www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam

Sơn Nam

Nhận xét tổng quát

     Đồng bằng sông Cửu Long, Ménam và Irraouaddi là ba trung tâm sản xuất lúa gạo, có  dư để xuất cảng, quan trọng nhứt trên thế giới. Việt Nam, Xiêm, Miến Điện gồm đa số dân sống bằng nghề nông. Ba quốc gia này liên ranh, nằm trong khu vực gió mùa với những nét  lớn giống nhau :
     — Lănh thổ phát triển lần hồi từ Bắc xuống Nam.
     — Biết làm ruộng cấy ở đồng sâu, nhờ đó mà sản lượng đạt mức cao so với ruộng tỉa ở
  đất khô.
     — Mức sống thấp kém.
    
Nam tiến không phải là mănh lực huyền bí của riêng dân tộc Việt Nam. Những dân  tộc chịu ảnh hưởng ấn độ vẫn đạt được kỹ thuật cày sâu cuốc bẫm không kém nước ta. Việc  tôn thờ rắn thần và rồng để cầu mưa, vài môn giải trí như thả diều, trai gái đối đáp nhau  nào phải chỉ xảy ra ở Việt Nam.
    
Dân Việt gặp dân Miên vốn có nền văn hóa cổ kính khá cao. Vào thế kỷ 13, người Miên  đă t́m ra giống lúa và dẫn thủy nhập điền thích ứng giúp họ thâu hoạch 3 hoặc 4 vụ trong  một năm. Cuộc Nam tiến của người Xiêm, người Miến Điện gặp hoàn cảnh khá tốt về địa lư,  hai con sông Ménam và Irraouaddi thuận lợi cho việc thông thương, trong khi Hồng Hà và sông Cửu Long có nhiều thác đá. Từ hạ lưu sông Hồng, dân Việt len lỏi theo mấy cánh đồng  nhỏ bé dọc theo bờ biển Đông nhiều giông tố để lần hồi đến hạ lưu sông Đồng Nai, sông Cửu  Long.
     Tuy là đặt chân trên đất Cao Miên nhưng đối thủ đáng nể của người Việt đi khẩn
  hoang lại là người Xiêm đang nuôi tham vọng đô hộ vùng Vạn Tượng, Cao Miên và Mă Lai.  Xiêm quốc lúc bấy giờ đang thời hưng thịnh, với tướng giỏi, quân sĩ có kinh nghiệm về chiến  đấu đường bộ và đường thủy.
     Người Việt đă giữ được thế chủ động trong hoàn cảnh gay go.
     Khi đặt chân ở đồng bằng sông Cửu Long, nước Việt bị chia cắt từ sông Gianh, công
  tŕnh khẩn đất và giữ đất lúc đầu chỉ do một số dân từ Quảng B́nh trở vào gánh vác. Bấy  giờ, ưu thế của người Việt khong là kỹ thuật canh tác cao, nhưng là ưu thế về tổ chức chính  trị và quân sự. Bộ mấy hành chính khá hoàn hảo đă giúp chúa Nguyễn theo dơi được t́nh  h́nh ở những địa phương xa xôi, quân đội có thể tập trung khá nhanh khi cần thiết. Đơn vị xă hội nhỏ nhất là thôn ấp đủ khả năng tự trị, các tổ chức đồn điền có thể tự quản trị về  kinh tế và an ninh.
     Quân đội Xiêm hùng mạnh, nhưng đi xa th́ mất hiệu năng. Nước Cao Miên bấy giờ
  quá suy nhược, vua chúa kém năng lực chỉ biết cầu viện với ngoại bang, dân chúng th́ ly  tán : người Xiêm thường lùa bắt từng loạt dân Cao Miên đem về xứ họ để làm nông nô phục  dịch.
     Vua chúa Việt Nam thúc đẩy việc khẩn hoang v́ những lư do sau
đây :
     — Mở rộng địa bàn thống trị, đất rộng, dân giàu th́ kinh đô được bảo vệ chu đáo hơn.
     — Thuế điền và thuế đinh gia tăng nhanh chóng.
     — Nạn đói kém được giảm thiểu, nơi này thất mùa, nơi
kia bù lại, ít có nguy cơ nội loạn.
     — Dân số gia tăng, thêm lính tráng, thêm dân xâu.
    
Bộ Đinh và bộ Điền tiêu biểu cụ thể cho nhân lực, tài lực. Với binh sĩ giữ ǵn bờ cơi và trấn áp nội loạn, với tiền bạc và nhân công làm xâu, vua chúa tha hồ phung phí, sống xa hoa, xây đắp cung điện lăng tẩm, ưu đăi người trong gịng họ, mua chuộc quan lại, để ngôi  vị được ổn định, chống các âm mưu ly khai ở địa phương.
     Về phía dân chúng, khẩn hoang là việc tích cực, không phải là hưởng thụ, thụ động,
  chờ thời vận.
     * Phải có yếu tố thiên nhiên tương đối thuận lợi, đất quá thấp th́ lúa dễ bị ngập, quá
  cao th́ gặp nạn thiếu nước. Từ nơi cư trú đến thửa ruộng, đường đi phải gần để khỏi phí th́  giờ lui tới, lúa đem về nhà không mất nhiều công lao và phí tổn chuyên chở.
    
* Đủ nước ngọt để uống, nấu cơm và cho trâu ḅ uống.
     * Gia đ́nh đủ vốn liếng, đủ lúa gạo
ăn trong khi chờ lúa chín. Lại c̣n quần áo, tu bổ  nhà cửa, thuốc uống, trầu cau, lúa gạo để nuôi heo gà, ghe xuồng, nông cụ. Thêm vào đó,  c̣n yếu tố xă hội v́ làm ruộng đ̣i hỏi sự hợp quần cần thiết :
     — Sức một người, một gia đ́nh chỉ có giới hạn. Một khoảnh ruộng ở giữa tư bề đất
  hoang th́ hoa mầu sẽ bị chim chuột từ các vùng lân cận tập trung lại phá nát. Năm bảy gia  đ́nh góp sức canh tác liên ranh nhau th́ sự tổn thất v́ chim chuột được giảm thiểu.
     — Mùa cấy tuy là co giăn, xê xích mươi ngày nhưng nằm trong thời gian quy định. Cấy
  quá sớm, thiếu nước, cấy quá trễ, cây lúa mọc không kịp nước mưa. Mỗi người chỉ có thể cấy  chừng 4 mẫu tây trong một mùa mà thôi, đàn bà lo cấy ở nơi này th́ đàn ông lo dọn đất ở  nơi kia. Dọn đất cấy quá sớm, cỏ mọc trở lại, tŕ hoăn th́ nước trong ruộng lên cao, không  dọn đất được. Lúa chín mà gặt trễ chừng năm bảy ngày là hư hao.
     Phát cỏ, cấy lúa, gặt lúa đ̣i hỏi sự tập trung nhân công, mướn hoặc đổi công, theo lịch
  tŕnh không được bê trễ. Phải nhờ người lân cận hoặc ở địa phương khác đến. Ngay trong  một khoảnh đất nhỏ, mặt đất chưa bằng phẳng, nơi cao nơi thấp, việc đắp bờ, tát nước vẫn  là công tŕnh của nhiều người.
     Vùng định cư để khẩn hoang cần liên lạc với vùng phụ cận dễ dàng để giải quyết vấn
  đề nhân công. Trong một ấp, nhà này không được ở quá xa nhà kia. Gần thôn ấp, phải có  nơi bán tạp hóa, có người cho vay, người tiêu thụ lúa. Việc sanh đẻ, cưới hỏi, may chay đ̣i  hỏi các phương tiện tối thiểu. Nhà cửa, tính mạng người dân phải được bảo vệ, chống trộm  cướp, loạn lạc. Lại c̣n nhu cầu học vấn, nhu cầu về tâm linh với đ́nh, chùa, miễu, hát  xướng.
     Đơn vị tối thiểu về xă hội vẫn là một làng.
     Khẩn hoang đ̣i hỏi nhiều yếu tố căn bản.
Khẩn hoang ở đồng bằng sông Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa.
    
Vua chúa quy định chính sách điền địa, thuế khóa, quân dịch và thưởng phạt. Tùy nhu  cầu mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn, lập ấp, cày cấy ở nơi mất an ninh.  Đất kém mầu mỡ, khó canh tác nhưng chính quyền lại cưỡng bách đến định cư. Có những  giai đoạn, những khu vực mà chính phủ kiểm soát chặt chẽ việc khẩn hoang, nhưng cũng có  lúc người dân được dễ dăi. Nhiều vùng đất tuy người Cao Miên chưa chánh thức nhượng cho  ta nhưng dân ta đă đến khẩn hoang, hoặc ngược lại, đă nhượng từ lâu nhưng vẫn c̣n hoang  phế.
     Cuộc vận động phối hợp quân sự, chính trị và kỹ thuật này có thể chia ra từng thời
kỳ :
    
1) Từ các chúa Nguyễn đến những năm cuối đời Gia Long : Khai khẩn vùng đất phù sa tốt, đất giồng ven sông, đất cù lao theo nhu cầu phát triển xứ Đàng Trong, phục quốc và củng cố quốc gia.
    
C̣n lại các vùng nước ngập sâu vào mùa mưa, đất quá phèn, rừng Sác. Vùng người  Miên tập trung, trên nguyên tắc th́ để nguyên vẹn (Rạch Giá, Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc).
    
Thành lập các trấn Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường và Vĩnh Thanh.
     
2) Từ cuối đời Gia Long tới cuối đời Minh Mạng : Khai khẩn phía hữu ngạn Hậu  Giang, nối qua vùng đồi núi Thất Sơn, v́ nhu cầu xác định biên giới Việt Miên. Khai khẩn vùng đồi núi, vùng đất thấp, canh tác những lơm đất nhỏ mà cao ráo, giữa  vùng nước ngập lụt.
     Thành lập tỉnh
An Giang, tách ra từ trấn Vĩnh Thanh.
    
3) Từ đời Thiệu Trị tới đời Tự Đức : Khai khẩn những điểm chiến lược, nhằm đề pḥng  nội loạn ở phía Hậu Giang, chánh sách đồn điền được thúc đẩy mạnh.
     Thực dân Pháp đến, nhằm mục đích bóc lột nhân công rẻ tiền, và xuất cảng tài nguyên, đă thực hiện được vài việc đáng
kể :
     1) Cho đào kinh để chuyên chở lúa gạo, giúp giao thông vận tải được dễ dàng, đồng thời  rút bớt nước vào mùa lụt từ Hậu Giang ra Vịnh Xiêm La. Vùng đất phèn, tạm gọi là phù sa mới, không c̣n bị nước ngập quá cao. Việc chuyên chở sản phảm về Sài G̣n ít tốn kém hơn
  trước.
     Thành lập các tỉnh
mới : Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vùng này trở thành  nơi dư lúa gạo, nhờ dân ít mà mức sản xuất cao. Khai khẩn rừng tràm và đồng cỏ.
     2) Thúc đẩy việc làm ruộng sạ, nhờ chọn các giống lúa thích hợp hơn, giúp vùng đất
  thấp ở Long Xuyên, Châu Đốc và Đồng Tháp Mười canh tác được. C̣n lại là vùng rừng Sác  Cần Giờ, rừng Đước Cà Mau, vùng than bùn U Minh, vùng đất quá nhiều phèn chung  quanh Hà Tiên và Đồng Tháp Mười.
     3) Lập đồn điền cao su ở miền Đông.

Chương 1 - 1
Nhu cầu phát triển xứ đàng trong, phục quốc và củng cố quốc gia

     Những hành động quyết định
    
Từ lâu, các chúa Nguyễn đă biết về vùng đất ở Đồng Nai và Cửu Long, nhưng cơ hội  chưa thuận lợi để đẩy mạnh cuộc phát triển về phía Nam. Năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prei Nokor (vùng Sài G̣n) để thu thuế hàng  hóa.
     Năm 1658, khi c̣n bận rộn giao tranh với chúa Trịnh ở phương Bắc, chúa Hiền cho  quan Khâm mạng đến Trấn Biên dinh (Phú Yên) đem 2000 quân đến Mỗi Xui (Mô Xoài) để  đánh phá, bắt vua Nặc Ông Chân giải về Quảng B́nh. Khi ấy ở Mỗi Xui (vùng Bà Rịa ngày nay) và ở Đồng Nai, “đă có lưu dân của nước ta đến sống
chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất. Người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đ́nh đem nhượng hết cả đất  ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh trở chuyện ǵ”.
     Năm 1672, t́nh h́nh vô cùng thuận lợi cho Hiền Vương, ngài đă thắng chúa Trịnh, lấy
  sông Gianh làm ranh giới. Năm 1764, Cao Miên có loạn, thêm lư do để quân chúa Nguyễn  can thiệp, lần này phá luôn được các đồn binh Cao Miên ở Sài G̣n, G̣ Bích và Nam Vang  sau khi thắng ở Mô Xoài.
     Bảy năm sau, 1679, Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch đem binh biền và gia quyến hơn 3000 người và chiến thuyền hơn năm chục chiếc đến gần kinh đô.
    
Hiền Vương cho phép bọn di thần nhà Minh vào Nam. Chi tiết đáng chú ư là đoàn  chiến thuyền này được đưa vào Nam có người hướng dẫn. Đây là cuộc hướng dẫn thần t́nh,  chứng tỏ thời chúa Nguyễn bản đồ và khung cảnh ở đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long  được nghiên cứu khá tường tận. Chúa Nguyễn và người hướng dẫn đă đánh giá đúng mức  giá trị chiến lược của vùng Mỹ Tho và vùng Biên Ḥa — nơi bọn di thần nhà Minh được phép  đến định cư — sự đánh giá ấy măi đến sau này vẫn c̣n là đúng.
    
Miền Nam vẫn c̣n hai nơi quan trọng khác ở phía Tây và Tây Nam. Năm 1699,  Nguyễn Hữu Cảnh đem binh lên tận Nam Vang để can thiệp về quân sự. Chuyến về vào  khoảng tháng tư năm canh th́n (1700), ông cho quân sĩ theo ḍng Tiền Giang, trú đóng tại  Cái Sao (vùng chợ Thủ của Long Xuyên) “Ba quân bị phát bịnh dịch và ông cũng bị nhiễm  bịnh”. Thời gian trú quân ở đây là hơn nửa tháng, binh kéo đi hai ngày sau là ông mất.  “Ông có công dẹp yên Cao Miên rồi khai thác đất này”. Ai trực tiếp khai thác ? Chắc chắn là số binh sĩ bị bịnh, hoặc một số t́nh nguyện ở lại vùng Cái Sao mà khai thác trước khi đất  đai này được vua Cao Miên nhượng cho. Bấy giờ nhóm này sống cheo leo bên kia sông Tiền.  họ được gọi là dân Hai Huyện, trực thuộc phủ Gia Định từ xưa.
     Năm 1705, Nguyễn Cửu Vân thừa lịnh hành quân lên Cao Miên để đánh quân Xiêm,
  khi trở về lại cho trú quân ở Vũng Gù (nay là Tân An) lập đồn điền, “làm thủ xướng cho  quân dân”, đắp đồn và đào kinh cho rạch Vũng Gù và rạch Mỹ Tho ăn thông với nhau, nối  liền sông Vàm Cỏ Tây qua Tiền Giang.
     Về phía Vịnh Xiêm La, khoảng năm 1680, Mạc Cửu đă lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp
  định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang  thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.
     Trần Thắng Tài (Đồng Nai), Dương Ngạn Địch (Mỹ Tho), Nguyễn Hữu Cảnh (Tiền  Giang), Nguyễn Cửu Vân (Vàm Cỏ), Mặc Cửu (Hà Tiên) và quân dân đă đi những bước tiên  phong trong thời gian ngắn. Nhóm di thần nhà Minh và dân Việt thật sự làm ruộng và định
  cư  nơi đất lạ. Bao nhiêu khó khăn dồn dập xảy tới : cuộc tranh chấp về quân sự với người  Cao Miên, người Xiêm. Măi đến 134 năm sau (1834), vùng đất mà ông Nguyễn Hữu Cảnh
     khai sáng c̣n gặp chinh chiến với quân Xiêm, mặc dầu cuộc Nam tiến hoàn tất vào năm
  1759. Lại c̣n việc tranh chấp dằng dai với anh em Tây Sơn, khiến việc khẩn hoang bị đ́nh  trệ hoặc hư hại.
     Chúa Nguyễn nắm nguyên tắc căn bản là phát triển các đơn vị hành chính liền ranh
  nhau. Thoạt tiên dinh Trấn Biên đóng ở vùng Phú Yên. Năm 1698, chưởng cơ Nguyễn Hữu  Cảnh đặt ra Gia Định phủ gồm có :
     — Xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên.
     — Xứ Sài G̣n làm huyện Tân B́nh, dựng dinh Phiên Trấn;
     Rồi lần hồi, vùng Long Hồ nối vào đất Gia Định, vùng Mỹ Tho nối vào Gia Định, vùng  An Giang nối vào Long Hồ (Vĩnh Long). Lúc Hà Tiên quá suy sụp, năm 1805 (đời Gia Long)  dinh Vĩnh Trấn (Vĩnh Long) cai quản từ hữu ngạn Tiền Giang đến Rạch Giá, Cà Mau, tức  Vịnh Xiêm la để rồi năm 1810 trả lại cho trấn Hà Tiên như cũ.
     Từ ngàn xưa, dân Việt học được kinh nghiệm về định
cư : miền rừng núi bao giờ cũng  bất lợi, ít đất thịt, nhiều sỏi đá, nhứt là bịnh rét rừng (sơn lam chướng khí) nguy hại có thể  gây nạn diệt chủng. Nhà cửa nên cất nơi đồng bằng, nhưng đất phải cao ráo, gần sông rạch  càng tốt, tránh nơi nước đọng ao tù. “Sông sâu nước chảy” là cuộc đất lư tưởng về phong  thủy (tài lợi dồi dào) nhưng trong thực tế là ngừa được bịnh rét, giao thông thuận lợi, có  nước để làm ruộng, có nước để uống, nếu là nơi nước mặn gần biển th́ trên giồng cao vẫn  đào giếng được.
     Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh đặt hai huyện đầu tiên, t́nh h́nh khẩn hoang được
  mô tả như sau :
    
— Đất đai mở rộng 1000 dặm, dân số được hơn 40000 hộ, chiêu mộ lưu dân từ Bố  Chánh châu trở về Nam đến ở khắp nơi, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền. Từ đó con cháu người Tàu ở nơi Trấn Biên th́ lập thành  xă Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn th́ lập thành xă Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.
    
Nhóm di thần nhà Minh đến ở cù lao Phố và vùng Mỹ Tho gồm 3000 người khi tiên  khởi. Hai mươi năm sau, con cái của họ lớn lần. Một số người Trung Hoa khác lần hồi đến  làm ăn buôn bán, rồi định cư luôn. Ta thấy c̣n lại trên ba chục ngàn gia đ́nh Việt Nam  gồm có :
     — Những người lập nghiệp từ trước ở Mô Xoài (Bà Rịa).
     — Những người từ Bố Chánh (Quảng B́nh) trở vào đến lập nghiệp. Số người này sống
  rải rác từ Bà Rịa đến cù lao Phố (Biên Ḥa), vùng Sài G̣n, Mỹ Tho. Địa danh Trấn Biên  bao gồm một vùng rộng răi từ ranh B́nh Thuận đến tận Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm Tân  B́nh đến phía Cần Giuộc, Cần Đước, Tân An. Phủ Gia Định thuở ấy ăn đến tận vùng Cái  Bè (tả ngạn Tiền Giang) sau này là châu Định Viễn. Đây là những lưu dân. Nhưng nên chú  ư số người “có vật lực” từ miền Trung đến. Không vốn liếng th́ không làm ruộng được, người  có chút ít vốn nếu chịu mang vào “đất mới” sẽ dễ trở thành điền chủ, phú hào.
     Lỵ sở thường đặt ở những nơi quan trọng, dân đông, kinh tế dồi dào, thuận lợi cho việc
  thương măi và là vị trí có giá trị chiến lược quân sự. ở lưu vực sông Đồng Nai và Cửu Long,  dân ta thiết lập được :

    
Vùng cù lao Phố : ṇng cốt của Biên Ḥa
     Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu (Trấn Biên) với đường bộ đường thủy nối liền về  miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài G̣n. Nhóm dân Trung
  Hoa theo chân Trần Thắng Tài gây cơ sở lớn ở cù lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông. Năm năm sau khi định cư, chùa Quan Đế dựng lên.
     Trần Thắng Tài chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi  từng rực rỡ trên bờ sông, liên lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ, nhai lớn giữa phố
     Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam — Trang 6/6
     lát đá trắng, nhai ngang lát đá ong, nhai nhỏ lát đá xanh, đường rộng, bằng phẳng, người  buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, c̣n những nhà buôn to ở  đây th́ nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội.
     “Đại Phố” bấy giờ là đệ nhứt thương cảng ở miền Nam, phồn thịnh nhờ lư do sau đây :
     — Việc thương măi tổ chức khéo léo, Trần Thượng Xuyên chiêu tập người buôn nước  Tàu đến kiến thiết, đây là bọn thương buôn chuyên nghiệp, có vốn to và giàu kinh nghiệm,  đến sau chớ không phải là người đi theo Trần Thượng Xuyên trong đợt tiên phong (số người  đi đầu gồm đa số là quân sĩ, tức là nông dân nghèo, không vốn).
     — Sông sâu có chỗ thuận lợi cho tàu biển đậu (đây là vực sâu gần đền thờ ông Nguyễn
  Hữu Cảnh).
     — Việc tồn trữ và phân phối hàng hóa được điều hành hợp lư. Nhà lầu, phố xá bên các
  nhai lộ lát đá là kho hàng và cũng là nơi nghỉ giải trí của chủ tàu và thủy thủ. Tàu chạy  buồm gặp gió thuận th́ mới đến hoặc đi được. “Xưa nay thuyền buôn đến hạ neo xong là lên  bờ thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lại đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua hàng định giá mua bao tất cả hàng hóa tốt xấu  không bỏ sót lại thứ ǵ. Đến ngày trương buồm trở về gọi là “hồi đường”, chủ thuyền có yêu  cầu mua giúp vật ǵ th́ người chủ buôn ấy cũng chiếu y ước đơn mua dùm chở đến trước kỳ  giao hẹn, hai bên chủ khách chiếu tính hóa đơn thanh toán rồi cùng nhau đờn ca vui chơi, đă được nước ngọt tắm rửa sạch sẽ lại không lo sự trùng hà ăn lủng ván thuyền, khi về lại  chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi”.
     Chưa thấy tài liệu cụ thể về các sản phẩm mua bán lúc ấy, nhưng ta đoán là thương
  gia Huê kièu nắm độc quyền về xuất nhập cảng từ khi bắt đầu khẩn hoang, ngoài những  sản phẩm đất Đồng Nai như gạo, cá khô, c̣n một số sản phẩm từ Cao Miên đem xuống : các  loại thảo dược, ngà voi. Sản phẩm nhập cảng gồm tơ lụa, vải bô, dược phẩm cho đến những  xa xí phẩm. Người Tàu thích dùng đồ bên Tàu : gạch ngói, đá xây cột chùa, nhang đèn, giấy  tiền vàng bạc. Họ cưới vợ Việt Nam, bày ra những thói ăn xài, phung phí vào dịp Tết.
     Những địa điểm định cư lúc ban đầu là vùng Bà Rịa, Đồng Môn, Long Khánh, Tân
  Uyên, những cánh đồng ở hai bên bờ sông Đồng Nai gần cù lao Phố. Đất Trấn Biên lúc bấy  giờ ăn đến Thủ Đức, Giồng Ông Tố, vùng Thủ Thiêm, Nhà Bè; phía Tây th́ ăn qua vùng Thủ Dầu Một, Lái Thiêu.

    
Vùng Bến Nghé Sài G̣n : ṇng cốt của Gia Định
     Đây là vùng đất giồng ở sông Sài G̣n, rạch Thị Nghè lên Hốc Môn, G̣ Vấp; vùng Chợ  Lớn ngày nay ăn xuống B́nh Điền, B́nh Chánh; G̣ Đen, nối liền đến Cần Đước, Cần Giuộc,  những giồng thuận lợi để làm ruộng và làm rẩy. Nếu vùng cù lao Phố được ưu thế là có nước  ngọt quanh năm, th́ vùng Sài G̣n lại bị ảnh hưởng nước mặn từ biển tràn vào, giồng cao  ráo, đào giếng có thể gặp mạch nước ngọt, phần c̣n lại là đất quá thấp.
     Vùng Sài G̣n là Prei Nokor (chùa Cây Mai được gọi là Vat Prei Nokor) nằm trên
  giồng, phía Chợ Lớn ngày nay. Năm 1739, đồn Dinh đóng ở thôn Tân Mỹ, có tài liệu ghi là Tân Thuận, phải chăng v́ quân sĩ muốn ở gần bờ sông lớn (gần Nhà Bè) để dễ di chuyển và  kiểm soát an ninh ? Thoạt tiên từ cù lao Phố đến Bến Nghé — Sài G̣n chỉ dùng đường thủy,  chợ Nhà Bè thành h́nh, ứng dụng vào nhu cầu như một chợ nổi ở giữa ngă ba. Hanh Thông  xă (G̣ Vấp) trở thành đơn vị hành chánh từ năm 1698, Phú Thọ năm 1747, Tân Sơn Nhứt năm 1749. Ngay từ năm 1698, người Hoa kiều lập xă Minh Hương ở vùng Sài G̣n, nơi đây  họ cũng nắm việc thương măi. Năm 1770, sử chép chuyện ông Tăng Ñn đánh cọp tại chợ  Tân Kiểng (Tân Cảnh), năm 1774 chùa Giác Lâm dựng lên, trên g̣ đất cao ráo (do người  Minh Hương là Lư Thụy Long quyên tiền), chùa Kim Chương lập năm 1775. Phú Lâm, vùng B́nh Điền là đất giồng. Nhưng nơi thuận tiện cho việc canh tác phải kể là vùng Cần Giuộc, Cần Đước. “Gạo Cần Đước nước Đồng Nai” nổi danh là ngon và trong mát. Vùng ven biển  Nam kỳ (trừ ra rừng Sác — Cần Giờ và rừng Đước mũi Cà Mau) c̣n nhiều đất rất tốt. Bên  kia Cần Đước là G̣ Công với nhiều giồng và đất phù sa ở bờ Cửa Đại, Ba Lai (trở thành vựa  lúa quan trọng đời Gia Long).
     Đất đă tốt lại ở ven biển, lưu dân có thể đi ghe bầu từ miền Trung vào vàm mà lập
  nghiệp, ngoài huê lợi ruộng nương c̣n huê lợi cá tôm. Đánh lưới ngoài biển vốn là sở trường  của dân Việt. Làm ruộng ở những nơi xa lỵ sở th́ dễ trốn thuế, tha hồ chọn lựa đất tốt. Nhờ  đường biển, việc liên lạc về quê xứ miền Trung được thuận lợi.
     Trấn Biên và Phiên Trấn khi mới khẩn hoang tuy đất không tốt bằng phía Cửu Long
  nhưng vẫn là ph́ nhiêu so với vùng B́nh Thuận. V́ ở gần lỵ sở, gần thương cảng nên lúa gạo bán có giá. Về mặt an ninh v́ xa sông Tiền sông Hậu nên khỏi sợ nạn chinh chiến khi  chúa Nguyễn và Xiêm La gây hấn.

    
Vùng Ba Giồng : ṇng cốt của Định Tường
     Sông Cửu Long khác hơn sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ. Hằng năm, Cửu Long có nơi  nước lụt tràn bờ. Đất giồng ven bờ sông, đất cù lao ở Cửu Long khác hơn mấy g̣ ở gần Đồng
  Nai. Vùng Cửu Long đất thấp, đào xuống vài lớp xuổng là gặp nước, việc trồng cây ăn trái lại dễ dàng, khỏi tưới. Múc nước giếng, hay gánh nước từ mé rạch lên nhà, lên rẫy lại ít tốn  công. Bờ Cửu Long thường có băi bùn, bồi đắp nhanh chóng, đất cù lao lan ra trong vài năm là thấy cuộc biển dâu. Việc vận tải, giao thông dùng ghe xuồng thay v́ dùng xe ḅ hoặc đi  bộ, khiêng gánh. Kỹ thuật cày bừa cùng là ngày tháng cấy hái phải thay đổi cho thích ứng  với hoàn cảnh mới.
     Dương Ngạn Địch “đem binh lính ghe thuyền chạy vào cửa Soi Rạp và Đại Tiểu hải
  khẩu rồi lên đồn trú ở xứ Mỹ Tho”. Đây là cuộc định cư có sắp đặt, “xá sai Văn Trinh và tướng thần lại Văn Chiêu đưa dụ văn sang Cao Miên bảo Thu Vương chia đất để cho bọn  Dương Ngạn Địch ở. Tháng 5, Văn Trinh dẫn cả binh biền Long Môn và đưa ghe thuyền đến  đóng dinh trại ở địa phương Mỹ Tho rồi dựng nhà cửa, tụ tập người Kinh, người Thượng  (người Miên) kết thành cḥm xóm”, “sau này mới lập dinh trấn, đều là tùy thời dời đổi, hoặc  hướng Nam, hoặc hướng Bắc, hoặc đem tới, hoặc rút lui cũng chẳng ngoài địa cuộc ấy”.
     Trên 1000 binh sĩ của Dương Ngạn Địch làm ăn tại
đâu ?
     Họ không rời khỏi “địa cuộc” tốt chọn lựa lúc ban đầu như tài liệu trên cho biết. Chúng  ta có thể xác nhận là giồng Cai Yến ăn đến vùng Ba Giồng, khởi đầu là Tân Hiệp (nay c̣n  gọi là giồng Trấn Định) đến Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, giữa Tiền giang và Đồng Tháp Mười.
     Lúc mới khẩn hoang, hai lỵ sở chính là Biên Ḥa và Phiên An ở gần nhau phía Đồng
  Nai. Các quan th́ muốn cho dân chúng phân tán ra chiếm cứ đất phía Tây Nam nên đặt  quy chế rộng răi, không câu thúc. Về nguyên tắc, người khẩn hoang ở Vũng Gù (Tân An,  sông Vàm Cỏ) hoặc Mỹ Tho, đều là dân của hai huyện Phước Long và Tân B́nh. Để khỏi  chuyên chở đường xa khi đóng thuế bằng lúa và bằng tiền mặt, họ có thể nạp tại các kho  thuế ở địa phương, vừa thuận lợi cho dân, cho các quan cũng khỏi lo sợ nạn thất thâu. Một  số người làm nghề rừng, nghề biển hưởng quy chế riêng khỏi lập thôn ấp, chỉ cần đôi người  thay mặt đứng ra chịu trách nhiệm để kết họp thành trang trại, man, thuộc, nậu. Họ sống  định cư hoặc lưu động, với người cai trại hoặc người bộ trưởng, người đầu nậu cầm đầu.
     Chín kho thâu thuế (cửu khố trường) dành cho các trại, các nậu, mang tên sau đây  (đặt ra từ năm 1741) :
     — Quy An
     — Quy Hóa
     — Cảnh Dương
     — Thiên Mụ
     — Gian Thảo
     — Hoàng Lạp
     — Tam Lịch
     — Bả Canh
     — Tân Thạnh
     Ba kho Tân Thạnh, Cảnh Dương, Thiên Mụ, làm chỗ cho dinh Trấn Biên trưng thâu tô  thuế để nạp tải về Kinh, đều ở phía bắc Hậu giang tức là sông Cát, phía đông cù lao Phố.
     Kho Tam Lạch (Tam Lịch) ở vùng Mỹ Tho (theo cha Jean de Jésus th́ Tam Lạch là nơi  mà quân Đông Sơn khởi sự xưng danh tánh), ta hiểu là vùng Ba Giồng.
    
Kho Bả Canh ở vùng Cao Lănh ngày nay.
     Kho Gian Thảo ở cách phía nam thành Gia Định 4 dặm rưỡi, sau sửa lại gọi là kho Bốn  Trấn.
     Kho Hoàng Lạp ở huyện Phước Long (Biên Ḥa). Phải chăng kho này dùng để thâu
  sáp ong và lâm sản do thợ rừng phía biên giới Việt Miên đóng góp ?
     Kho Quy An và Quy Hóa ở
đâu ? Có nên suy luận là vùng An Hóa ở cửa Đại ngày nay,  lấy hai tiếng sau chót nhập lại ? Nguyễn Khoa Thuyên ghi rằng ở Quy An có hơn 100 thôn,  tên Quy An được nhắc tới theo thứ tự sau Tam Lạch và Tân B́nh. Bả Canh được Nguyễn  Khoa Thuyên ghi lại như là một trại, cùng với hai trại khác là Ba Lai và Rạch Kiến.
     Trên bản đồ, ta thấy có đến 4 kho tập trung ở cù lao Phố và Bến Nghé để thuận đường
  chở chuyên về kinh đô Huế và các tỉnh miền Trung khi chúa Nguyễn c̣n nắm chủ quyền.  Mấy kho kia ở Ba Giồng (Tam Lạch), Cao Lănh (Bả Canh), Qui An có lẽ gần một vàm sông  nhánh của Cửu Long, hoặc Ba Lai, hoặc cửa Đại.
    
Đời vua Hiển Tôn (1691—1725), lập phủ trị ở phía bắc chợ. Năm 1772 lập Trường Đồn  đạo, năm 1779, lấy phần đất nằm giữa trấn Biên, Phiên trấn và Long Hồ đặt làm Trường  Đồn dinh có Lưu thủ, Kư lục và Cai bộ coi việc quân sự, hành chánh, thuế vụ và băi bỏ các  kho trên. Trường Đồn dinh đóng ở giồng Cai Yến (giồng này bắt đầu từ vùng Khánh Hậu  thuộc Tân An ngày nay), rồi lại đổi tên là Trấn Định, đóng ở Tân Hiệp. Hai tiếng Định  Tường chỉ xuất hiện từ năm Gia Long thứ 7 (1808).

    
Vùng Long Hồ : ṇng cốt của Vĩnh Long, An Giang
    
Kiểm soát sông Tiền, sông Hậu là vấn đề mà các chúa Nguyễn quan tâm nhứt, về mặt  quân sự và về canh tác. Muốn dùng binh lên Cao miên, phải cho chiến thuyền đi ngược ḍng  Tiền giang để đến Ba Nam rồi Nam Vang. Tiền giang là sông nhiều nhánh, gần vàm biển  mỗi nhánh khá rộng với bờ đất phù sa cao ráo, thuận lợi để trồng đậu, trồng khoai, đặc biệt  là trồng dâu nuôi tằm, trồng cau, trồng trầu, trồng dừa, các loại cây ăn trái. Đất c̣n lại là ruộng tốt. Đây là cuộc đất lư tưởng “sông sâu nước chảy”. Thoạt tiên, hai tiếng Long Hồ  phát xuất từ tả ngạn Tiền giang. Năm 1732 chúa Nguyễn sai quan khổn súy Gia Định chia phần đất của Gia Định (sau này là của Định Tường) lập châu Định Viễn, dựng dinh Long  Hồ tại Cái Bè, gọi là Cái Bè dinh.
    
Năm 1756 và 1757, cuộc Nam tiến hoàn tất về mặt chính trị. Trước mặt dinh Cái Bè —  ở vàm rạch Cái Bè ph́ nhiêu, bên cạnh rạch Cái Thia nhiều phù sa — là những cù lao lớn  giữa các sông Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, chưa kể đến mấy cù lao tuy nhỏ nhưng quan trọng ở giữa Tiền giang. Bên kia Tiền giang là nơi tập trung nhiều sốc Miên, vùng Trà Vinh.  Có thể là trước khi sáp nhập vào lănh thổ Việt Nam, lưu dân đă đến làm ăn rải rác nhưng  cuộc khẩn hoang được xúc tiến quy mô hơn từ khi trở thành lănh thổ Việt Nam, danh chánh  ngôn thuận. Hai địa danh cù lao Bảo, cù lao Minh xuất hiện sau này, xứng danh là trái châu của Cửu Long.
     Phía cù
lao Bảo có tám giồng, phía cù lao Minh có 11 giồng. Đặc điểm của những giồng  này là chịu ảnh hưởng nước lớn nước ṛng do thủy triều, nhưng không bao giờ bị ngập vào  mùa lụt của sông Cửu Long.
     Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du xin dời dinh Long Hồ từ Cái Bè qua đất Tầm  Bào, tức là vùng chợ Vĩnh Long ngày nay, đồng thời đặt những đồn ở Tây Ninh, Hồng Ngự,  cù lao Giêng, Sa Đéc, Châu Đốc.
     Dinh Long Hồ kiểm soát Tiền giang và hai bên bờ Hậu giang. Đồng thời dinh này cũng  bao trùm luôn vùng biên Vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo (Cà Mau), Kiên Giang đạo  (Rạch Giá). Riêng về vùng Ba Thắc (Sóc Trăng) nơi người Miên sống quá tập trung th́ việc
cai trị vẫn thuộc về họ.
    
Dụng ư của chúa Nguyễn là dùng nơi này để khống chế Cao Miên. Sông Cửu Long là biên giới Việt Nam ở miền ba biên giới.
     Năm 1779, chúa Nguyễn duyệt xem bản đồ, nâng vùng Mỹ Tho làm dinh (Tường Đồn
  dinh) đồng thời cũng thử bày một chuyến phiêu lưu : dời dinh Long Hồ đến cù lao Hoằng  Trấn, ở giữa Hậu giang. “Đương thời có người bàn rằng địa thế Hậu giang rộng lớn, rừng  núi mù mịt, vùng Ba Thắc, Cần Thơ, Trà Vinh có nhiều sốc của Cao Miên mà cách xa dinh  Long Hồ, nên đặt một đai trấn để khống chế, mộ dân đến khai khẩn ruộng đất”. Dinh Long  Hồ dời đến Hoằng Trấn năm trước là năm sau (1780) lại lui về chỗ cũ (tức là vùng chợ Vĩnh  Long), đổi tên là Vĩnh Trấn dinh.
     Kinh nghiệm cho thấy rằng con đường từ Hậu giang lên Cao Miên quá xa, không
  thuận bằng đường Tiền giang, phía Vĩnh Long. Cù lao Hoằng Trấn ở Hậu giang được khai  thác sớm, c̣n mang tên là cù lao Tân Dinh, gợi lại h́nh ảnh của dinh Long Hồ ngày trước.  Giữa Tiền giang và Hậu giang, có s≥n nhiều sông rạch lớn nhỏ liền lạc nhau lại c̣n nhiều  giồng đất tốt, quanh năm nước ngọt, mùa nước lụt không ngập (vùng Sa Đéc). Những cù lao  trên sông Tiền, sông Hậu đều đáng giá, nhiều cù lao vừa rộng vừa dài, đất biền chung  quanh cù lao rất màu mỡ, năng xuất cao : cù lao Dung, cù lao Trâu, cù lao Dài, cù lao  Giêng, cù lao Mây, cồn B́nh Thủy, cù lao Năng Gù. So với sông Vũng Gù (Vàm Cỏ Tây) luôn  cả sông Đồng Nai th́ Tiền giang và Hậu giang đất tốt hơn, khí hậu khá lành. Dân cư c̣n  thưa thớt, đ̣i hỏi nhiều đợt lưu dân đến khai thác. Duy có điều bất lợi là xa Gia Định, người  Miên sống tập trung tại nhiều vùng lớn rộng có thể khuấy rối an ninh ; vùng Thất Sơn chưa  thám hiểm được, lại c̣n cánh đồng bát ngát (Rạch Giá, Cần Thơ) nằm giữa hữu ngạn Hậu  giang và vịnh Xiêm la. Nước Xiêm đang hồi hăng sức, có thể đột nhập miền biên giới — một  biên giới chưa rơ rệt, khó định cư v́ nước ngập quá sâu, không thích hợp với lối cày cấy  đương thời (đồng Châu Đốc, Láng Linh, Tháp Mười).
     Những chuyến đi về “tẩu quốc và phục quốc” của vua Gia Long được thực hiện dễ dàng là nhờ ngài am hiểu địa thế của vùng đất rộng ấy hơn quân Tây Sơn. Nào là sông Mân Thít  nối ngang Ba Kè tới vùng Trà Ôn, nơi nhiều người Miên sống tập trung. Nào vùng Nước
  Xoáy tấn thối dễ dàng, lại c̣n vùng Cần Thơ với rạch Cần Thơ ăn thông qua sông Cái Bè rồi sông Cái Lớn với vùng U Minh. Sông Gành Hào, sông Ông Đốc ở tận mũi Cà Mau. Thời  thạnh trị của họ Mạc quá phù du v́ không đủ dân và không đủ quân để kiểm soát một vùng  Hậu giang quá rộng mà trên danh nghĩa th́ họ Mạc được chúa Nguyễn giao cho cai quản.

    
Sơ kết thành quả :
    
Thương cảng Sài G̣n thành h́nh và phát triển
    
Người Hoa kiều nắm nội và ngoại thương ngay từ buổi đầu, họ lại có thế lực quân sự. ở  cù lao Phố, Trần Thắng Tài sống thuận ḥa với chúa Nguyễn, năm 1700, ông cùng quân sĩ tùy tùng tham gia trận đánh quyết định, chiến thắng tại Nam Vang. Con Trần Thắng Tài là Trần Đại Định cưới con gái Mạc Cửu, tức là em gái của Mạc Thiên Tứ (vợ Mạc Cửu là người Việt Nam, quê ở Đồng Môn, thuộc Biên Ḥa), về sau Trần Đại Định v́ bị hiểu lầm nên buồn  tủi, chết trong ngục. Dương Ngạn Địch chết v́ phó tướng là Hoàng Tấn làm phản, Hoàng  Tấn lại bị quân sĩ Việt Nam trừng trị. Họ Mạc ở Hà Tiên được chúa Nguyễn cho hưởng quy  chế tự trị. Ḍng họ này trung thành với chúa Nguyễn nhưng lại bị Xiêm Vương là Phi Nhă Tân quấy rối (ông vua Xiêm này gốc người Triều Châu). Một viên tướng Triều Châu tên là Trần Liên đă đem binh qua đốt phá Hà Tiên, quyết sanh tử với Mạc Thiên Tử. Hai tên cướp  Triều Châu khác là Hoắc Nhiên và Trần Thái cũng gây khá nhiều rắc rối cho họ Mạc ở Hà  Tiên.
     Có người cho rằng người Trung Hoa hải ngoài thường tự tôn, ôm ấp giấc mơ làm bá
  chủ một cơi. Nếu có thật vậy, th́ những giấc mơ ấy không bao giờ thực hiện được ở đất Đồng  Nai, ít ra là về mặt chánh trị và quân sự. Chỉ một lần hồi năm 1747 khi có thương gia người  Phước Kiến là Lư Văn Quang đến cư ngụ tại cù lao Phố, nhân thấy việc pḥng bị lơ là nên  cấu kết với hơn 300 bè đảng, xưng là đại vương. Cuộc khởi loạn bị dập tắt, Lư Văn Quang và  đồng bọn bị áp giải về Phước Kiến (bấy giờ, ta ngại rắc rối về ngoại giao với nhà Thanh).
     Năm 1772, chúa Nguyễn suy yếu, Trương Phúc Loan lộng quyền nhưng quân sĩ Đàng Trong vẫn c̣n mạnh, 10000 quân ở dinh B́nh Khương, B́nh Thuận cùng 300 chiến thuyền
  hợp với quân ở dinh Long Hồ kéo lên Cao Miên đánh thắng một trận lớn để cứu văn t́nh thế nguy ngập ở Hà Tiên, cứu Mạc Thiên Tứ khi quân Xiêm chiếm cứ thành này ;
     T́nh thế ở Đàng Trong trở nên bi đát khi anh em Tây Sơn khởi nghĩa. Tháng hai năm  1776, Nguyễn Lữ léo vào đất Gia Định. Tháng năm năm ấy, Nguyễn Lữ rút lui sau khi cướp  lấy lúa kho, chở hơn 200 thuyền chạy về Quy Nhơn. Con số này giúp chúng ta thấy phần  nào thành quả của việc khẩn hoang ở Đồng Nai và Cửu Long.
     Một viên cai bộ ở phủ Gia Định là Hiến đức hầu Nguyễn Khoa Thuyên báo cáo lại
  những con số cụ thể về lực lượng quân sự và t́nh h́nh chánh trị, kinh tế. Sau đây là vài chi  tiết về xứ Đồng Nai :
     — Huyện Phước Long (vùng Trấn Biên) có hơn 200 thôn, dân số 8000 người, lệ thuế ruộng hơn 2000 hộc.
     Các thuộc Cảnh Dương, Thiên Mụ, Hoàng Lạp có phỏng 40 thôn nậu, dân số 1000  người phải nạp thuế.
    
Thuộc Ô Tất gồm phỏng 30 nậu, dân số ước 500.
     — Huyện Tân B́nh có hơn 350 thôn, số dân hơn 15000 dinh, thuế ruộng hơn 3000 hộc.
     Quy An có hơn 100 thôn, số dân 3000 đinh, ruộng hơn 5000 thửa.
     Tam Lạch có hơn 100 thôn, số dân 4000 đinh, ruộng hơn 5000 thửa.
     Các trại Bả Canh, Ba Lai, Rạch Kiến, có 100 thôn, dân 4000 đinh, ruộng hơn 4000  thửa.
     — Châu Định Viễn có lối 350 thôn, dân 7000 đinh, ruộng 7000 thửa.
     Nh́n con số trên, ta thấy Cửu Khố (c̣n gọi 9 trường biệt nạp), dành cho vùng đất ở xa
  Trấn Biên và Phiên Trấn (sau này là Trấn Định, trở thành Mỹ Tho), gồm các thuộc :
     Cảnh Dương, Thiên Mụ, Hoàng Lạp, Ô Tất (đóng thuế về Phước Long).
     Tam Lạch, Quy An, Bả Canh, Ba Lai, Rạch Kiến (đóng thuế về huyện Tân B́nh, vùng
  Sài G̣n).
    
Tài liệu của Nguyễn Khoa Thuyên cũng nêu rơ quân số, các nơi trú quân của chúa Nguyễn. Nhiều thủ ngự đặt ở Tiền giang và Hậu giang gần vàm rạch mà ta tin rằng ở vùng  phụ cận có thôn xóm khá sung túc : vàm Ông Chưởng, Tân Châu, chợ Thủ, Sa Đéc, Vũng  Liêm, Láng Thé, Lấp Ṿ, Trà Ôn, Cần Chung (Cần Chong nay là Tiểu Cần), cù lao Tân  Dinh, Bắc Trăng (thuộc Trà Vinh).
    
Thành tích này khá lớn lao : những vùng đất phù sa ven sông rạch, những cù lao  thuận lợi cho việc canh tác cổ truyền (ruộng cày, mỗi năm một mùa gặt) đều có người chú ư đến, không bỏ sót. Đồng bằng Cửu Long hơn đồng bằng Đồng Nai rơ rệt về mặt canh tác, sản xuất lúa gạo, với nhiều triển vọng tươi sáng hơn.
     Trước 1776, thương cảng lớn nhất của miền Nam là cù lao Phố.
     Năm 1776 và 1777 quân Tây Sơn tràn vào Gia Định, đánh cù lao Phố “chiếm dỡ lấy  pḥng ốc, gạch đá, tài vật chở về Quy Nhơn”.
     Nông Nại Đại Phố tức là thương cảng cù lao Phố suy sụp luôn, thương gia Hoa kiều
  bèn kéo nhau xuống vùng Chợ Lớn ngày nay để lập chợ Sài G̣n, sát với chợ Tân Kiểng  thành h́nh từ trước 1770.
     Thương cảng Sài G̣n (nên hiểu là Chợ Lớn ngày nay) thành h́nh và phát triển nhanh
  từ năm 1778. “Từ khi Tây Sơn nổi lên, quan quân hội cả ở trấn Phiên An, thuyền buôn cũng  dời đậu ở sông Tân B́nh (sông Sài G̣n)”. Nhưng 4 năm sau, năm 1782, Nguyễn Nhạc tới 18  thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm bại, hộ giá Ngạn của Tây Sơn tử trận. Nhạc nhận  ra bọn phục kích là đạo binh Ḥa Nghĩa gồm nhiều người Tàu theo giúp Nguyễn ánh. “Nhạc  bèn giận lây, phàm người Tàu không kể mới cũ đều giết cả hơn 10000 người. Từ Bến Nghé  đến sông Sài G̣n, tử thi quăng bỏ xuống sông làm nước không chảy được nữa. Cách 2, 3  tháng người ta không dám ăn cá tôm dưới sông. C̣n như sô, lụa, chè, thuốc, hương, giấy,  nhất thiết các đồ Tàu mà nhà ai đă dùng cũng đều đem quăng xuống sông, chẳng ai dám  lấy. Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 quan tiền,  c̣n các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở”.
     Ngoài việc trả thù riêng người Tàu, Nguyễn Nhạc c̣n có dụng tâm tiêu diệt đầu năo  kinh tế của miền Nam, nơi chúa Nguyễn nắm được nhân tâm từ lâu.
     Suốt thời gian tẩu quốc và phục quốc, Sài G̣n được xem là kinh đô của Nguyễn ánh
  (1779—1801).
     Sài G̣n được ưu thế là gần vùng Mỹ Tho và Long Hồ. Việc chuyên chở lúa gạo và sản  phẩm từ Tiền giang tuy khó khăn nhưng lúc bấy giờ kinh rạch vẫn tương đối thuận lợi cho  loại ghe có sức trọng tải nhẹ. Nh́n trên bản đồ, ta thấy sông rạch chằng chịt ; vào mùa mưa  nước sông tràn đầy, nhưng mùa nắng th́ nhiều khúc không lưu thông được, hoặc lưu thông  khó khăn phải sang qua ghe nhỏ, kéo bằng sức người hoặc sức trâu, sông rạch lại quanh co,  không đủ nhân công để vét. Công tŕnh đào kinh khởi đầu với sáng kiến của Nguyễn Cửu  Vân để cố gắng nối liền sông Vũ Gù (Vàm Cỏ Tây) qua sông Mỹ Tho tức là Vàm Cỏ Tây qua  Tiền giang, sau lại đào sâu thêm. Tuy nhiên, v́ có giáp nước khiến phù sa hai đầu dồn vào
  nên bị cạn, thuyền to phải chờ khi nước lớn mới qua lại được. Đă có tạm đường thông thương  từ Mỹ Tho qua Vũng Gù. Vũng Gù thông qua Vàm Cỏ Đông đến Bến Lức, theo đường nước  đến Ba Cụm rồi theo sông B́nh Điền đến Chợ Lớn. Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm (con của  Nguyễn Cửu Vân) đào kinh Ruột Ngựa, nối liền Rạch Cát đến kinh Ḷ Gốm mà trước kia  ghe thuyền không qua lại được, chỉ có “một đường nước đọng móng trâu”. Phía G̣ Công,  Cần Giuộc cũng có đường thủy lên Rạch Cát. Phía Hậu giang, khi tranh chấp bằng quân sự với Tây Sơn, Nguyễn ánh vẫn tấn thối theo đường sông từ Sài G̣n Gia Định đến tận Sa Đéc, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá.
     Dời đến Sài G̣n th́ thể thức phân phối và tích trữ hàng hóa không được thuận lợi như lúc ở cù lao
Phố : “Khi thuyền cặp bến, không có chủ lớn bao trữ nên phải gánh đến các chợ  bán lẻ linh tinh, kịp khi muốn mua thổ hóa đem về, th́ đi t́m đông hỏi tây rất nhọc sức. Lại  có bọn thổ côn giả dạng làm người giàu có nói dối, mua xong rồi t́m nơi trốn tránh, nếu mất  số vốn một ít th́ c̣n gắng chịu mà về, thảng hoặc mất vốn quá nhiều th́ phải cầm ghe lấy  tiền ở đến mùa đông để truy tầm bọn ấy, làm cho kẻ viễn thương ngày càng cực khổ”.
     Tệ đoan xảy ra v́ địa bàn hoạt động của Sài G̣n rộng hơn cù lao Phố, nhưng chỉ là lúc
  giao thời. Về sau, cũng chính thương gia Huê kiều đứng ra tổ chức hệ thống mua bán hoàn hảo hơn.
     ở vàm Hậu giang, từ lâu người Miên sống tập trung tại vùng Ba Thắc (Sóc Trăng) trên  đất giồng cao ráo, làm ruộng khéo léo, gạo nổi tiếng là ngon. Thay v́ chở lên Sài G̣n,
  thương gia địa phương đứng ra chịu mối với các ghe buôn từ nước ngoài đến. Một thương  cảng thành h́nh từ xưa, phỏng đoán là ở vùng Băi Xàu (Mỹ Xuyên ngày nay) nơi sông Ba Xuyên ăn thông ra Hậu giang. Theo nhựt kư của cố đạo Levavasseur vào năm 1768, th́ thương cảng này mang tên là Bassac thành lập ở mé sông, nơi đất thấp với nhà lợp lá. ở đây  dùng tiền quan (quan 600 đồng của Việt Nam) ; một đồng bạc Con ó trị giá 5 quan tức là 3000 đồng. Chợ bán gạo, nhiều loại trái cây, rau, gà vịt, heo. Phải chờ nước lớn ghe thuyền  mới vào được. Thuyền chủ toàn là Trung Hoa, dân ở chợ đa số là người Trung Hoa, quan cai trị là người Cao Miên. Thuyền buôn đều của người Trung Hoa, đậu san sát từ 100 đến 150  chiếc để mua gạo và mua đường. Không hiểu họ đem tới đây bán những món ǵ.
     Nên nhắc đến thương cảng Hà Tiên mà các thương gia ngoại quốc thường đề cập tới, được phồn thịnh một thời nhờ xuất cảng sản phẩm của Cao Miên phần lớn, khi Mạc Cửu và Mạc Thiên Tử c̣n hưng thời.

    
Việc tổng động viên năm 1789
     Cuộc tranh chấp bằng vơ lực giữa Tây Sơn và Nguyễn ánh làm nguy hại cho nông
  nghiệp. Nói chung th́ quân Tây Sơn không thâu phục được nhân tâm, trừ một trường hợp là  cuộc chiến thắng quân Xiêm ở rạch Gầm, Xoài Hột vào năm 1874. Quân Xiêm do hai tướng  Chiêu Tăng và Chiêu Sương với lực lượng hùng hậu kéo đến nhưng Trịnh Hoài Đức, người  viết sử thiên vị rơ rệt về phe Nguyễn ánh cũng đă thú nhận : “Binh Tiêm đến đâu đều cướp  bóc khó bề hạn chế nên vua (Nguyễn ánh) lấy làm lo. Đă vậy mà binh Tiêm lại kiêu hănh,  ḷng dân bất phục”. trấn Vĩnh Thanh, trong lúc Tây Sơn vào chiếm cứ th́ dân chúng “đều  chôn cất của cải không dám phơi bày ra, cho nên bọn cường đạo không cướp lấy được vật ǵ”.  “Chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chàm, đ́nh cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông  biển đến đậu đông đúc làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm  cứ, đổi làm chiến trường, đốt phá gần hết, từ năm 1788 trở lại đây, người ta lần trở về, tuy  nói trù mật nhưng đối với lúc xưa chưa được phân nửa”.
     Chánh sách của Tây Sơn ở miền Nam là phá căn cứ địa, chận các đường thủy từ Sài  G̣n, Cần Giờ đến vùng vàm sông Cửu Long, chận các vị trí chiến lược nối Tiền giang qua  Hậu giang, Hậu giang đến vịnh Xiêm La, từ vùng Long Xuyên (Cà Mau) ra Phú Quốc, qua Xiêm. Thủy quân của Tây Sơn đồn trú hoặc tuần tiểu tới lui vùng Băng Cung, Ba Thắc, Phú  Quốc, vàm sông Mân Thít, Trà Ôn, Sa Đéc, sông Ba Lai. Khi chiếm đóng, chính sách kinh tế và việc tổ chức hành chính thay đổi như thế
nào ? Nguyễn Huệ chịu trách nhiệm từ Huế ra Bắc phần. Nguyễn Lữ, pḥ mă Trương Văn Đa, lưu thủ Hóa ở đất Gia Định khong biểu  dương được tài năng ǵ lạ ngoài những hàng động quân sự.
     Quân Tây Sơn bị cô lập ở đất Gia Định v́ những lư do sau đây :
     — Dân khẩn hoang mang ơn các chúa Nguyễn, họ được khá giả hơn lúc ở miền Trung,  đất tốt c̣n nhiều, chưa cần một chánh sách điền địa mới, hoặc một sự thay trào đổi chúa.
     — Quân Tây Sơn không thâu phục được người Huê kiều (đốt chợ cù lao Phố, đốt chợ Sài
  G̣n, Chợ Lớn, phá chợ Mỹ Tho), là hậu thuẫn kinh tế cho Nguyễn ánh.
     — Người Cao Miên ở Trà Ôn, người Đồ Bà (Chà Châu giang) đều có cảm t́nh và tích cực  ủng hộ Nguyễn ánh, nhờ đường lối chính trị mềm dẽo.
Lúc bấy giờ quân Tây Sơn nặng lo những vấn đề ở Bắc hà (cựu thần nhà Lê) và c̣n lo đối phó với quân nhà Thanh. Quân Tây  Sơn đánh giá quá thấp sức chịu đựng của Nguyễn ánh, nhứt là chuyện Nguyễn ánh cầu viện với nước Pháp. Pháp quốc lúc bấy giờ đang nuôi nhiều tham vọng, việc tổ chức quân đội  của Pháp đạt kỹ thuật cao, với hải quân mạnh và vơ khí tốt. Hành động của Bá Đa Lộc tuy phiêu lưu nhưng gây nhiều hậu quả trầm trọng. Tháng 9 năm 1788, chiến thuyền và sĩ  quan Pháp đến trong khi Nguyễn Huệ lo ứng phó với Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long.
     Tháng 8 năm 1788, Nguyễn ánh thâu phục thành Gia Định. Tại Gia Định năm ấy lập  ra kho Bốn Trấn làm kho chung cho cả bốn trấn Phiên An, Biên Ḥa, Vĩnh Thanh và Định  Tường để thâu trữ thuế khóa, chi cấp bổng hướng. Tháng sáu năm 1789, Nguyễn ánh đưa
  ra chánh sách rơ rệt, lấy việc tăng gia sản xuất làm trọng, đặt ra các điền toán gồm 12  người (trong đó có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Hoàng Minh Khánh)  đi khắp bốn dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, Trấn Định để đốc xuất dân chăm làm  việc ruộng. Ai không làm ruộng phải đi lính. Ai làm ruộng đất tốt được 100 thúng lúa, hoặc làm ruộng đất xấu được 70 thúng lúa trở lên th́ được tưởng thưởng, nếu là phủ binh (binh  lính phục vụ tại các công sở) được miễn một năm khỏi làm việc quan (làm xâu). Những  người dân lậu (không vô sổ bộ) có thể làm ruộng dưới quyền chăm sóc của các quan điền  toán, xem như là lính, nếu thiếu vốn th́ được vay trước, sau sẽ trả.
     Vào tháng 10 năm 1890, ngài đặt thêm sở Đồn Điền nhằm khuyến khích quân sĩ tại
  ngũ tích cực cày cấy, bấy lâu v́ chiến tranh nhiều vùng đất phải bỏ hoang. Binh sĩ thuộc  dinh Trung quân và quân các vệ thuyền đến khẩn ruộng tại Tháo Mộc Câu (sông Vàm Cỏ)  gọi là trại Đồn Điền, nhà nước cấp ngưu canh điền khí và lúa giống, đậu, bắp giống, hễ cắt  hái xong rồi đem nạp vào kho, chánh cơ Nguyễn B́nh coi việc ấy.
     Các quan địa phương phải lập đội đồn điền, mỗi năm một người trong đồn điền nạp 6 hộc lúa, ai mộ được 10 người trở lên cho làm quản trại, trừ tên trong sổ làng (khỏi đi lính).
     Về mặt quân sự, ngài sai lựa quân chiến tâm, tức là quân tinh nhuệ, hết ḷng đánh
  giặc, tập luyện kỹ càng được cấp lương và tiền rất hậu.
    
Để tích trữ thêm lúa gạo pḥng khi hành quân tái chiếm các thành ở miền Trung, ngài đặt ra lúa thị túc, thị nạp, tức là thứ thuế phụ thu (ngoài thuế điền).
     — Năm 1792, mỗi người nộp thuế thị túc từ 1 đến 5 phương.
     — Năm 1799, vùng B́nh Định, Phú Yên mỗi mẫu ruộng nộp 17 thăng gạo.
     — Năm 1800 ở Gia Định, mỗi người nạp 2 phương, người già tàn tật nộp phân nửa. 
Ruộng một mẫu nộp một phương gạo; một phương gạo bấy giờ trị giá 7 tiền 30 đồng. Những  năm dùng binh, số thuế và số thị túc phụ thu vẫn không đủ để chi tiêu, nhà nước thu trước  thuế năm tới. Về thuế ruộng, mỗi năm nhà vua thâu hai kỳ.
     Nhà nước giữ độc quyền mua những hóa hạng liên hệ tới nhu cầu quân sự như kẽm,
  sắt, đồ đồng, diêm, lưu hoàng. Năm 1791, đặt thêm lệ về việc khẩn hoang : sau khi khẩn, 3 năm mới thâu thuế, ai muốn khẩn th́ nộp đơn trong thời hạn ngắn là 20 ngày, quá thời gian ấy, đất hoang sẽ giao cho quân sĩ cày cấy, dân không được giành nữa.
    
Lúa gạo đất Gia Định tích cực góp phần vào việc phản công của Nguyễn ánh. năm  1795 và 1796, chở tiền gạo ở Gia Định ra trữ tại thành Diên Khánh. Năm 1799 lúc ngài ra Quy Nhơn, quân lính lại chở thêm quân lương, “chẳng hề thiếu thốn”. Năm 1802, sử chép là Gia Định đói lắm, ngài sai quan trấn phát gạo kho cho dân mượn, cùng ra lịnh giảm thuế ruộng cho tỉnh Gia Định. Phải chăng v́ lúa gạo dùng vào việc quân quá nhiều ?
     Tháng 2/1790, Nguyễn ánh cho xây thành Sài G̣n,
theo h́nh bát quái (c̣n có tên là Quy Thành) kiểu thành Vauban của Pháp (do Olivier de Puymanel vẽ kiểu và coi xây cất).  Đây là Gia Định kinh, Nguyễn ánh xem như kinh đô của ḿnh, với thái độ tự tin. Từ thành  này có đắp quan lộ lên Biên Ḥa, và quan lộ xuống Trấn Định (Mỹ Tho) đến Cai Lậy, đường  rộng 6 tầm, hai bên đường có trồng cây mù u và cây mít là thứ cây thổ nghi.
    
Nguyễn ánh tự tin là phải. Bấy giờ lúa gạo Gia Định có nhiều, quân sĩ đang thừa thắng, một số sĩ quan Pháp lại trực tiếp giúp đỡ. Ngài ra lịnh tấn công Quy Nhơn lần thứ  nhất (1790). Nguyễn Huệ băng hà, lại có cuộc tấn công lần thứ hai, lần thứ ba để rồi năm  1801, đến Huế.
     Về sau, năm 1814, vua Gia Long c̣n nhắc
nhở : “Gia Định là nơi trung hưng, ngày xưa  chỉ có một đám đất và một toán quân mà khôi phục đất cũ”. Nên nói thêm rằng đó là “đám  đất” tuy diện tích nhỏ hẹp nhưng tốt, gồm đất giồng và đất cù lao của Đồng Nai và Cửu  Long, và toán quân không quá đông đảo nhưng gồm toàn những nông phu đă chịu cực khẩn  hoang, đến khi đi lính cầm gươm rồi mà c̣n phải cày cấy, phải đóng thuế. Đó là h́nh ảnh  của Vơ Tánh với 10000 quân ở vựa lúa G̣ Công xin theo chân ngài.
     Nguyễn ánh vĩnh viễn rời đất Đồng Nai để về Huế đô, nhưng đất Đồng Nai, Gia Định
  vẫn c̣n giữ vai tṛ cũ : vai tṛ vựa lúa, vai tṛ tiền đồn của nước Việt. Vua Cao Miên và vua  Xiêm càng thèm thuồng vùng đất ph́ nhiêu này.

Trang   [1]   2   3   4   5   6   7   8   9  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved