www.trunghochoangdieubaxuyen.net - Thân Chúc Quư Thầy Cô và Đồng Môn Hoàng Diệu một năm mới luôn được Dồi Dào Sức Khỏe và Tràn Đầy Hạnh Phúc - www.trunghochoangdieubaxuyen.net






Dương Lịch – Âm Lịch Click on the date for details

Bí Ẩn Về Tiền Kiếp Hậu Kiếp

Đoàn Văn Thông

     Lời Mở Đầu
     Khi nói đến Nhân và Quả tức là bao hàm ư nghĩa rộng lớn của Luân hồi. Luân hồi là sự chuyển biến xoay vần trở lại. Con người chết đi không phải là hoàn toàn mất hẳn. Thân xác sẽ tan ră theo cát bụi nhưng c̣n một phần vô cùng linh hoạt và vẫn hiện hữu đó là linh hồn. Mọi sự, vật trong vũ trụ, thiên nhiên đều chịu sự tác động của luân hồi, nhân quả. Như nước chẳng hạn, trong thiên nhiên, nuớc bốc thành hơi, hơi nước đọng lại thành mây rơi xuống thành mưa, mưa chảy tràn ra đất, qua sông suối, hồ và chảy ra biển. Rồi hơi nước lại bốc lên cao gặp lạnh ngưng tụ thành mây rồi thành mưa, cứ thế mà Nước luân hồi chuyển tiếp măi chẳng bao giờ mất cả. Tương tự như thế: đất gió, lửa cây cối, thú vật, con người, tất cả đều chuyển biến theo luật Luân hồi nhân quả. Trong vũ trụ cũng vậy, sự xuất hiện tuần tự của ngày và đêm, sự h́nh thành và hủy diệt để rồi phát sinh mặt trời khác. Trong vũ trụ có vô số mặt trời, chúng cũng đều phát sinh, phát triển và hủy diệt. Quả đất chúng ta đang ở cũng cùng số phận ấy để rồi quả đất khác lại được sinh ra. Cả vũ trụ đều chịu chung quy luật ấy. Những ǵ đă có sinh th́ phải có tử nhưng rơ ràng qua nhận thức của ngũ quan con người th́ khi đă tử tức là không c̣n ǵ nữa. Nhưng thực tế lúc tử lại là lúc khởi đầu của sinh. Chỉ có cái ǵ không sinh ra mới gọi là không bị hủy diệt mà thôi. V́ thế mới có câu Hữu sinh, hữu tử, hữu luân hồi.
    
Vô sinh, vô tử, vô luân hồi.
    
Luật nhân quả không phải là luật riêng có tính cách tôn giáo. Trong vũ trụ, thiên nhiên, mọi sự vật đều chịu luật nhân quả, đó là luật chung của tự nhiên. Nhân quả luôn luôn có sự tương quan mật thiết với nhau và ngay trong nhân đă có quả và ngay trong quả đă có nhân. V́ thế từ nhân đến quả và từ quả đến nhân phải có sự chuyển hóa ấy liên quan với nhau rất chặt chẽ, chính sự tương quan chuyển hóa liên tục ấy mà sự tuần hoàn của trời đất, vũ trũ được điều ḥa bằng không sẽ tạo sự bất hợp, rối loạn.
    
Hiện tượng nhân quả thường phải qua một thời gian chuyển hóa và thời gian ấy dài, ngắn c̣n tùy ở sự kiện, sự vật, sự tác động. v.v...
    
Vi trùng đột nhập cơ thể phải qua một thời gian mới tàn hại được cơ thể, sự chuyển hóa của bào thai trong bụng người mẹ phải qua một thời gian, sự chuyển hóa từ tuổi trẻ đến tuổi già cũng phải trải qua một thời gian.v.v... Đôi khi từ nhân đến quả có thể xảy ra rất nhanh hay rất chậm chạp như sự tác động của hai luồng điện âm dương phát sinh ḍng điện, sức nóng hay xẹt ra lửa hoặc phát ra ánh sáng.v.v... hoặc hiện tượng tạo sơn, nổi núi, hiện tượng xâm thực trong thiên nhên...
     Hiện tượng nhân quả thấy rơ trong thiên nhiên:
     - Hiện tượng địa chất:
     Đây là những hiện tượng xuất hiện chậm chạp như hiện tượng đất bồi, hiện tượng xâm thực, xói ṃn của gió, của nước lên đất đai, núi đồi.
Có khi phải mấy triệu năm mới chuyển biến thấy rơ kết quả từ nhân đến quả như tạo sơn (nổi núi). Sự sồi, sụt của đáy biển, biển rút khỏi lục địa hay biển chiếm lục địa. Đọc các giai đoạn phát sinh sự sống và sự h́nh thành quả đất chúng ta mới thấy nhân và quả liên quan tác động lên nhau qua một thời gian rất dài có khi hàng triệu hay hàng tỷ năm.
     Ngoài ra c̣n có những hiên tược xuất hiện nhanh chóng như gió mạnh gây ra sóng lớn, băo tố, Nguyên nhân (Nhân) tạo ra gió (Quả) là sự chuyển dịch mau lẹ mạnh mẽ của không khí. Gió phát sinh là do không khí ở vùng nào đó bị loăng khiến không khí của vùng kế cận chuyển đến để bù đắp và sự chuyển động lớn của không khí như vậy đă phát sinh ra gió băo... Sất sét phát sinh là do hai luồng điện âm dương từ các đám mây đến gần nhau. Lụt lội phát sinh do mưa nhiều, nước không thoát kịp dâng cao. v.v... Mưa là do hơi nước bốc lên gặp lạnh tạo thành mây rồi thành mưa. v.v...
     - Hiện tượng sinh vật học.
     Các sinh vật từ vi trùng, vi khuẩn, bào tử, nấm mốc vớ`i kích thước vô cùng nhỏ bé đến các loài sâu, kiến, chim chóc, trâu ḅ, voi ngựa và loài người cũng đều chịu luật Nhân quả chi phối. Nhân và quả ấy luôn luôn tuân
theo một quy luật chặt chẽ đó là nhân nào quả ấy. Từ sinh vật li ti cho đến loài to lớn, loài nào sinh loài đó như voi kết hợp (Nhân) với voi sẽ sinh ra voi con (Quả). Voi con qua một thời gian sẽ lớn lên, khi trưởng thành lại kết hợp với một voi khác (cùng loài) để lại sinh ra voi.
     Ở thực vật cũng vậy từ những loài rất nhỏ phải nh́n qua kính hiển
vi đến những loài to lớn như Thông, Tùng, Bác, Đại Thọ. v.v... cũng đều trải qua các giai đoạn chuyển hóa của Nhân và quả. Hạt bí (Nhân) gieo xuống đất sẽ nẩy mầm, phát triển thành cây Bí (Quả), cây lúa cây táo, cây cà chua cũng vậy loài nào sinh ra loài đó. Khi cây lớn lên lại sinh hoa kết quả tiếp tục.
     Ở đây c̣n thấy rơ thời gian, giai đoạn chuyển biến từ nhân đến quả có khi rất lâu dài tạo thành một ṿng chuyển biến mà các nhà sinh vật học gọi là chu tŕnh và trong mỗi chu tŕnh hóa, thoạt nh́n qua tưởng chừng như phức tạp riêng rẽ khác nhau nhưng thực sự cái chung nhất đều nằm trong cái thành, trụ, hoại, không, sinh, lăo, bệnh tử để rồi chuyển ṿng trở lại theo luật luân hồi, tái sinh.
     Schoperhauer đă viết: "Cái tượng trưng đích thực của thiên nhiên ở muôn nơi và muôn thuở vẫn là cái ṿng tṛn bất diệt.
Cái ṿng tṛn đó là biểu thức của sự xoay vần, trở lại có định kỳ. Đó là h́nh thức phổ biến nhất trong thiên nhiên, một h́nh thức phổ quát mà thiên nhên thể hiện ở mọi sự vật, từ sự chuyển vận của các thiên thể, các hành tinh trong vũ trụ, cho đến sự sống chết của các sinh vật. Chính nhờ sự trở lại này mà duy tŕ được đời sống trường tồn."
     ...
Người và vật có chết đi th́ đó cũng chỉ là hiện tượng bề ngoài v́ bản thể đích thực của chúng vẫn tồn tại suốt thời gian ấy.
    
Đối với người Đông phương, thuyết Luân hồi xuất hiện từ lâu, và trong dân gian luật quả báo luân hồi được xem như là điều tự nhiên. "Làm ác gặp ác", "Ở hiền gặp lành", "Để đức lại cho con". v.v... những câu b́nh thường trong ư tưởng và trên cửa miệng mọi người nhất là những người b́nh dân, dù họ không phải là người theo Phật giáo. Trái lại, đối với người Tây phương, thuyết Luân hồi vẫn c̣n nhiều xa lạ với họ cách đây mấy thế kỷ. Chỉ gần đây, khi những nhà Tâm lư học. Sinh lư học, các nhà khoa học họ bắt đầu đi sâu vào vấn đề nghiên cứu các hiện tượng tái sinh kỳ lạ mà thỉnh thoảng xuất hiện trong cuộc sống th́ vấn đề mới được khơi dậy và từ đó sự t́m hiểu bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn và dĩ nhiên dù muốn dù không, các nhà khoa học cũng phải tiến sâu vào lănh vực nghiên cứu thuyết luân hồi, tái sinh, nghiệp quả... của đạo Phật. Đă từ lâu đối với người Tây phương, hiện tượng tái sinh quả thật là một hiện tượng lạ lùng nếu không muốn nói là kỳ quái và đôi khi được gán cho là chuyện huyền hoặc đầy vẻ mơ hồ mê tín. Đối với tín đồ Ky Tô giáo th́ hiện tượng tái sinh lại càng khó được chấp nhận và được coi như là "một trong những loại tín ngưỡng ngoại đạo."
     Tuy nhiên, mặc cho sự bài bác, chống đối, chỉ trích hiện tượng liên quan đến sự luân hồi, tái sinh vẫn tiếp tục diễn ra khắp nơi và đối với con người, tái sinh vẫn tiếp tục diễn ra khắp nơi và đối với con người, không hiếm những trường hợp tái sinh đă xuất hiện ở các quốc gia: Không riêng ở Ấn Độ mà Việt Nam, Trung Hoa, Thổ Nhĩ Kỳ, Tích Lan, Tây Tạng, Miến Điện, Thái Lan, A Phú Hăn, An, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Ư, Đan Mạch, Ḥa Lan, Liban và ở cả những dân tộc khác như người da đỏ ở Bắc Mỹ châu chẳng hạn. Các hiện tượng xuất hiện ngày càng nhiều là những bằng chứng rơ ràng về sự kiện tái sinh, tiền kiếp và cũng chính những bằng chứng này đă khiến có sự xích lại gần nhau hơn của các triết gia, các học giả, các nhà khoa học mà phần lớn người Tây phương trong vấn đề hợp tác, t́m hiểu, nghiên cứu hiện tượng các hiện tượng liên quan đến tái sinh, luân hồi.
     Chưa bao giờ các nước Tân Phương lại xuất hiện vô số nhà nghiên cứu, đi sâu vào vấn đề tái sinh, luân hồi như hiện nay, cũng như chưa bao giờ đề tài thuộc lănh vực này lại được thảo luận với tính cánh nghiêm túc qua các cuộc hội thảo, diễn thuyết, thuyết tŕnh hoặc qua báo chí, sách vở nhiều như bây giờ. Điều đáng nói là những người hăng
hái, say mê nhất và đi sâu vào lănh vực luân hồi tái sinh lại là những Bác sĩ y khoa mà nổi tiếng phải kể đến Bác sĩ Ian Stevenson (Đại học Virginia), Bác sĩ Bruce Greyson, nữ Bác sĩ Elizabeth Kubler Ross, nữ Bác sĩ Edith Fiore, Bác sĩ R.J.Staver. Bác sĩ R.B.Hout, Bác sĩ Ahdrey Butt, Bác sĩ Raymon Moody, Bác sĩ C.G.Jung. Bác sĩ Schultz, Bác sĩ Wiltse. Bác sĩ A.J.Davis v.v... Nếu kể về các Y Bác sĩ đă tham gia vào việc nghiên cứu hiện tượng tái sinh, luân hồi th́ danh sách nêu ra sẽ rất nhiều và bên cạnh đó c̣n có thêm các nhà khoa học khác tiếp tay như Tiến Sĩ Carl Jung, một Khoa học gia nổi tiếng trên thế giới. Tiến sĩ Rhine, nhà Khoa học đă mạnh dạn tiên phong trong vấn đề nghiên cứu hiện tượng siêu linh, người đă phát triển ngành Siêu tâm lư (Metapsychique hay Parapsychologie). Tiến sĩ Micheal Sabom (người mà trước đó đă bác bỏ hiện tượng tái sinh, cho đó là điêu huyền hoặc) là một nhà khoa học bảo thủ nhất nhưng lại là người đă ủng hộ thuyết tái sinh. Đó là chưa kể các Giáo sư tại các Đại học Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Hà Lan. Trong đó có các giáo sư như Carol Zaleski, Daniel Dennette, Ernst Benz. Giáo sư Tiến sĩ Werner Borin, nữ giáo sư Diane Kemp, giáo sư Crado, Balducci. Giáo sư Tiến sĩ Kenneth Ring v.v.. Ngoài ra c̣n vô số các nhà phân tâm học, Tâm lư học và đặc biệt là những nhà nghiên cứu về thôi miên, trong có Tiến sĩ vật lư nổi tiếng người Pháp là Patrick Drouot đă áp dụng phương pháp thôi miên để đưa con người đi về quá khứ xa xăm của ḿnh. Cái quá khứ vượt khỏi đời người hay gọi là Tiền kiếp. Nữ Bác sĩ Edith Fiore cũng là người đă dùng thôi miên để giúp bệnh nhân thấy lại tiền kiếp của ḿnh. Cuốn sách quy tụ các công tŕnh của bà là cuốn "Bạn đă sống nơi này trước đây" (kiếp trước) (You have been here before) đă làm bà nổi tiếng và đă thôi thúc thêm các nhà khoa học mạnh dạn hơn trong việc tiến sâu vào nghiên cứu vấn đề tái sinh. Đặc biệt hơn nữa là Nữ tiến sĩ Helen Wambach với tác phẩm biên soạn công phu có giá trị viết về vấn đề kiếp trước (life before life) trong đó ghi lại hàng trăm trường hợp lạ lùng có thật về hiện tượng Tái sinh, luân hồi đă xăy ra. Những sự kiện này đă khám phá được nhờ phương pháp thôi miên để đưa con người vào giấc ngủ gọi là giấc ngủ thôi miên và qua giấc ngủ ấy, họ đă thấy lại những ǵ về đời sống ở kiếp trước của họ. Như thế nhờ thuật thôi miên hổ trợ mà tiền kiếp của mỗi con người được hiện ra giống như một cuốn phim chiếu lại. Hiện nay các công tŕnh này đă và đang phát triển mạnh trên khắp thế giới. Nhiều sách vở, tài liệu đề cập đến vấn đề này được rất nhiều nhà nghiên cứu biên soạn như Col Albert de Rochas, Bác sĩ Alexander cannon, Bác sĩ Jonhathan Rodney, Henry Blythe, Bác sĩ Stevenson, Arnoll Bloxom, Morey Berenstein, Johnathan Rodney v.v...
     Trong cuốn Many Mansions của Gina Cerninira, cuốn The next world and the Next hay cuốn Out of the body experiences của Robert Crookall, cuốn Born Again, Again (Tái sinh) của John Van Auken, cuốn Reincarnation (Sự luân hồi, Tái sinh) của Lynn Sparrow và Violet Shelley hay trong In search of the Dead (Nghiên cứu về cái chết) của Jeffrey Iverson... đều nêu lên trường hợp có thật về sự tái sinh. Các tài liệu giá trị và trung thực này đă được xem là những bằng chứng rơ ràng chứng minh sự luân hồi tái sinh là có thật.
Những cuốn sách điển h́nh vừa nêu trên chỉ là một phần, nhỏ trong hàng ngàn cuốn sách tŕnh bày lư giải về những ǵ thuộc tiền kiếp con người. Sách được biên soạn bởi các tác giả có uy tín, phần lớn là những nhà Khoa học, các nhà Sinh lư học, Tâm lư học, các nhân vật nổi tiếng trong giới y khoa, điều đó nói lên được phần nào sự thật đáng lưu tâm của vấn đề từ lâu bị ngộ nhận là mê tín và mơ hồ.
     Tuy nhiên không phải tất cả giới khoa học đều chấp nhận hay lưu tâm đến vấn đề tái sinh, về những ǵ gọi là tiền kiếp và hậu kiếp.
Hiện nay vẫn c̣n nhiều và rất nhiều nhà khoa học (và ngay cả một số không ít những con người b́nh thường có nghĩa không phải họ là những nhà khoa học) không thừa nhận có sự tái sinh hoặc nếu có quan tâm th́ cũng ở trạng thái hoài nghi mà thôi. Điều dễ hiểu chính là nguyên nhân tự nhiên rằng với tinh thần khoa học, khó mà không cho phép con người có thái độ hay nhận thức bất hợp với hiện tượng luân hồi không nằm trong phạm vi của lư trí con người cũng như không thể chứng minh trong pḥng thí nghiệm. Thật vậy, cho đến nay, mặc dầu sự kiện vẫn xảy ra đều đều ở khắp nơi trên thế giới về điều mà rơ ràng sự tái sinh đă được thể hiện. Nhưng cái khó là ở sự nhận thức. V́ làm thế nào để thấy được sự tái sinh và chứng minh một cách rơ ràng. Từ lâu các nhà Khoa học cho rằng con người nếu có được sự tái sinh thể hiện qua các trường hợp được coi là biểu hiện cho sự luân hồi th́ sự thấy hay sự nhận thức ngoại giác quan cả. Mà quả thật con người chỉ có được khả năng nhận thức theo ngũ quan hiện có của ḿnh mà thôi. V́ thế đối với một số lớn nhà Khoa học cũng như những người không tin vào hiện tượng tái sinh th́ nhựng ǵ mà từ lâu con người cho rằng thuộc về hiện tượng luân hồi, tiền kiếp đều là những hiện tượng do tưởng tượng, do sự thêu dệt, trùng ngẫu hoặc đôi khi tạo dựng v́ mục đích nào đó chớ không có thực.
     Trong khi đó, những người đă và đang nghiên cứu, t́m hiểu hiện tượng luân hồi, tái sinh cũng cho rằng: Sự nhận thức của con người về hiện tượng tái sinh quả thật có nhiều trở ngại. Lư do là con người chỉ nhận thức sự kiện qua năm giác quan giới hạn của ḿnh chớ không thể vượt ra khỏi năm giác quan ấy.
     Theo Pierre Lecomte de Noiiy, nhà Bác học nổi tiếng thế giới th́ "Ngay cả những h́nh ảnh mà ta thấy, ta biết hay tự tạo về vũ trụ th́ đôi khi cái vũ trụ ấy chỉ là cái vũ trụ tự tạo của ta qua bộ năo của con người. Những h́nh ảnh có được sẽ bị lệnh lạc đi gấp đôi do hệ thống giác quan của con người tác động vào.
Từ đó sự hiểu biết trở nên chủ quan v́ tùy thuộc vào giác quan và bộ năo. Như thế th́ những ǵ mà khoa học giải đáp cho con người hiểu rơ thường tùy vào cơ cấu của giác quan và bộ năo nên bị cái giới hạn tuyệt đối là dựa vào nhiều định luật thống kê mà không lưu tâm tới những hiện tượng cơ bản cá tính. Điều đó đă cản trở con người phần nào trong việc tiến sâu vào việc khám phá thêm những ǵ thuộc về sự tiến hóa và trật tự của vũ trụ...
     Nếu con người chỉ dựa vào năm giác quan ḿnh để nhận thức sự vật, hiện tượng th́ con người chỉ nhận được những chân lư tương đối mà thôi. Phương pháp của Khoa học chính là phương pháp thực nghiệm v́ dựa vào sự quan sát những hiện tượng cũng như phân tách, diễn dịch. Tuy nhiên khi gặp những hiện tượng có tính cách siêu h́nh khó giải thích v́ phương pháp thực nghiệm không áp dụng được ở lănh vực này th́ siêu h́nh được xem như thoát ra ngoài thực tại và giác quan giới hạn của con người không đủ khả năng để quan sát, nhận thức.
Các nhà khoa học thường có cái tự hào về những ǵ gọi là Khoa học thực nghiệm. Họ chỉ tin vào những ǵ mà họ thấy và biết qua các giác quan của ḿnh, giác quan của con người. V́ thế mà không lạ ǵ khi một bác sĩ giải phẫu nổi tiếng lại gật gù khoái trá tuyên bố rằng: "Tôi chưa bao giờ thấy được linh hồn ở mũi dao mổ của tôi cả". Theo Pierre Lecompte de Noiiy th́ "làm sao mà khi mổ xẻ một đĩa hát, ta lại có thể bắt gặp tiếng hát của Caruso ở đấy được?"
     Con người lỗi lạc Ch.Eug.Guye đă có lần phát biểu như sau: "Con người chỉ có thể thấu hiểu rơ ràng ư nghĩa của hiện tượng vật lư, hóa ngày nào ta biết được mối liên hệ kết hợp nó với hiện tượng Tâm lư và Tâm linh có thể đi đôi với nó ở cơ thể sinh vật" (Nguyễn Hữu Trọng dịch từ Entre savoir et croire của Pierre Lecompte de Noiiy).
     Bao lâu con người c̣n khăng khăng cho rằng sự giải quyết mọi vấn đề phải chứng minh bằng khoa học thực nghiệm th́ trong tự nhiên vẫn c̣n vô số hiện tượng mà các nhà khoa học sẽ không thể chứng minh được và khi đó những hiện tượng ấy lại vẫn c̣n bị cho là vô lư, huyền hoặc, mơ hồ hoặc có tính cách tôn giáo, trừu tượng. Từ những nguyên nhân xa, gần trên mà ta thấy rơ được rằng: Ta không thể t́m cách để đưa vấn đề có tính cách "Huyền bí" như vấn đề Tiền kiếp, Hậu kiếp, vấn đề Tái sinh Luân hồi đi vào khoa học được, v́ cho đến nay, thật sự vấn đề này trước nhất chưa phải là vấn đề mà khoa học chấp nhận dễ dàng v́ có những vấn đề cần được chứng minh nhưng phương pháp khoa học thực nghiệm lại không thể tiến hành trên các hiện tựơng về tái sinh cũng như sự kiện này không thể đưa vào pḥng thí nghiệm, và cũng không thể hiện rơ qua các giác quan có tầm mức giới hạn của con người.
Hơn nữa trên thế giới, không thiếu những con người đưa khoa học lên hàng Tôn giáo. Cái ǵ cũng đều phải là khoa học mới đúng, mới có thật. Ngày xưa hiện tượng thần giao cách cảm hay thôi miên đều bị xem như những tṛ mê tín dị đoan. Ngày nay các nhà Khoa học đă chấp nhận Phân tâm học là một khoa học. Ngày xưa khi nói ảnh hưởng tinh tú lên con người hay toàn bộ sinh vật là điều huyền hoặc, vô lư mơ hồ th́ ngày nay chính xác các nhà khoa học nhất là các nhà Khoa học Nga lại đề cao và gọi nó là Thời học sinh, là Nhịp điệu học sinh. Điều cần nhớ là như nhà khoa học nổi danh Fritjov Carpra đă phát biểu, rằng những hiện tượng mà ta nghe được, thấy được, thường chỉ là những hậu quả chứ không bao giờ là bản thân của những hiện tượng mà ta đang cố công t́m kiếm. Ngày nay con người tự hào đă t́m ra và đi sâu vào thế giới nguyên tử, siêu nguyên tử nhưng thật sự con người chưa hoàn toàn thấy, biết rơ rằng bản thân thế giới nhỏ bé này v́ chúng làm ngoài sự nhận thức của ngũ quan giới hạn của con người. Nhưng dù cho con người có tận dụng đến những máy móc tinh xảo để quan sát sâu xa hơn th́ cái tận cùng sâu thẳm và nguyên nhân sau cùng làm phát sinh chúng cũng khó mà biết rơ hết được. Thật ra, khi đi sâu vào thế giới bên trong của hạt nguyên tử và t́m hiểu cấu trúc của chúng tức là khoa học đă từng bước qua lằn ranh giới của cảm quan con người và lúc đó nếu khoa học vẫn bảo thủ cái khoa học theo ư nghĩ hoàn toàn của ḿnh th́ khó ḷng để tiến sâu hơn nữa vào tận cùng của sự khám phá... Nhưng dù sao, đối với các nhà khoa học, ngay từ thế kỷ 20, cái thế thế giới quan của họ đă bị rung chuyển v́ những khám phá về nguyên tử đă khiến có sự đổi thay lớn về những khái niệm không gian, thời gian, vật chất và cả hiện tượng nhân quả. Và cũng từ đó các nhà khoa học mà phần lớn đều đă có cái nh́n hoàn toàn khác về thế giới, vũ trụ, con người... Ngày xưa, qua vật lư học cổ điển, thói quen suy nghĩ trong đầu óc con người, ngay că những nhà khoa học lỗi lại lúc đó cũng cho rằng không gian rỗng không và vật thể là lại rắn chắc di chuyển trong không gian trống ấy. Ngày nay ư niệm không gian và vật chất kiểu đó đă dần dần bị lỗi thời và mất ư nghĩa. Đối với nguyên tử ngày xưa được xem như là một vật vô cùng nhỏ và cứng chắc, về sau nhờ Rutherford mà phát giác ra rằng nguyên tử là vùng không gian rộng lớn hay một thế giới mà trong đó có hiện diện những hạt rất nhỏ gọi là điện tử xoay quanh một hạt nhân. Ngày xưa nói đến vi trùng gây bệnh không ai tưởng tượng ra nổi vi trùng là ǵ. Đă có biết bao nhà khoa học ngày xưa cho rằng thịt sinh ra gịi, bùn sinh ra giun, sưong mù sinh ra bướm và họ lập ra thuyết Tự nhiên sinh. Rồi khi kính hiển vi ra đời, lúc đó mới thấy rơ vi trùng là có thật và thuyết tự nhiên sinh là cả một sai lầm lớn lao... Do đó những ǵ chưa nắm vững được, chưa rơ được, những ǵ chưa chứng minh ngay được th́ tốt nhất là cần b́nh tâm t́m hiểu, chưa nên vội vàng quả quyết sai hay đúng v́ một ngày nào đó sự thật sẽ là sự thật v́ t́m chân lư và nói đến chân lư là vấn đề không phải dễ dàng nhất là khi con người (dù tài năng đến mấy th́ vẫn phải chịu một giới hạn nào đó trong vấn đề t́m hiểu vũ trụ tự nhiên) muốn đi sâu vào thiên nhiên, vật chất để quyết khám phá t́m hiểu đến tận cùng của sự vật và hiện tượng th́ con người vẫn c̣n khó mà thấy được những "viên gạch cơ bản" (buiding blocks) (theo như nhà khoa học Fritjov Carpa đă nói) riêng biệt mà chỉ thấy phức tạp rắc rối như một mạng lưới liên kết các phần của một cái toàn thể.
     Hiện tượng tái sinh, luân hồi cũng vậy, đó là một hiện tượng vượt ra ngoài phạm
vi của Lư trí và sự Hiểu biết của con người. Mặc dầu trên thế giới đă xảy ra vô số trường hợp nói lên sự thật về hiện tượng này nhưng không ai dám chắc hay khẳng định rằng hiện tượng tái sinh là có thật v́ theo yêu cầu của ư muốn con người ở thời đại hiện nay là phải có sự chứng minh rơ ràng. Ông cũng chỉ phát biểu đại ư rằng các hiện tượng, các trường hợp mà ông sưu tầm, nghiên cứu, t́m hiểu đă góp phần vào việc nghiên cứu và hy vọng trong tương lai, vấn đề Luân hồi tái sinh sẽ trở thành một vấn đề tự nhiên như bao nhiêu vấn đề sẽ trở thành một vấn đề tự nhiên như bao nhiêu vấn đề liên hệ đến cuộc đời cửa con người vậy. Trước đó, tại Hoa Kỳ cũng đă có nhiều nhà nghiên cứu hiện tượng liên quan đến tiền kiếp. Ông Edgar Cayee là một người Hoa Kỳ có khả năng biết được kiếp trước của người nào đó bằng phương thức dùng thôi miên gọi là cuộc soi kiếp. Kết quả ông đă thực hiện ở khoảng 30.000 trường hợp kể rơ rằng về tiền kiếp cho thấy có sự luân hồi tái sinh.
     Riêng đối với Albert Einstein, nhà bác học với thuyết Tương đối nổi tiếng đă phát biểu như sau khi được hỏi về vấn đề Nhân quả: "Càng ngày, con người càng tin vào luật Nhân quả và ngay cả khoa học cũng đang tiến dần vào việc xác nhận sự kiện này là có cơ sở.
Riêng tôi, tôi tin vào luật Nhân Quả".
    
Cuốn sách này chủ ư được viết không ngoài mục đích là tŕnh bày một số vấn đề liên quan đến hiện tượng Nhân Quả, Tái sinh. Hy vọng rằng với mấy trăm trang sách đơn, sơ, độc giả vẫn có được một sự kiện lạ lùng mà ngay cả chính bản thân ḿnh đôi khi cũng gặp phải trong đời và một số thắc mắc từ muôn nơi, muôn thuở về những ǵ liên hệ đến hiện tượng Luân hồi tái sinh cũng sẽ được giải đáp phần nào.
    
Đọc hết quyển sách, chắc hẳn độc giả sẽ hoặc hài ḷng về một số vấn đề đă được nêu ra. Đó chính là điều khó tránh v́ sự lănh hội và phê b́nh là những cái mà độc giả hoàn toàn tự do. Tác giả chỉ hy vọng đóng góp một phần rất nhỏ vào lănh vực nghiên cứu hiện tượng Luân hồi. Tái sinh, một lănh vựv mà ngày nay, không riêng gỉ các nhà tôn giáo mà cả các nhà khoa học cũng đă quan tâm, v́ đó là một dữ kiện cần được nghiên cứu và kiêm nhận.
     Khi viết quyển sách này, tác giả may mắn đă có được khá nhiều thuận lợi về nhiều mặt nhất là vấn đề tài liệu. Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm tạ Thượng toa Thích Trí Hải ở chùa Hải Đức (Nam Giao Huế) đă gởi tặng bức ảnh (chụp năm 1958) Sư Phước Huệ chụp
chung với viên Kỹ sự Frank. M. Balk (người con tiền kiếp) để chứng minh cho câu chuyện lạ lùng có thật ở Việt Nam.
     Ngoài ra tác giả cũng xin cảm tạ Linh mục T.H. Châu, Sư huynh Thanh Đức. Thượng tọa Thích Chánh Lạc, Thượng tọa Thích Giác Lượng đă góp ư, phê b́nh, khuyến khích và giúp một số tài liệu. Tác giả cũng không quên cám ơn ông Đoàn Văn Hai, nhà giáo và cũng là nhà sưu tầm biên soạn ở Huế đă cung cấp nhiều tài liệu quư giá cũng như đă liên lạc với quư thầy tại chùa Phước Huệ để ghi lại các sự kiện về Sư Phước Huệ để gởi sang.
Tác giả cũng ghi nhận hảo ư của anh Nguyễn Huy Trực ở Cali đă vui ḷng giới thiệu một một số sách một số sách liên hệ đền đề tài Tái Sinh, Luân hồi. Ngoài ra c̣n có nhă ư giới thiệu anh Ngô Văn Hoa ở Montreal dịch giả cuốn Have We Lived beford của Linda Atkinson (1982). Chính dịch giả cũng đă từ Montreal viết thư qua khích lệ khi biết tác giả đang biên soạn cuốn sách này và đă cung cấp khá nhiều tư liệu quư giá.
    
May mắn nhất là những tư liệu tranh ảnh trong công tŕnh biên soạn cuốn Medical Curiosities của hai nhà khoa học George M.Gould (AM.MD) và Walter L.Pyle (AM.MD) do nhà xuất bản Hammond Hoa Kỳ phát hành năm 1983. Đây là những tư liệu tranh ảnh rất có giá trị, giúp góp phần vào sự t́m hiểu và giải đáp về vấn đề Luân hồi nghiệp báo. Những tư liệu đặc biệt của nhà nghiên cức Jeffrey Iverson tŕnh bày những trường hợp có thật về hiện tượng tái sinh cũng như những trường hợp lạ lung mà Đ.Đ. K. Sri Dhammananda thu thập được khắp nơi trên thế giới (Minh Tuệ - 1974). Ngoài ra c̣n nhiều tư liệu tranh ảnh, sách báo trong và ngoài nước ũng được thu thập để minh họa cho đề tài Tiền Kiếp và Hậu Kiếp.
    
V́ nhiều khó khăn trở ngại, chúng tôi không thể tiếp xúc hay liên lạc được với tát cả tác giả của những tác phẩm, những tài liệu mà chúng tôi đă sử dụng, đó là một điều đáng tiếc. Rất mong quư vị hoan hỉ bỏ qua những thiếu sót lớn lao ấy. Tuy nhiên, để được rơ ràng về nguồn gốc tư liệu, chúng tôi luôn luôn ghi chú đầy đủ xuất xứ của những tư liệu ở những đoạn trích đăng hay dưới các tranh ảnh. Các tư liệu trích dẫn c̣n được ghi chú rơ ràng ở phần tài liệu tham khảo nơi cuối sách.
     
Cuốn sách nhỏ này không thể chứa đựng đầy đủ những chi tiết quan trọng. Mặc dầu vậy, chúng tôi cũng hy vọng giúp bạn đọc phần nào có được vài ư niệm về Luân hồi tái sinh.
    
Dù tác giả đă cố gắng thật nhiều trong khi soạn thảo cuốn sách này, nhưng chắc chắn lần xuất bản đầu tiên sẽ có nhiều sai sót. Rất mong được sự sự đóng góp tài liệu và chỉ giáo thêm của quư vị độc giả xa gần để hy vọng lần xuất bản sau được đầy đủ hơn.
     Luân Hồi, Tái Sinh Là Ǵ?
     Luân hồi hay tái sinh là sự chuyển hóa sự sống của một sinh vật qua nhiều kiếp
theo sự tái sinh. Đây chính là triết thuyết tôn giáo được phát triển cách đây đến mấy ngh́n năm. Thuyết này bàng bạc trong dân gian, khắp nơi trên thế giới, ở Ai Cập, Hy Lạp cổ đại, nhất là Ấn Độ. Các tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Do Thái giáo và cả những người theo thuyết thần trí học (theosophy) đều đề cập đến vấn đề này... thuyết luân hồi lan truyền hầu như toàn bộ các nước ở Châu Á. Người Tây phương hiểu luân hồi qua từ Metempsychosis, Tranmission hay Reincarnation. Theo Webster's New World Encylopedia (1992) th́ thuyết luân hồi bao hàm ư nghĩa rằng sau khi chết, linh hồn của loài người cũng như loài vật và ngay cả loài cây cỏ cũng sẽ chuyển sinh từ cơ thể này qua cơ thể khác từ dạng này qua dạng khác tùy theo những ǵ đă gây ra lúc c̣n sống.
     Thuyết luân hồi hay tái sinh có ư nghĩa vô cùng sâu sắc và chi li: mọi sinh vật, sau khi chết sẽ chuyển hóa từ một thân xác này sang một thân xác khác.
Ngay cả loài vật và loài cây cỏ cũng vậy. Luân hồi hay tái sinh (Reincarnation) là sự chuyển hóa hay sự chuyển sinh, đầu thai (transmission) của linh hồn. Nói rơ hơn là khi chết, linh hồn sẽ chuyển từ thân xác này để nhập vào một thân khác. Khi chết thân xác hủy hoại tan ră, chỉ có linh hồn tồn tại.
    
Theo Phật giáo th́ luân hồi, tái sinh là một phản ứng nghịch lại, là một sự báo ứng tự nhiên của mọi hành động. Mỗi hành động đều có những phản ứng dội lại cho hành động gây ra. Chữ luân hồi theo Phật giáo lấy từ Phạn ngữ là Samsàra.
     Con người phải trải qua nhiều kiếp cho đến khi chịu đủ sự trả quả tương xứng về những ǵ đă làm và không tạo nên nghiệp xấu th́ mới mong được tới cơi an lạc mà Phật giáo gọi là cơi Niết Bàn (Nirvana).
Những ai phạm điều xấu, ác th́ khi chết phải đọa vào địa ngục và chịu những sự xử phạt công minh.
     Theo thuyết của Phật giáo có mười nghiệp dữ (sát sinh, trộm cắp, dâm dật, tham muốn, tức giận, si mê) đối lại với mười nghiệp dữ có mười nghiệp lành như không giết hại, không tham lam trộm cắp, không giận hờn, không mê muội...) nếu khi sống tạo nghiệp ác th́ khi chết phải chịu luân hồi tái sinh vào thân phận kẻ chịu khổ đau v́ phải trả cái nghiệp xấu ấy. Nếu khi sống tạo nghiệp lành, th́ khi chết sẽ luân hồi đầu
thai vào thân xác mới có đời sống sung sướng tốt lành hơn. Nói tóm lại tất cả những ǵ mà bản thân đang phải trải qua ở hiện tại chính là kết quả của những nghiệp ǵ mà kiếp trước bản thân đă làm. Và tất cả những ǵ mà hiện tại bản thân hành động th́ đó sẽ là cái nghiệp được tạo lập trong hiện tại để có nghiệp báo ở tương lai tức là sư báo ứng của việc ḿnh làm.
     Các nhà nghiên cứu về thuyết luân hồi tái sinh lúc đầu tưởng rằng thuyết này chỉ phát triển ở các nước Á Châu, nhất là vùng Đông Nam Á. Nhưng dần dần họ khám phá ra rằng không riêng ǵ ở vùng Á Châu mà ở các nước Ai Cập, Hy Lạp cổ đại như nơi vùng ốc đảo xa xăm, thuyết này vẫn bàng bạc trong dân chúng và cả người dân Da đỏ cũng thường tin vào thuyết tái sinh.
Các nhà nghiên cứu hiện tượng luân hồi lúc đầu rất ngạc nhiên về sự trùng hợp lạ lùng của một số lớn người Da đỏ ở Bắc Mỹ Châu giống một số lớn người dân Châu Á về niềm tin có sự tái sinh. Nhưng khi xét về mặt địa lư họ thấy không có ǵ đáng ngạc nhiên v́ thời đại Băng Hà, Á Châu và Mỹ Châu đă dính liền với nhau một cách tạm thời từ hai vùng Tây Bá Lợi Á (Siberia) và Alaska. Lúc bấy giờ người Á Châu đă liên lạc được với vùng Bắc Mỹ qua ngả này và ngay cả một số loài thú cũng vậy. Bác Sĩ Mills đă đưa ra những điểm tương đồng về sự kiện này như sau.
    
Người Tây Tạng tin rằng, v́ Phật Sống Lạt Ma của họ khi qua đời sẽ lại tái sinh để chăm dắt và che chở cho dân tộc họ. Cũng vậy, những người Da đỏ Bắc Mỹ Châu tin rằng vị Tù Trưởng bộ lạc đôi khi chọn sự đầu thai trở lại để giúp đỡ những người trong thị tộc. Ngày nay, một số tôn giáo khác tuy nhiên một số người dân ở đây vẫn c̣n tin vào sự tái sinh. Thường th́ họ suy đoán qua giấc mộng, qua lời nói bất chợt của người trong nhà, nhất là của đứa bé. Sự trùng hợp về h́nh hài, cử chỉ, hiện tượng v.. v... đều được chú ư cẩn thận. Đôi khi họ c̣n tin tưởng rằng người chết hiện về dù trong giấc mộng cũng bao hàm ư tưởng là họ sắp đầu thai trở lại. Đôi khi họ c̣n để ư qua dấu bớt, vết sẹo trên da của trẻ sơ sinh. Nếu giống với dấu vết mà người đă chết trước đó có th́ có thể nghĩ rằng người ấy đă lại tái sinh. Cũng có khi họ quan sát đứa trẻ về cách cư xử, ăn ở của nó. Nếu giống với người đă chết th́ đó là điều đáng quan tâm. Nhiều người trước khi chết thường trối trăn lại lời ao ước muốn hay không muốn được sinh ra lần nữa.
     Ư Nghĩa Sâu Xa Của Hai Chữ Luân Hồi.
    
Chữ luân hồi c̣n được hiểu rộng nghĩa hơn nữa khi nhắc đến thuyết Linh Vật (Animism). Bách khoa tự điển cho field Enterpises Educational corporation (Hoa Kỳ) xuất bản năm 1961 ghi rằng thuyết Linh Vật tin tưởng rằng mọi vật thể trong vũ trụ đều có tính linh và cũng chịu luân hồi nhân quả. Mọi sinh vật đều có linh hồn, Ngay cả con người có vị thế tối cao trong các loài đôi khi vẫn phải tái sinh làm loài thú như ngựa, ḅ heo tùy theo những ǵ mà người ấy đă tạo trước đó. Cái mà người ấy đă gây ra được gọi là nghiệp. Theo D. T. Suzuki nhà tâm lư, triết học nổi danh thế giới, khi nghiên cứu về vấn đề tái sinh từ người qua loài thú đă ghi nhận rằng "cái mà ta gọi là những nghiệp có thể xem như tương đương với những bản tính mà ta thường thấy từ những con vật ấy". Từ đó ông nêu lên những thí dụ như có những con người lúc sống đă có những hành động, cử chỉ, cách sống biểu lộ qua những ǵ gọi là "thói"1 th́ khi chết có thể tái sinh thành con vật có những đặc tính tương tự. Như kẻ phàm ăn, tục tĩu, thô lậu, xấu xa, hèn hạ, dơ bẩn, sau khi chết có thể họ sẽ tái sinh thành loài heo. Trái lại những kẻ khi sống thường ranh mănh mưu lược, ganh tỵ, thâm hiểm, xảo quyệt... sau khi chết có thể chuyển sinh thành chồn cáo, chuột, khỉ. v. v... lư luận này mới nghe qua sẽ không hiếm cho là kỳ quặc mơ hồ. Cũng có lư luận ngược lại rằng những người khi sống có những tướng cách ấy là h́nh ảnh của loài vật thấp hèn ở tiền kiếp. Những thuyết luân hồi tái sinh thật sự đă tŕnh bày sự việc vấn đề một cách chi li, phức tạp như đă nói và ai trong chúng ta dù không tán thành, đồng ư nhưng cũng ít nhất một lần trong cuộc, sẽ tự hỏi tại sao trong đời lại có những người h́nh dáng, cử chỉ, hành động, cách sống giống loài thú? Có người khi nằm ngủ co quắp hay co co rúm lại, có người ngáy vang như sấm, có những đi như rắn ḅ, có người cười như ngựa hí, có kẻ gương mặt luôn luôn nhăn nhó như loài khỉ hay hằn lên nét mặt dữ tợn, với đôi mắt trắng dă, gườm gườm như ác thú. Có người khi ngồi có tư thế như cọp heo hày giọng nói to, sang sảng như tiếng thú gầm vang? Phải chăng đó là những loài thú ở các kiếp quá khứ và hiện tại mang kiếp người nhưng vẫn chưa thoát hẳn một số chi tiết của loài thú? Những kẻ giết người, những kẻ tra tấn người không gớm tay, những đao phủ, luôn cả những đồ tể (những kẻ giết súc vật) phần lớn hiện rơ ác tính trên cử chỉ dáng đi, giọng nói và nhất là gương mặt; thường th́ đi lầm lũi (như cảm nhận được cái xấu xa tàn ác của ḿnh nên không thể biểu lộ được sự thanh thản, yên tĩnh của tâm hồn), đôi tay thường nắm lại, như thủ thế, đặc biệt đôi mắt trắng đă lộ nhăn có nhiều đường gân máu tràn cả ḷng trắng và lan vào tṛng đen. Có điều kỳ dị là những người này gần như hầu hết đều có con mắt lồi hay tṛng đen treo để lộ 3 phần trắng trong mắt gọi là tam bạch đản hoặc xuất phát, biểu lộ ác tính dă man không có chút tính người qua lời nói như năm 1992, tại Hoa Kỳ, tên sát nhân kỳ dị, dă man chuyên ăn thịt người tên là Jeffrey Dahmer mặc dầu bị bắt hắn vẫn không tỏ dấu ăn năn tội lỗi mà c̣n tuyên bố: "Nếu có cơ hội, tôi sẽ giết, phân thây và ăn thịt những ai mà tôi bắt được!"
     Tên sát nhân Jeffrey Dahmer này đă giết 17 người vô tội và ăn thịt rất nhiều người.
     Mặc dầu là một con người nhưng rơ ràng hắn c̣n kém xa thú vật nếu xét về mặt tiến hóa của chủng loại về sự phát triển của tư duy tỉnh cảm.
     Vấn đề thú có thể chuyển sinh làm người hay người có thể chuyển sinh làm thú trong thuyết luân hồi quả báo đă khiến cho thuyết này trở nên bao trùm mọi vật tương tự như thuyết Linh Vật (Animism) theo đó mọi vật đều có tính linh hay linh hồn và chịu sự chuyển sinh của luân hồi, v́ thế những người tin vào thuyết luân hồi thường kiêng ăn thịt v́ hai lư do: Thứ nhất sinh vật đă có sinh, có diệt, có sống có chết tức là có biết đau biết khổ, biết sung sướng th́ tại sao ta lại giết chúng?
Thứ hai sinh vật ta thấy sống trên quả đất có thể là hậu thân của những người nào đó hoặc đôi khi có thể là người thân mang h́nh hài loài thú qua sự chuyển sinh? Tuy nhiên thuyết luân hồi cho rằng sự tái sinh luôn luôn xem như một sự tiến hóa hơn. Ở đây cần phải lưu ư về một số thắc mắc được đặt ra, rằng đă là loài thú th́ làm ǵ có trí óc sáng suốt để nhận ra đâu là tà đâu là chánh đâu là điều lành đâu là điều dữ. V́ thế bảo rằng loài thú gây nghiệp lành hay nghiệp dữ chỉ là sự ngẫu nhiên mà thôi chớ không phải do chủ ư của nó. Điều thắc mắc rơ ràng hữu lư, nhưng nếu nh́n lại ngay cả loài người mà từ lâu ai cũng công nhận là loài sinh vật thượng đẳng có trí óc thông minh hơn tất cả loài vật vẫn không hiếm những con người tàn ác, vô nhân đạo, những con người hoàn toàn vô luân, tay luôn luôn nhúng máu, mắt luôn luôn chỉ muốn thấy cảnh chết chóc và ai thích nghe những lời kêu la thảng thốt, khổ đau của người khác. Những kẻ này có trí óc, có suy nghĩ nhưng không bao giờ có ḷng nhân đạo xót xa. Vậy họ cũng ở cấp độ cao của trí thức, về cấu tạo bộ năo nhưng tại sao họ lại giống loài ác thú? Những kẻ này xét cho cùng c̣n thua loài vật v́ có nhiều loài vật rất hiền lành. Về ư niệm tái sinh luân hồi từ cấp độ thấp tới cấp độ cao theo sự tiến hóa từ lâu đă được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm. Nhà sinh vật học Charles Darwin nêu thuyết tiến hóa của sinh vật theo đó sinh vật tiến hóa từ tŕnh độ thấp đơn giản dần dần đến tŕnh độ cao hơn và phức tạp hơn theo nhu cầu, cuộc sống và môi trường sống. Tuy nhiên nhà khoa học chỉ nghiên cứu căn cứ phần lớn vào những ǵ có tính cách thuần vật chất về cấu tạo, dạng thể của các cơ quan cơ thể cùng liên hệ với các hiện tượng sinh lư, sinh hóa chớ không đi sâu vào lĩnh vực luân lư đạo đức, tâm linh sâu xa hơn như thuyết luân hồi chuyển kiếp tái sinh. Charles Darwin nhận thấy rằng những sinh vật như cá, rùa, ếch, chim, sư tử, ḅ, ngựa, khỉ, người đều có dạng thể phôi (Rmbryos) đầu tiên tương tự nhau.
     Nhà khoa học chỉ thấy rơ sự tiến hóa từ "vạn vật đồng nhất thể" ấy qua sự tiến hóa mà thành nhiều hướng để phát sinh ra các loài, họ, bộ, giống, ngành sinh vật khác nhau mà không chú tâm nghiên cứu cái nguyên nhân sâu xa tiềm ẩn bên trong và trước đó ở mỗi sự vật. Thuyết tiến hóa như thế chỉ phát họa được rằng: "con người như là một toàn thể đă trải qua nhiều giai đoạn tiến hóa. Trong khi thuyết luân hồi cho thấy sự chuyển hóa để thành con người phải trải qua nhiều giai đoạn của sự tái sinh có liên quan nhiều đến những ǵ thuộc về tâm linh và luân lư cùng sự thưởng phạt công minh giống như những định luật tự nhiên trong vũ trụ. Mỗi con người trước khi trở thành toàn hảo, hoàn thiện để vào cảnh giới an lạc phải trải qua nhiều kiếp chuyển hóa tái sinh. Trong các lần chuyển sinh ấy sẽ có những kiếp khác nhau; khi th́ loài vật, khi th́ loài người, khi chuyển sinh thành loài vật, có thể họ phải trải qua nhiều kiếp như khi th́ loài này khi th́ loài
kia tùy theo cấp độ của nghiệp quả. Qua các tài liệu kinh Phật giáo th́ đức Phật Thích Ca, trước khi thành Phật, ngài đă phải chuyển sinh qua nhiều kiếp.
     Cũng
theo thuyết luân hồi th́ khi c̣n là kiếp thú, kiếp thú này cũng có hạn định của nó. Hạn định này tùy thuộc vào những ǵ mà nghiệp quả trước đó đă quy định trong thời gian bao lâu để trải qua. Cùng là một loài vật nhưng cũng vẫn có những con khác nhau về cách sống. Nhưng cùng là một loài chó, vậy mà có con rất trung thành, hiền lành, từ tốn. Trái lại có con rất hung dữ, phản chủ, nhác lười, tham ăn...
     Chúng ta từ nhỏ thường đă từng nghe kể chuyện con chó trung thành nọ rất thương chủ, thường ngày ra ga đón chủ về.
Nhưng sau đó chủ nó không trở về nữa v́ bị pháo kích chết trong một chuyến đi. Con chó không biết chủ đă chết, vẫn ngày ngày đến sân ga đón chủ. Suốt mấy tháng trời, con chó buồn bả một cách lạ thường bỏ ăn bỏ ngủ và sau đó gục chết ở trên đường tới nhà ga. Người dân trong vùng vô cùng thương tiếc nên đă chôn cất và xây cho nó một nấm mồ với tấm bia mộ ghi câu "đây là nơi an nghỉ cuối cùng của con chó trung nghĩa".
     Tùy
theo bản tính riêng biệt ở mỗi con vật mà luật luân hồi tái sanh quy định cho chúng sự chuyển sinh vào một kiếp nào đó theo đúng với sự thưởng phạt hoàn toàn vô tư và công b́nh. Dù mèo, chó, chim chóc, cây cối...các chủng loại này ở cạnh nhau, gần gũi nhau từ thời đại này qua thời đại khác và chẳng có ǵ là đáng ngạc nhiên khi chúng ta và ngay cả những đứa bé mới hiểu biết cũng vẫn cảm thấy rơ ràng là có sự tự nhiên, quen thuộc và hầu như gần gũi với tất cả những sinh vật xung quanh ta với mọi chủng loại. Phải chăng điều đó nói lên rằng ta và những sinh vật ấy đă có sự liên hệ vô h́nh nào đó ràng buộc? Phải chăng chúng có cùng một bản tính với ta là cùng sinh ra, lớn lên, bệnh (sâu, bệnh) dinh dưỡng (ăn, uống, hô hấp, bài tiết) sinh sản rồi chết là do ta và chúng đă có lần chuyển sinh cho nhau từ muôn ngàn kiếp trước và sẽ c̣n gặp gỡ ở những kiếp lai sinh? Thế gian, vạn vật đồng nhất thể đă một phần thể hiện ở đó. Nh́n mọi loài vạn vật chung quanh chúng ta mới thấy được những h́nh thức tiến hóa quy tụ cả trên thế gian này giống như trong một trường học có vô số học sinh nhưng khác nhau về tŕnh độ tri thức, số năm học, lớp học, môn học...
     Bên ngoài là toàn thể ngôi trường và toàn thể học sinh nhưng bên trong tiềm tàng sự chuyển động, vận hành của vấn đề học vấn, về sự tiến hóa của kiến thức, học hỏi và tŕnh độ ngày càng cao của các học sinh.
Nếu các học sinh chuyên tâm học hỏi th́ vào thời gian nào đó họ sẽ được chuyển dần lên lớp mới và ra trường, họ sẽ không c̣n phải học ở trường đó nữa. Chỉ có những học sinh nào nhác lười, ham chơi, hạnh kiểm xấu, học kém th́ những học sinh ấy mới dễ bị thi hỏng, ở lại lớp chậm ra trường... Tất cả những h́nh ảnh vừa kể là biểu tượng của h́nh ảnh về sự tiến hóa của những kiếp.
     Ngay trong một kiếp sống của ta, nếu t́m hiểu kỹ và suy luận
theo thuyết luân hồi th́ (theo D.J.Suziki) cũng thấy được một cách khá rơ ràng những giai đoạn tương ứng với những cơi mà suốt trong vô lượng kiếp ta đă phải và sẽ trải qua. Daisetz Teitaro Suzuki đă viết trong cuốn Mysticism Christian and Buddisht một đoạn về nhận định này với đại ư như sau: "qua những kinh nghiệm hàng ngày của mỗi con người chúng ta, nếu lưu tâm để ư chúng ta sẽ thấy ngay trong cuộc sống của đời ḿnh có tất cả những ǵ mà ta có thể kinh nghiệm được bằng cách đi qua một hạn kỳ về tái sinh dài. Những ǵ mà chúng ta có được hay gặp phải khi đang c̣n sống đều thấy có sự tương đồng với nó ở một nơi nào đó ở cơi thanh cao tốt đẹp là chốn thiên đàng dưới hỏa ngục hoặc ở những nơi khác như cơi ngạ quỉ súc sanh. Khi ta vui vẻ hớn hở, hạnh phúc chính là điều tương ứng với cơi thiên đàng, c̣n khi ta đau khổ, gặp hiểm nguy, tai họa khốn cùng là như ta đă rơi vào cơi địa ngục. Khi ta tức giận, nộ khí xung thiên là như ta đă đi vào cơi A - tu - la rồi vậy..."
     Viviane Contri khi tŕnh bày vấn đề đầu thai trong tạp chí Madame actuelle số 254 đă viết như sau:
     "Thời gian trải qua do sự đầu thai ở mỗi linh hồn thường khác biệt nhau, tu nhiên trung b́nh một linh hồn đầu thai khoảng mỗi 250 năm.
Giữa thời gian này, mỗi linh hồn sẽ nh́n lại kiếp sống đă qua và từ đó sẽ chọn lựa một cách lư tưởng cho cuộc tái sinh kế tiếp."
     Theo Jean Francis Crolart, nhà nghiên cứu về hiện tượng luân hồi và là tác giả cuốn sách nổi tiếng nhan đề: "Tái sinh sau khi chết đă ghi nhận rằng:
     "Kiếp sống hiện nay của mỗi con người chúng ta tùy thuộc nhiều kiếp sống trước đây (tiền kiếp) nhưng chính từ kiếp sống hiện tại sẽ đặt nền tảng và tiền đề cho kiếp sống ở tương lai hay hậu kiếp.
     Vai Tṛ Của Linh Hồn Trong Sự Luân Hồi Tái Sinh.
    
Câu hỏi từ ngàn xưa đă được đặt ra là cái ǵ đă giúp cho sự luân hồi chuyển sinh được thực hiện, phải chăng đó là linh hồn? Nhưng linh hồn thật sự có hay không? Nếu có th́ linh hồn là ǵ? Linh hồn hiện hữu hay vô h́nh?
     Từ thời cổ đại con người đă tin rằng: ngoài thân xác ra, con người c̣n có linh hồn.
Linh hồn là phần linh diệu thâm sâu nhất. Khi chết, thân xác trở nên bất động và đi vào hủy diệt c̣n linh hồn th́ rời khỏi thân xác.
     Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh th́ Hồn là phần tinh thần hay Linh tính của con người, là ư thức, tư tưởng của con người.
     Người Âu Mỹ gọi linh hồn qua từ Âme, soul (Pháp, Anh,
Mỹ) hay psyché (Hy Lạp) hoặc seel (Đức). Từ Âme được giải thích là nguyên lư của sự sống, của tư tưởng hay của tất cả hai, khi nguyên lư được xem như là một thực tại khác biệt với thể xác, qua đó hồn hoạt động. Thực tại ấy có thể xem là vật chất hay không vật chất.
     Theo người Daisetz Teeitaro Suzuki th́ linh hồn không thể được khái niệm như là một thực thể hay một đối tượng như bất cứ một đối tượng nào khác mà ta đă thấy quanh ta.
Linh hồn không thể là cái có h́nh dạng hoặc có thể thấy được qua mắt người... bởi v́ nếu là hữu h́nh th́ làm sao linh hồn đi vào thể xác được?
    
Đối với người Hy Lạp th́ linh hồn chính là cái tinh thần có nhiệt, cái giúp ta cử động hô hấp.
    
Theo Tự điển và Danh từ triết học của Trần Văn Hiến Minh th́ Hồn là nguyên sinh lực hội tụ nơi sinh vật. Linh hồn là cái yếu tố quyết định quan trọng. Nhờ linh hồn mà sinh vật mới có sự sống. Từ thời cổ đại xuất hiện thuyết nói về linh hồn đó là thuyết vạn vật linh (hay thuyết linh hồn nguyên thủy: Animism). Theo thuyết này th́ tất cả mọi thứ trên quả đất từ con người đến con thú và ngay cả cỏ cẩy đất đá cũng đều có linh hồn. Quan niệm này c̣n bàng bạc trong dân gian và ta cũng đă thường gặp lại trong các câu như: "Hồn thiêng sông núi" "Hồn nước"... Ngày nay, một số lớn người Á Châu, Phi Châu, Úc Châu và nhất là các thổ dân vùng Hải đảo vẫn c̣n tin tưởng về thuyết đó. Tuy nhiên, tùy theo tôn giáo, phong tục, tập quán mỗi quốc gia mà sự tin tưởng của mỗi dân tộc có vài khác biệt, nhưng phần chính yếu th́ vẫn giống nhau đó là sự tin tưởng rằng có linh hồn. Người Việt Nam và Trung Hoa c̣n chịu ảnh hưởng nhiều của nền văn hóa cổ xưa, họ quan niệm rằng con người có ba hồn. Ba thứ hồn ấy là:Sinh hồn: phần đem lại sinh hoạt lực cho thể xác. Giác hồn: giúp thu nhận và thể hiện các cảm giác và những phản ứng. Linh hồn: là phần quan trọng nhất, đây là phần thâm sâu vi điệu nhất của con người và cũng chính nhờ phần này mà sự luân hồi, đầu thai, chuyển sinh được thực hiện thuận lợi.
     Đối với người Ai Cập th́ khi chết linh hồn sẽ thoát khỏi thể xác như chim bay v́ thể họ dùng h́nh ảnh một phi điểu biểu tượng cho linh hồn thể xác th́ tan ră nhưng linh hồn th́ tường tồn và chuẩn bị chuyển vào một cuộc sống mới khác qua mo6t thân xác khác.
    
Việc ướp xác của người Ai Cập phần lớn chủ đích muốn duy tŕ sự liên hệ giữa linh hồn và thân xác được lâu dài.
    
Đối với người Tây Tạng th́ hồn là phần linh diệu trú ngụ trong một phần gọi là thân xác. Thể xác chỉ có cái vỏ cho hôn trú ngụ mà thôi. Hồn và xác liên hệ nhau qua một thể giống như sợi dây đặc biệt có từ tính. Khi sợi dây ấy đứt chính là lúc hồn ĺa khỏi xác.
    
Đối với các nhà triết học th́ từ cổ đại, một số nhà triết học như Platon, Pythagore, Hereclite. Empedocles, Aristote Epicure đề có nghiên cứu và đề cập nhiều đến linh hồn và coi linh hồn như là một thể quan trọng trong sự chuyển hóa đời sống. Về sau có Plotin, Descartes, Pascal, Shopenhauer, Ralph Waldl Emerson, Frederic William Henry Myers... tiếp nối sự nghiên cứu, t́m hiểu cũng như tin tưởng vào sự hiện hữa của linh hồn.
     Plotin tin rằng: con người phạp tội, khi chết linh hồn rời khỏi thân xác sẽ nhập vào một cơ thể khác để trải qua một kiếp sống khác nhằm trả nợ những tội lỗi, sai lầm mà người ấy đă gây ra trước đó. Như vậy,
theo Plotin th́ sự tái sinh hay đầu thai phát sinh là do ở tội lỗi mà ra. Chính những sai lầm, những hành động từ trước của ta đă gây ra những trừng phạt kế tiếp mà ta phải trả.
     D. T. Suzuki ghi nhận rằng: sau khi chết, linh hồn sẽ chuyển từ một thân xác này sang một thân xác khác thuộc cơi thiên, nhân, động vật, thực vật...
     Đối với c tôn giáo th́ mặc dầu có khác nhau về lư thuyết nhưng hiếm có tôn giáo nào phủ nhận về linh hồn.
    
Theo Ấn Độ giáo th́ linh hồn là thực thể vô cùng quan trọng đối với mọi vật thể sống. Linh hồn được gọi là Atman và do đấng toàn năng Brahma tạo ra. Theo Ấn Độ giáo th́ tất cả mọi loài sống trên quả đất này đều có linh hồn. Linh hồn bất sinh bất diệt. Linh hồn giúp sự tái sinh chuyển hóa. Linh hồn chuyển hoán từ thân xác này qua thân xác khác để trải qua một kiếp sống khác, cứ thế cho đến khi đạt được điều kiện để hợp nhất hay liên kết với Brahma mới thôi. Brahma được hiểu như linh hồn của vũ trụ.
     Theo quan niệm của
Ky Tô giáo th́ con người là một linh hồn và v́ con người là một linh hồn nên khi chết, linh hồn cũng sẽ chết theo. Như vậy đối với Ky Tô giáo, linh hồn hiện hữa nhưng nhưng linh hồn không thể biệt lập và riêng tư đối với thể xác. Tuy nhiên cần lưu ư là, theo quan niêm Ky Tô giáo th́ "linh hồn nào phạm tôi th́ sẽ chết (Ê Xê Chiên 18: 4 và 20) và đến ngày phán xét: "mọi người trong Mồ Mả nghe tiếng ngày và ra khỏi: ai làm lành th́ sống lại để được sống, ai làm ác th́ sống lại để bị xét đoán... (Giăng 5: 28 - 30). Như thế, khi một linh hồn chết đi (người là một linh hồn) th́ có thể trong tương lai, trong này phán xét, linh hồn ấy sẽ sống lại và qua sự phán xét của Đấng tối cao, sẽ được sống đời đời hay chết vĩnh viễn.
     Đối với Khổng giáo th́ con người là kết hợp của thể các, hồn, khí và phách. Phách hay vía, không phải là thể xác (như thể xác đối với tinh thần, mà là những nguyên lư của sự sống nhưng hạ đẳng.
Không thể xem phách là thể xác (corps) được, những thành ngữ phổ biến trong dân gian chứng minh điều đó. Như vía độc: fluide vital irefacte đốt vía (để trừ khử hơi hay khí độc, hay xui xẻo, hay: hồn phi phách lạc (hồn hay phách, hay vía, hay khí rơi: hoảng hốt, sợ hăi (I'ame s'envole, le suoffle tombe, épouvanté)... khi chết, chỉ có h́nh hài tan ră, c̣n cái khí tinh anh sẽ vào trong vũ trụ.
     Riêng đối với Phật giáo th́ sinh vật, nhất là con người, có cái năng lực
vi diệu được chuyển từ kiếp này qua kiếp khác. Cái năng lực ấy được gọi là Yid Kyi Mawpar Shespa, một danh từ ất đặc biệt phức tạp mà thông thường được hiểu như cái gọi là Linh Hồn. Hai chữ linh hồn đối với quan niệm Phật giáo thật ra chỉ là danh từ tạm dùng mà tạm hiểu cho thuyết luân hồi chuyên hóa của kiếp người theo luật Karma (nghiệp) để người b́nh dân dễ lĩnh hội mà thôi. V́ con người thường hiểu nhầm chữ Linh Hồn với Thân Trung Ấm hay Thân Thức là phần ĺa khỏi thân xác sau khi chết. Tuy nhiên, để dễ hiểu khi giải thích sự chuyển hóa của hiện tượng luân hồi, tái sinh, linh hồn được xem như cái cầu nối, là cái chuyển sinh là cái để đầu thai, trả nghiệp. V́ thế nhiều sách Phật giáo thỉnh thoảng vẫn thấy bóng dáng chữ Hồn hay Linh Hồn v́ một phần nào để giản dị hóa cho vấn đề là con người sau khi chết sẽ lại tái sinh tùy theo những ǵ mà người ấy đă gây ra trước đó.

Trang   [1]   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13  


Về lại mục lục của trang Sưu Tầm




Copyright © 2011 - Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học HOÀNG DIỆU Ba Xuyên - Bắc California - All rights reserved