phù Nam nhưng vẫn bị sa lầy, trụ h́nh torng nếp sống mộc mạc, kiếm ăn ngày nào hay ngày ấy, tập trung nhà cửa trên vài giồng đất cao ráo, khai thác sơ sài vùng phụ cận. Và ra khỏi xom chừng vài trăm thước là cây cỏ mọc hoang, dày bịt, làm sào huyệt cho cọp, voi. Ở vùng đất phù sa ẩm thấp mà sanh họat của nhóm người ấy thu h́nh lại như một số thôn bản miền sơn cước.
     Phù sa sông Cửu Long, vinh Xiêm La đă chôn vùi nước Phù Nam!
     Phù sa sông Cửu Long, vịnh Xiêm La đă trở thành vùng sơn cước đối với người Miên!
     Người Việt Nam lại xuất hiện, nhận lănh bao thử thách.
     Họ là những người ở B́nh Dịnh, Quảng Nam. Họ chán chê những thửa ruộng kém mầu mỡ nhỏ hẹp, giới hạn bởi dăy Trường Sơn khô cằn và biển Đông đầy giông băo. Trên những thửa ruộng ấy, dường như người Chiêm Thành đă chịu thua thiên nhiên: Họ ít chịu ly hương và điểm quan trọng nhứt là họ quá bảo thủ về văn hóa, chẳng muốn làm kẻ “lai căng” hầu đón gió bốn phương. Người Việt Nam ta thích đi xa và giàu tinh thần dung ḥa. Vùng đồng bằng Đồng Nai và Cửu Long đang chờ đón. Từ đời Hiền Vương cách đây 300 năm, người Việt Nam trong thời Nam Bắc phân tranh đă sẳn sàng đi xa hơn ranh giới của quê cha. Họ theo đường biển, dùng ghe đánh lưới, đến tận mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc.
     Sử sách gọi đó là đám người “lưu dân”, người không căn cứ nhứt định, sống phóng túng, nghĩa là những phần tử bất hảo, dốt nát, thiếu luân lư, bị luật lệ và phong tục lên án. Tóm lại, đám dân tứ chiếng trốn xâu lậu thuế ấy phá hại văn hóa hoặc thuộc vào tŕnh độ văn hóa thấp.
     Gần đây, vài nhà xă hội đă minh xác khả năng kiến tạo và tinh thần đạo đức của những lưu dân từ Âu Châu sang lập quốc tận MễTây Cơ, Ba Tây. Đa số chỉ là nạn nhân, lắm khi là tội nhân bị lên án rất oan ức bởi luật lệ và luân lư phong kiến. thử xem lại vài chi tiết của bộ luật Hồng Đức, đời Lê: giết trâu vô cớ, trai gái ăn ở với nhau theo kiểu tự do kết hôn, chống đối với cường hào ác bá, đều là những tôi có thể bị đày gần (lưu cận chu), đày xa (lưu viễn chu) và đày ra khỏi biến giới tổ quốc (lưu ngọai chu). Ở nước ta, các vùng Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và ngay cả vùng tỉnh Thanh Hóa há chẳng phải do một số đông tội nhân bị lưu h́nh đến khai thác. Thực tế chứng minh rằng thế hệ của họ và các thế hệ về sau đă góp công xây dựng văn hóa bảo vệ được thuần phong mỹ tục.
     Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, một số lưu dân khá đông đến thám hiểm và định cư tại ven biển và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nói chung, người xa ĺa tổ quốc thường ưa thích mua bán – thứ nghề dễ sinh lợi, ít cực nhọc. Nhưng số lưu dân Cửu Long không chọn conđường dễ sống đó. Nhiều người cho người Việt Nam ít có khiểu về thương măi. Rất có lư nhưng cũng vô lư. Lúc bấy giờ , đám lưu dân Việt Nam đủ sức tranh thương với người Miên, nói rơ hơn là họ đủ sức tổ chức thương măi, đầu cơ hàng hóa ở một vùng mà nền thương măi c̣n trong t́nh trạng đổi chác sản phẩm.
     Thái độ của đám lưu dân thật sự rơ rệt: họ lo khai thác đất hoang, đương đầu với bệnh tật, cọp sấu, đùa giỡn với song biển. Họ chọn lực con đường đầy khó khăn, đầy vinh quang mà có người cho rằng dại khờ, hời hợt. Miễn sao cho những kẻ đến sau được thừa hưởng di sản quí báu của họ. Mặc cho kẻ khác phỉ háng, hiểu lầm. Họ chịu cực nhiều nhưng hưởng rất ít. Đó là thái độ bám sát đất nước, tin tưởng nơi khả năng của con người. con người sẽ biến đổi bùn lầy ra cơm, sẽ lập đ́nh chùa trên biển cỏ. Hoàn toàn tinh tưởng vào thiên nhiên, cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên. V́ vậy mà các tay anh hùng hảo hớn thích sống riêng biệt, mỗi người làm chủ một địa bàn riêng, chiếm cứ một con rạch, một cù lao. Trong căn cḥi nhỏ bé, với dụng cụ thô sơ và thuốc men hầu như không có, họ dám thi gan chịu cảnh cô độc của con phượng hoàng trên đỉnh núi, của con cù nằm vùng lâu năm, chờ thời. Lúa gạo, cá tôm nếu dư dă th́ tặng cho bạn bè, để dành, nếu để dành ăn không hết th́ bỏ. Một kiểu người hùng trong tiểu giang sơn. Thà là làm đầu gà hơn là đuôi voi. Nếu cần làm việc th́ sẳn sàng chịu đựng khổ nhọc, sau khi làm việc khó nhọc th́ nên hưởng lạc lập tức, và hưởng lạc đến mức tốc độ.
     Họ không bao giờ là những người Do Thái lang thang. Đất nước qua ph́ nhiêu, phần đất nước ấy không xa ĺa tổ quốc, trái lại, nó nối liền về mặt địa lư.
     Trong những năm Trịnh – Nguyễn phân tranh, dường như chúa Nguyễn bỏ rơi họ. Nhưng một cơ hội mới lại đến, đem may mắn cho đất nước: bọn di thần nhà Minh xin di trú nơi phần đất của chúa Nguyễn. Hiền Vương giải quyết một cách thần t́nh: cho phép họ vào vùng đồng bằng miền Nam mà khai khẩn. Vùng ấy, lúc bấy giờ, mặc nhiên nằm dưới sự bảo trợ về mặt chánh trị của chúa Nguyễn.
     Sử đă chép nhiều về các tướng Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch. Và nàh tổ chức Mạc Cửu. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh vài điểm quan trọng:
     - Trần Thắng Tài chú trọng mở mang thương măi và tiểu công nghệ ở vùng cù lao Phố (Biên Ḥa), nhứt là thương măi. Sau khi chợ cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá, các thương gia rủ nhau xuống vùng chợ Lớn lập cơ sở thương măi khác.
     - Dương Ngạn Địch đến vùng Mỹ Tho lập ra trang trại ở vùng Tân Hiệp, mỹ tho qua địa phận Bến Trẻ ngày nay. Nhóm nầy chú trọng đến thương măi và nghề ruộng rẩy.
     - Mạc Cửu đến vùng chợ Hà Tiên, nhắm vào việc mở mang thương cảng, tổ chức ṣng bạc và làm trung gian chánh trị, cố ư đóng vai tṛ đặc biệt trong lịch sử ngọai giao giữa chúa Nguyễn, Cao Miên và Xiêm La.
     Bấy lâu, chúng ta thường dùng danh từ “khai hoang” với nhiều nghĩa mơ hồ. Cần phải xác định vai tṛ của bọn di thần nhà Minh ở miền Nam, lúc họ mới đến. Trừ trường hợp Dương Ngạn Địch ở Mỹ tho, các ông Mạc Cửu và Trần Thắng Tài chỉ chú trọng việc thương măi, tổ chức phố chợ mà thôi. Nhứt là ông Mạc cửu, ông này quá thiên về họat động chánh trị. V́ vậy, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy vùng phụ cận chợ Hà Tiên và chợ Biên Ḥa c̣n quá nhiều đất hoang, chưa canh tác. Số quân sĩ đi theo Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch và số mưu sĩ đi theo Mạc Cửu đều nghiêng về nếp sống thành thị, sống tập trung, lo buôn bán hoặc phát triển tiểu công nghệ.Thành thị đóng vai tṛ quan trọng cần thiết. Điều ấy đă đành, những chúng ta nên ghi rơ; chính những người thành thị nầy đă hưởng lợi khá nhiều, trong khi đám lưu dân đă sản xuất quá nhiều nhưng hưởng không bao nhiêu. Nhờ việc phân phối xuất cảng sản phẩm do bọn di thần nhà Minh nắm giềng mối, đám lưu dân Việt Nam ởven rừng, ở bờ biển được cải thiện đời sống và càng hăng hái làm việc.

     DÂN HAI MIỀN

     Đám lưu dân chịu thiệt tḥi ít nhiều nhưng vẫn vui. Bằng cớ là họ không nổi lọan. Họ vui, có lẽ v́ một lư do khác hiển nhiên, nhưng thầm kín hơn. Quân sĩ của Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch và bọn thân thuộc của Mạc cửu gồm đa số là đàn ông! Họ cần lập gia đ́nh sanh con nối dơi tông đường và do đó, họ phải cưới đàn bà Việt Nam làm vợ. Đàn bà Việt Nam bấy giờ có lẽ hơi ít nên được ông chồng Trung Hoa ưu đăi. Đàn bà Việt Nam lănh phần nấu nướng thức ăn, làm bánh trái và dạy dỗ đàn con.. hai ḍng máu. Một dịp để cải cách kỹ thuật nấu bếp. Trong sự chung đụng nầy, bao nhiêu phong tục ViệtNam và Trung Hoa cọ sát và dung ḥa nhau. Lại có thêm nhiều danh từ Triều Châu được Việt hóa. Lễ Thanh Minh, lễ cúng Giới tử Thôi, và Khuất Nguyên đượm vẻ long trọng. Ngoài ra, c̣n tục lệ thắp đèn trời. Số người lưu dân Việt Nam được tiếp xúc trực tiếp thường với người Trung Hoa lúc mua bán, cụ thể hơn, họ tiếp xúc với những nông dân Triều Châu, hoặc Hải Nam và Quảng Đông. Họ chịu khá nhiều ảnh hưởng về phong tục của nông dân miền Nam Trung Hoa (trong khi đó, người Việt ở Bắc Phần hiểu văn hóa Trung Hoa theo đường lối thượng tầng qua Tứ Thi, Ngũ Kinh). Ảnh hưởng của Thiên Địa Hội lan tràn v́ bọn di thần nhà minh vẫn nuôi giấc mộng bài Măn. Và đạo Phật được truyền bá tiếp do các nhà sư từ Quảng Đông đến.
Đứng về danh nghĩa chánh trị, tất cả bọn di thần nhà Minh và đám lưu dân Việt Nam đều sống dưới quyền bảo hộ của chúa Nguyễn. Trong lúc chúa Nguyễn bận rộn v́ chiến tranh với chúa Trịnh, vùng đồng bằng với số lưu dân anh hùng địa phương và số người lai căng, dễ trở thành một khu vực tự trị v́ dầu muốn dầu không, bọn di thần vẫn mang nặng mưu đồ lập tiểu quốc.
     May thay, cuộc Nam Bắc phân tranh chấm dứt. Năm 1698, Minh Vương Nguyễn phúc Chu nảy ra một sáng kiến thần t́nh. Ngài phái một vị quan kinh lược toàn tài vào Nam: Ông Nguyễn Hữu Cảnh. Ông nầy lănh trách nhiệm đặt cơ sở hành chánh ở miền Nam biên thùy, chánh thức xem vùng Đồng Nai và Sài G̣n là hai huyện đầu tiên của nước Việt Nam: huyện Phước Long và huyện Tân B́nh. Sử chép rơ: Ông Nguyễn Hữu Cảnh mộ thêm một số lưu dân Việt Nam, từ Quảng B́nh trở vào, đem định cư vào hai huyện đầu tiên nầy, để tăng dân số và để tăng chất lượng văn hóa. Dầu ǵ đi nữa, số lưu dân đến sau đi theo ông Nguyễn Hữu Cảnh, cũng là những người Việt “thuần túy” so với số người đă định cư từ trước.
     Dân Sài G̣n và dân Biên Ḥa tự nhận là “Dân hai huyện” – một danh hiệu sang trọng chứng nhận họ không phải là dân lai căng.
     Đó là việc chỉnh đốn chính trị và văn hóa ở vùng sông Đồng Nai.
     C̣n vùng đồng bằng sông Cửu Long, với sông Tiền, sông Hậu và vùng mũi Cà Mau? Làm sao giải quyết được? Vùng ấy ở nơi xa xôi nhưng có tương lai kinh tế gần như vô tận với lúa gạo và cá mắm.
     Năm sau, ở đất Cao Miên có cuộc làm phản. Chính ông Nguyễn Hữu Cảnh được lănh trách nhiệm kéo quân đến tận Nam Vang. Ông thắng trận nhưng khi trở về, cánh quân ấy mệt mỏi, rút lui theo con đường Châu Đốc xuống An Giang, qua Vĩnh Kim (Định Tường). Tại đây, ông Nguyễn Hữu Cảnh mang bịnh mà chết. Linh cữu của ông được đưa về Biên ḥa, đ́nh trú tại đó.
     Thử nh́n trên bản đồ, chúng ta thấy rơ: cánh quân ấy vượt qua con đường xuyến suốt đồng bằng sông Cửu Long, từ sông Hậu giang qua Tiền Giang đến sông Đồng Nai. Ông Nguyễn Hữu Cảnh đă cho đ́nh binh (trú quân) tại tả ngạn sông Hậu, trước khi qua sông Tiền Giang, trút hơi thở cuối cùng (năm 1700). Bao nhiêu thương binh, bịnh binh và quân sĩ đă được dịp giải ngũ – hoặc đào ngũ – theo lộ tŕnh ấy. Ông Nguyễn Hữu Cảnh đă mang bịnh v́ khí hậu ở vùng đất xa lạ và có lẽ v́ mang thương tích nhưng các sử gia đă che giấu. Số quân sĩ của Nguyễn Hữu Cảnh là những người Việt Nam ‘thuần túy” mang từ miền Trung vào. Họ bắt đầu châm rễ tại những vùng mà bọn di thần nhà Minh chưa khai thác đến. Và họ cũng tự xưng là dân hai huyện. Vai tṛ văn hóa, chính trị của họ rất quan trọng, trong những thế hệ sau. Họ sẳn sàng hưởng ứng việc chúa Nguyễn thành lập những dinh, những tỉnh mới (Định Tường, An Giang, Hà Tiên) và dưới mắt đám lưu dân đă bị lai căng, đây là những người “dinh” sang trọng, giữ đúng thuần phong mỹ tục Việt Nam.
     Suốt con đường lui quân của ông Nguyễn Hữu Cảnh, người dân Việt Nam ‘thuần túy”, đă lập những đền kỷ niệm. Nguyễn Hữu Cảnh là vị thần được thờ phượng nhiều nơi nhứt, khắp miền Nam: đ́nh thờ ở Châu Đốc (Hậu Giang), đ́nh thờ ở An Giang (nơi gọi là ḷng ông Chưởng – chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) và tại đây có đến bốn đ́nh thờ (tại các làng An Thạnh Trung, Long Kiến, Long điền, Kiến An, quan trọng nhứt là Dinh Quan Lớn) đ́nh thờ ở Định Tường (Tiền Giang), đ́nh thờ ở Biên Ḥa (Đồng Nai). Tại đ́nh Minh Hương Gia Thạnh (Chợ Lớn) có bài vị thờ Nguyễn hữu Cảnh. Và ở Nam Vang, ông vẫn được Việt kiều thờ kính.
     Người Việt “hai huyện” sống răi rác khắp đồng bằng sông Cửu Long, nhờ cuộc hành quân của ông Nguyễn hữu Cảnh. Do đó, chúng ta thấy miền Nam tuy mang tiếng là lai căng nhưng vẫn giữ được gốc, từ khỏang năm 1700, tức là hơn 150 năm trước khi người Pháp đến. Hoàn cảnh ấy đă tạo cho người Việt Nam vài cá tính, từ xưa.
     Bàn về cá tính ấy là việc hơi trễ. Có lẽ chúng ta không nói được tiếng nào mới lạ v́ Đại Nam Nhứt Thông Chí (soạn thảo từ đời Tự Đức) đă đề cập khá rơ ràng. Xin nêu vài chi tiết đặc biệt ở Lục tỉnh theo bản dịch của Nguyên Tạo.
     Tỉnh Biên Ḥa: Nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo địa thế phát triển làm ăn, ưa sự múa hát, sùng thương đạo Phật...
     Tỉnh Gia Định: Bách công kỹ nghệ thô sơ, những đồ dùng tuy vụng mà bền chắc, hay dùng đồ ngọai hóa. Tục chuộng khí tiết, khinh tài trọng nghĩa, sĩ phu ham đọc sách cốt yếu cho hiểu rơ nghĩa lư mà lại vụng nghề văn từ.
     Tỉnh Định Tường: đất đai rộng, người hào hiệp, ưa đăi khách, không kể tốn phí... Như con gái ở vùng Mỹ tho th́ hay sửa sọan trang sức đi coi hát xướng...
     Tỉnh Vĩnh Long: Đất đai rộng, thức ăn nhiều, ít cần xúc tích dành để. Nhiều người biết lội bơi, thiện nghệ đánh cọp và câu cá xấu.
     Tỉnh An Giang: Cầu đảo th́ chuộng hát xướng, hoàn nguyện việc ǵ th́ hay thắp thiên đăng (thắp đèn trời).
     Tỉnh Hà Tiên: Tính người mau lẹ, nữ công tinh xảo, con gái trang sức sơ đạm, bới tóc thả tḥng ra sau. Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5) làm bánh ú có sừng để cúng tổ tiên, tiết Thanh Minh con trai con gái đi tảo mộ ông bà gọi là đạp thanh, tết Trung Thu mời bạn hữu chung hưởng trung thu (cổ lệ Trung Hoa).
     Về văn chương miền Nam lúc người Pháp mới đến, chúng tôi xin chọn hai bài thơ sau đây, trích trong Quốc Âm Thi Hiệp tuyển xuất bản năm 1903 tại Sài G̣n, lời lẽ thô sơ những khá tiêu biểu, nghe ngồ ngộ theo vần Me, hơi khác với Nguyễn Khuyến và Tú Xương.

     Thơ Rạch ông Me:

     Bấy lây mới biết rạch ông Me.
     Lúp xúp bần con, chuối với tre
     Một thức nước trời, xem léo déo
     Trăm ch́u doi vịnh chống gio gie
     Rừng Nghiên đốn củi, tiều ngơ búa
     Ruộng Thuấn lùa trâu, mục kết bè.
     Thử tắc xanh vàng khoe chớn chở
     Ruộng đồng gió chướng thổi ve ve...


     Thơ Vịnh Cây Me, bốn câu đầu vô danh, bốn câu sau của ông cai tổng Chiểu:

     Xưa mọc ngoài ranh với xó hè
     Nay trồng giữa chợ rạng danh me
     Trái đem nấu ngọt mùi chua lét
     Cây chuốc làm roi, thịt nhăo nhè
     Ít kiểng chen vào cho đậm đám
     So tài gẫm lại chẳng nhằm phe
     Cột rường tuy dụng không nên mặt
     Quan lộ cũng nhờ sức hắn che.


     NHẬN XÉT VỀ CA DAO HẬU GIANG

     Trong số những Ca dao xuất xứ từ miền Hậu Giang, có lẽ lọai “sấm văn” là xưa nhất. Không đi sâu vào nội dung, chúng ta chỉ ghi nhận vài điểm: Văn là bài thơ, văn vần. Sách xưa nêu rơ thí dụ: Nhị độ Mai, Văn (Les pruniers refleuris, poeme tonkinois). Bản in địa phận Sài G̣n 1894, hoặc hựu việt, Văn viết trong tuồng hát bội. V́ lối phát âm không rơ rệt của người miền Nam nên Văn bị lầm là Giảng và Sấm Giảng nghĩa là một bổn băn vần truyền tiên đóan thiên cơ, giảng giải đạo lư.
     Vài đọan thơ gọn gàng dưới đây đủ chứng tỏ mức diễn đạt của vài tu sĩ hồi đầu thế kỷ thứ XX:
     Hai Vơ phân nói thiệt thà:

     “Kinh kệ áo dà, để lại chốn đây
     E khi đi có gặp Tây,
     Nó coi thấy đặng, sắp bây không c̣n”.

     Tính thôi đă một buổi tṛn,
     Xuống thuyền ra biển, hởi c̣n canh hai!

     (Văn núi Tà Lơn của ông Cử Đa)

     Hư nên các việc tỏ bày
     Tôi không có ép có nài chi ai.
     Thương thay ông lăo Bán Khoai.
     Lên non xuống núi hôm mai dạy đời.
     Thân sao nay đổi mai dời.
     Xóm kia làng nọ, khổ thay thân già!
     Nam mô đức Phật Di Đà
     Khiến người trở lại thảo gia của người.
     Bạc bảy đâu sánh vàng mười.
     Hiền lương đâu xứng với người hung hăng.


     (Văn ông Sư Văi Bán Khoai)

     Nhưng v́ các lọai thơ truyền khẩu kể trên v́ quá mang nặng tâm lư địa phương nên thiếu tánh chất phẩ biến. Vùng Hà Tiên, Châu Đốc vốn là một biên trấn với nền kinh tế nông nghiệp tự túc. Từ xưa, kiều bào Việt Nam đă khai thác tận vùng biên giới Kampot, núi Tà Lơn (chaine de l’Eléphant). Lúc ban sơ, Mạc Cửu đến miền duyên hải vịnh Xiêm La với hoài băo bài Măn phục Minh.
     Năm 1878, sử chép việc Hà Hỉ Văn thuộc Thiên Địa Hội đem đoàn Tàu Ô đến qui phục chúa Nguyễn Ánh ở đảo Cổ Cốt. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều đạo sĩ Việt Nam cố gắng biến chuyển khẩu hiệu “bài Măn phục Minh” trở thành lư luận chống thực dân Pháp. Họ phát triển và áp dụng các quan điểm về phong thủy vào vùng Thất Sơn, Cửu Long, dùng những danh từ: Hớn Chúa, Minh Chúa v.v...
     Bên cạnh những ẩn sĩ, c̣n nhiều khách tục, những kiều bào tha phương cầu thực. Vào khoảng 1916, họ nhắn vọng về cố quốc:

     Tà Lơn xứ rày con tạm ở
     Nghiệp lưới chài nhiều tháng náu nương
     Gởi thơ cho cha mẹ tỏ tường.
     Cùng huynh đệ cho hăn ư
     Kể từ con đăng tŕnh vạn lư
     Đến bây giờ có bảy tháng dư
     Nghiêng ḿnh nằm nhớ tới mẫu từ
     Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt.
     ..
     Vận bất tề nay trẻ nổi trôi
     Thời bất đạt nên con xa xứ
     Con cũng biết mười ơn vẹn giữ
     Dạ lâm bền ba thảo ghi ḷng
     Câu tam niên nhủ bộ bất vong
     Nghĩa thập ngoại ḷng con lo trả
     Khó v́ nỗi anh th́ một ngả
     Cực ḷng thay em ở một nơi
     Bảy ngày Xuân con chịu tả tơi
     Ba bữ Tết khoanh tay ngồi ngó
     ...
     Việc ở ăn nhiều nỗi đắng cay
     Vái Trời phật xin về quê cũ
     Xứ hiểm địa, chim kêu vượn hú
     Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan
     Ngó dưới sông: cá mập lội dư ngàn..
     Nay con tới nơi nguồn cao nước đục
     Lọai thú cầm nhiều thứ chỉnh ghê!
     Giống chằng tinh lai văng dựa bên hè
     Con gấu ngựa tới lui gần xó vách
     .. Bầy chồn cáo đua nhau lúc ngúc
     Lũ heo rừng chạy giỡn bát lọan thiên..
     ...Trên chót vót, nai đi nối gót
     Đôi vượn bạch nựng con thảnh thót
     Cặp dă nhơn kếu tiếng rảnh rang
     Ngó sau lưng: con kỳ lân mặt tợ như vàng
     Nh́n trứơc mặt: ông voi đen huyền tợ thổ.
     Hướng đông Bắc, con công kêu tố hộ.
     Cỏi Tây Nam, gà rừng gáy ó o..

     C̣n nhiều câu khác vừa tả chân vừa hài hước; đọc bài văn Tà Lơn, hẳn thân nhân của thi sĩ vô danh nọ cũng mỉm cười, được an ủi phần nào. Ác thú ở Ta Lơn tuy nhiều thứ nhưng thi sĩ vẫn sống nhăn như người đi du ngọan ở Thảo Cầm viên, ngày xuân.
     Ngoài miền đồi núi An Giang, ở Hậu Giang c̣n một miền địa lư thứ nh́ ăn suốt bờ biển Kiên Giang, phần lớn Ba Xuyên và toàn tỉnh An Xuyên. Nơi đây, đất quá thấp v́ mới bồi, các rạch nhỏ bắt nguồn từ biền để theo thủy triều đổ vào đồng śnh lầy. Dưới sự đốc suất của Thọai Ngọc Hầu, kinh Vĩnh Tế và kinh Núi Sập (Thọai Hà) đă hoàn thành từ đầu thế kỷ XIX, dẫn nước ngọt từ Hậu Giang đem tưới các ruộng vườn xa lánh, vừa rửa cho đất sạch phèn, vừa giúp việc lưu thông vận tải. Bài vè kinh Vĩnh Tế nói lên công tŕnh khó nhọc của tiền nhân đă phục dịch giữa nơi khí hậu bất lợi. từ làng quê đến chỗ đào kinh, họ phải qua nhiều vùng nguy hiểm để làm mồi cho sấu cọp. Rất tiếc là bài vè ấy mới sáng tác lúc sau nên giá trị về sử liệu c̣n quá kém cỏi.
     Đáng chú ư hơn hết là việc đào kinh bằng phương tiện cơ giới :phối hợp kỹ thuật cơ giới Tây Phương và đức kiên nhẫn, siêng năng của người Việt” hồi đầu thế kỷ thứ XX
     Kinh Xà No (Phong Dinh) khởi công đào năm 1901, hoàn tất năm 1903.
     Hệ thống kinh Xáng Ngă Năm, Ngă Bảy (Phong Dinh) thành h́nh từ 1906-1908.
     Nhờ vậy tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh ) đứng hạng nhứt ở toàn Nam Kỳ về sản xuất lúa gạo. Lúa gạo bán tăng giá. Mức sống của mọi từng lớp lên cao. Những người dân hai Huyện (trai Nhơn Ái, gái Long Xuyên) bấy lâu nổi tiếng là người dinh (dân sang trọng, chánh gốc, ở vùng dinh quan chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) gặp cơ hội thuận lợi để di cư khắp vùng mới đào kinh Xáng để làm thầy dạy ḥ hát.

     Đời phải đời thạnh trị
     Cuộc phải cuộc văn minh
     Ḱa là gió mát trăng thanh
     Nầy bớ em ơi! Biết đâu nhân đạo bày t́nh cho vui..
     Nước bích non xanh
     Người bạn lành khó kiếm
     Đây em cũng có hiếm, chẳng lựa đặng chỗnào
     Măn lo mua bán ra vào Cần thơ..


     Đa số các thầy vốn là đào kép hát bội, giải nghệ - được học tṛ rước đem về nhà để dạy ḥ – dạy ăn tiền.
     Trong ngôn ngữ b́nh dân, không nghe nói đến danh từ ca dao. Căn cứ vào nạhc điệu, trường hợp xử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê t́nh, hát đối, ḥ chèo ghe, ḥ xay lúa, ḥ cấy.
     Câu hát đưa em:

     Chờ em cho măn kiếp chờ
     Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.


     Có thể đưa ra đồng lúa, trên sông rạch để trở thành câu đối hát. Và khi gặp người đáp lại khéo léo:

     Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ
     Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn.


     Th́ cả hai vế được ǵn giữ đem vềnhà trở thành câu hát đưa em.
     Xu hướng “kéo dài, bổ túc các câu sẵn có” đă tạo thêm được nhiều câu hát đưa em đáng lưu ư:

     Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
     Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm
     Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
     Cưới vợ có chử về thổi lửa queo râu.


     Hoặc:

     Khế với chanh một ḷng chua xót
     Mật với gừng một ngọt một cay
     Ra về bỏ áo lại đây
     Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng
     Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp
     Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa.


     Người thọ giáo không cần học vỡ ḷng về luật bằng trắc, yêu vận, cước vận v́ ai nấy đă từng thở không khí lục bát và các biến thể của lọai thơ ấy từ khi nằm trên vơng.
     Theo quan niệm các thầy th́ câu hát đối đối chia ra ba loai, từ sở trường, sở đoản từng người mà áp dụng.

     1. H̉ VĂN: dùng cách ngôn Khổng Mạnh (trích trong Minh Tâm Bửu giám) để gợi hứng, gieo vần:

     Vật bạc t́nh bất thủ
     Nhơn phi nghĩa bất giao
     Anh nguyền thưởng bậu một dao
     Răn phường ḷng dạ mận đào lố lăng..


     Hoặc:

     Tay cầm quyển sách Minh Tâm anh đọc:
     Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
     Cao phi viễn tấu khả nan tàng
     Từ khi anh xa cách con bạn vàng
     Cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên.


     2. H̉ TRUYỆN: dùng điển tích trong truyện Tàu để gợi hứng gieo vần hoặc nêu câu hỏi:

     Văng vẳng bên tai
     Tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền?
     Anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa
     Từ trên trời xuống mặt nước mấy trăm ngàn thước
     Từ mặt nước xuống âm phủ đi mấy ngày đường?
     Một bộ Tây Du mấy cuốn?
     Mộ cuốn mấy trang
     Một trang mấy hàng chữ?
     Nói cho có ngăn có ngũ, gái má đào mới chịu thua!
     Đó ở dưới thuyền buôn,
     Thả luông tuồng theo nhịp?
     Có phải là: Ngũ Hồ kư tính Đào Công vi nghiệp
     Tứ hải ngoa du Yến Tử pḥng
     Linh đinh nay lớn mai ṛng
     Vậy đà có chốn loan pḥng hay chưa?


     3. H̉ MÉP: dùng lời lẽ nôm na, không điển tích, không cách ngôn:

     Đèn tọa đăng để trước bàn thờ
     Vặn lên nó tỏ, vặn xuống nó lờ
     Xuống sông hỏi cá, lên bờ hỏi chim
     Trách ai làm cho thế nọ xa tiềm
     Em xa người nghĩa mà nằm điềm chiêm bao.


     Lúc đầu, lọai ḥ văn và ḥ truyện được ưa chuộng. Truyện Tây Du, Phong Thần, Tiền Đừng, Hậu Tống, sách Minh Tâm Bửu Giám lần lần xây dựng cho mọi người một vốn liếng về cổ học, nhân bản của Á Đông. Việc phổ biến ấy ngày càng thêm sâu rộng nhờ mức sống của nông dân và tiểu thương lên cao, nhờ phương tiện chữ quốc ngữ. Bắt đầu ấn hành từ đầu thế kỷ XX tại Sài G̣n; các bản dịch ấy phải đợi non 30 năm sau mới thấm vào giới trung lưu và b́nh dân ở thôn quê Hậu Giang –như thể kể cũng nhanh chóng.
Nhận Xét Về Ca Dao
     Nam thanh nữ tú tung ra tất cả tri thức của ḿnh để thi tài biểu diễn. Đó là tật chung của kẻ mới làm giàu, ưa khoe của, “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Thật bực ḿnh khi nghe những câu ḥ dẫn chứng nhiều điển tích sai lạc, vô nghĩa hoặc nhiều cách ngôn của Khổng Tử, tư Mă Ôn Công với danh từ lẫn lộn, ép vận, sai văn phạm cổ văn. Nhưng chúng ta chưa bi quan; trước ánh sáng của nghệ thuật, lọai ḥ mép nôm na (không điển tích không chữ Hán) vẫn là h́nh thức cao nhất, khó thành công nhứt dành riêng hco những người có chân tài, những người trầm tĩnh. Họ đă khéo léo đưa ra những câu ḥ từ miền Tiền Giang, Trung Phần để bẻ lại. Bẻ là uốn nắn cho hợp t́nh hợp cảnh:

     Ai về Giồng dứa qua truông,
     Gió đưa bông sậy để buồn cho em.


     Đă trở thành:

     U Minh Rạch Giá thị quá sơn trường
     Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai.


     Và h́nh ảnh mơ hồ của cây cầu Trường Tiền ngoài Huế:

     Cầu cao ba mươi sau nhịp(?)
     Em theo không kịp
     Nhắn lại cùng chàng:
     Cái điệu tào khang.
     Sao chàng vội dứt
     Đêm nằm thao thức
     Tưởng đó với đây
     Biết nơi nao cho phụng gặp bầy
     Cho le gặp bạn
     Ruột đau từng đọan
     Gan thắt chín lần
     Đôi ta như chanh với khế, như quế với gừng
     Dầu xa nhau nữa cũng đừng tiếng chi!


     Để thêm phần duyên dáng và để biểu diễn nghệ thuật bắt vần, nhiều người trổ tài, môi nững câu ḥ ngắn sẵn có. Môi tức là kéo dài thêm câu hát, đặt thêm nhiều đọan lơ lửng, vô thưởng vô phạt hoặc có dụng ư:

     Anh thương em
     Thương quấn thương quít
     Bồng ra gốc mít, bồng xít gốc chanh
     Bồng quanh đám sậy, bồng bậy vô mui
     Bồng lủi sau lái, bồng ngoái trước mũi (v.v. )
     Để em nằm xuống đây
     Kể từ hồi em đau ban cua lưỡi trắng
     Miệng đắng cơm hôi
     Tiếc công anh đỡ đứng bồng ngồi
     Bây giờ em vinh hiển, em bắt anh bán nồi làm chi?


     Ba h́nh thức ḥ văn, ḥ truyện, ḥ mép đă tổng hợp trong một câu:

     Tay cầm cục mực, cây viết vàng
     Vẽ phụng vẽ loan
     Vẽ Tiết Đinh San
     Vẽ chàng Lâm Sĩ
     Vẽ bông hoa thị
     Vẽ chữ đại tường
     Đem về cắm trước đầu đường
     Người đi qua thấy rơ chữ kim tương (?)
     Kẻ bước lại xem tường văn vơ
     Trách ai chận ngơ lấp truông, ngăn mấy đón gió
     Để con bạn nọ phải thua buồn v́ tiếng thị phi.


     Theo thời gian, từ h́nh thức đơn giản trong sáng, câu ḥ lần lần trở nên nặng nề, mang nhiều chữ nho, điển tích nhưng nghèo ư nghĩa. Lắm người tuy nổi danh ḥ hay, hát giỏi nhưng thật ra họ chỉ thành công nhờ làn hơi thiên phú, nếu chép lời văn ra mực đen giấy trắng th́ rơ ràng là nghèo vần điệu, trùng ư, lải nhải, quá sáo:

     - Nghĩa nào nặng cho bằng nghĩa tào khang.
     - Đêm nằm van vái, vái van ông Tơ hồng cùng bà Nguyệt lăo, xui khiến cho tôi cưới đặng con vợ đồng ḷng, đồng tâm, đồng chí, phu xướng phụ tùy, phụ tùy phu xướng v.v...


     Thế sự ngày càng đổi thay, nếp sống xáo trộn ít nhiều là điều dĩ nhiên. Năm 1938, 1940, nếuđược dịp dự một buổi lễ thành hôn ở vùng kinh Xáng Ngă Năm, Ngă Bảy ta càng ngạc nhiên hơn. Đó là những xóm chạy thẳng ở hai bên đường giao thông thủy bộ, làm ruộng làm rẫy nhưng cũng bán hàng xén, hớt tọc, trong gian nhà có cửa sổ, có đèn “măng xông”. Bộ quần áo mặc ngủ (pijama) và đôi giày “săn đan” trở thành lể phục chánh thức (thay thế cho khăn đóng áo dài) khi chàng rểra mắt bà con hai họ và bái từ đường! Lúc đăi tiệc, một cậu thanh niên đứng dậy tŕnh bày với cử tọa bài “văn chúc” theo kiểu:

     “Thưa quí ông, quí bà, quí cô bác, các bạn thanh niên, mấy chị phụ nữ.”
     Hôm nay là ngày... tháng...là ngày lễ thành hôn của bạn tôi là Mỗ sánh duyên cùng cô Mỗ. Trong khi hai họ sum vầy dự tiệc, tôi là người tài thô trí thiển lẽ th́ phải lặng lặng để nghe người trí thức giải bày “tâm lư” để cho tôi là kẻ thiếu học được dịp học thêm, nhưng tôi xin mạn phép đọc bài văn chúc nầy. Sách có câu chữ rằng: Châu Trần nhứt thôn v́ kết hảo, Tấn Tần lưỡng quốc dĩ thành hôn...Tôi rất đáng khen bạn tôi biết vâng lời giáo huấn, chẳng học thói Sở khanh, đợi đến tuổi trưởng thành cho cha mẹ định đôi mới gọi rằng lưỡng toàn trung hiếu. Tôi thầm khen cô Mỗ biết giữ câu tiết trinh liêm sỉ và biết giữ danh gia cho cha mẹ,chẳng học thói chơi hơn nhà ta nhơ tiết...Thưa quí ông, quí bà, cô bác, các bạn thanh niên, mấy chị phụ nữ, tới đây, tôi xin “gác bút” và ngưng lời.. “


     Tới phần giải trí của buổi lễ một cụ già mặc áo “bành tô” xin tŕnh bày bài “Vè thời sự” mới sáng tác.
     Thí dụ như:

     Ất hợi niên (135) chánh ngọat
     Chợ Phước Long đại ách rơ ràng
     Người tha phương đen đến tai nàn
     Ngày 29, cuối tháng giêng năm đó
     Tám giờ rưỡi, chợ đương đông đen đỏ
     Chiếc xáng Năn (Nantes) múc tới ngang thành
     Chết máy rồi, thầy thợ sọan sành
     Xúm nhau lại sửa sang máy móc
     Ông Tây (coi) máy chăm non săn sóc
     Chỉ đầu kia đầu nọ lăng xăng
     Nồi “xốt de” thiếu nước không bằng
     Cặp rằng (coi) lửa bẩm ông: Nước ít!
     Rủi bữa đó ghe nước về không kịp
     C̣n ông Tây nóng việc không pḥng
     Biểu chụm càn, chạy đỡ cũng xong..
     Rồi lát nữa ghe nước về sẽ lấy
     Rủi nhiều việc, đồng hồ kẹt máy
     Củi chụm hoài không thấy đúng giờ
     ...
     Nghe cái rầm như đất lỡ trời nghiêng
     Người trong chợ thiếu điều té ngửa..
     ...Nghe hết rền, thiên hạ đến coi.
     Thương hại thay mười mấy mạng người
     Ông phó xáng văng xuông kinh gần chết
     Nhờ thầy Kiệt mau chơn lội vớt
     Chớ phải không hồn lặn âm cung
     Vớt lên bờ ḿnh mẩy lấm bùn
     Đứng run rẩy tiếng Tây quên nói.
     ...
     Chừng xáng nổ người bay trên mười thước
     Ba người đó, co hai người dài phước
     Bay lên rồi bay rớt xuống sông
     C̣n một người bay bổng trên không
     Cũng may quá rớt nhằm bùn nước
     ..Ngồi ngẫm nghĩ t́nh đời thêm mệt
     Câu nhân t́nh ấm lạnh điếc tai
     Nghe người đồn lộn xộn vắn dài
     Kẻ nói nọ, người nói kia mà đặt để
     Dầu trật trúng xin quí ông miễn lễ
     Tôi bận việc nhà không quan sát được rơ ràng.."


     Tiếng vỗ tay vang rân khi dàn cổ nhạc bắt đầu lên dây. Buổi đờn ca kéo dài đến quá nữa khuya. Nhiều người vẫn chưa về, ngồi ĺ măi tại chiếu, thách đố uống rượu, thưởng tài lẫn nhau qua câu vọng cổ Bạc Liêu, hát măi mà không thỏa măn!
     V́ bản Vọng cổ Bạc Liêu như bức chân dung không bao giờ vẽ xong. Nó giống như tranh tố nữ chỉ có đôi mắt u buồn là rơ rệt; mái tóc, làn môi, nếp áo th́ để ch́m trong sương hói, mặc ai muốn thêm bớt tô điểm thế nào cũng được. Ngay cái tên của nó cũng đáng bàn căi. Vào năm 1923, ông Cao Văn Lầu khởi tác bản hoài Lang bằng chữ ḥ của điệu Lưu Thủy Trường, lời ca không ngoài ư tứ của điển tích Tô Huệ trông chồng. Bản Hoài Lang lần lần đổi tên, thêm nhịp để nuôi nấng những t́nh cảm phức tạp hơn. Điều ḥ đối đáp đă t́m được ở bản Hoài Lang một h́nh thức tương đối sang trong mà nương náu. Người ca không cần bới óc t́m điển tích, cách ngôn hoặc luyện tài để bẻ, để môi như trước. Bài và bản vọng Cổ là điệu ḥ bào chế sẳn – như món đồ hộp – tập trung và phát triển những sầu muộn mà họ muốn giải bày măi măi.
     Bản Vọng Cổ Hoài Lang đứng vững trong ḷng dân tộc nhờ căn bản quê mùa của nó, căn bản của tiếng hát câu ḥ. Ở đây ta hiểu “quê mùa” theo nghĩa: tánh chất nông thôn, miền lục tỉnh. Quê mùa là một sắc thái văn hóa, một nhu cầu t́nh cảm tất yếu của người ở thôn quê và cũng là của người ở thành thị (provincialisme). Nó sống, không ngưng động quá lâu ở sắc thái cố định nào cả.
     Nhưng văn minh kỹ thuật lan tràn thêm sau Đ
nhị thế chiến. Chân trời hiểu biết của giời b́nh dân không c̣n bị hạn chế ở Minh Tâm Bữu Giám, truyện Tam quốc, Tần Đường nữa đâu! Thiết tưởng ngày nay người yêu ca dao chớ nên phí th́ giờ và tâm trí để du lịch về đồng quê v́ mùa gặt hái của ḥ truyện, ḥ văn… đă măn, chỉ c̣n lại cảnh “tót rả cơm khô”. Thà cứ ở đô thành ngồi nghe những buổi truyền thanh Vọng Cổ qua làn song điện, hoặc dừng bước lăng du, ghé rạp xem tuồng cải lương vào những lớp “áo năo, lâm ly, gay cấn” để thông cảm với cô đào chánh đang cau mày cố gắng vô Vọng Cổ cho thật ngọt thật mùi trong lúc ánh đèn đổi màu! Tiếng vỗ tay của thính giả rộ lên để chào đón một thế giới t́nh cảm quen thuộc nhưng chưa nhàm, một thiên đàng đă mất những đang sống lại trong ảo giác! B́nh tĩnh mà xét, ta thấy người đẹp đứng “chết bộ” khi ca sáu câu Vọng cổ quá dài, hai tay nàng chỉ biết x̣e ra, nắm lại, quơ lên, quơ xuống như cố gắng t́m cho được một cây chèo, cây nọc cấy, một cái dàn xay lúc ḥ hát xa xưa là bám cho đỡ ngượng ngập. Tuy mái tóc đă uốn theo kiểu Brigitte Bardot, nàng vẫn là cô đào thuở trước sùng bái ông tổ hát bội, tôn trọng những điều cấm kỵ thần bị (không đem trái thị vào hậu trường, không đi guốc vông, thổi ống tiêu...) Y phục ánh sáng chỉ là h́nh thức phù du nay vầy mai khác, duy có đôi mắt chung thủy của nàng đang hướng về khán giả như để ḍ hỏi trong tương lại; đôi mắt đẹp như những v́ sao lấp lánh trong ṿm trời nghệ thuật, từ xưa cho đến tận bao giờ?

Sơn Nam



Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved